CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG 1.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng 1.1 Lịch sử phát triển và định nghĩa chuỗi cung ứng Trong những thập niên giữa 1950 và 1960, các công ty của Hoa Kỳ đã áp dụng nhiều công cụ để giảm thiểu chi phí và cải thiện năng suất, trong khi ít chú ý đến việc tạo ra mối quan hệ với nhà cung cấp, cải thiện việc thiết kế quy trình và tính linh hoạt, hoặc cải thiện chất lượng sản phẩm. Việc thiết kế và phát triển sản phẩm mới diễn ra chậm chạp và lệ thuộc chủ yếu vào nguồn lực nội bộ, công nghệ. Chia sẻ công nghệ và chuyên môn thông qua sự cộng tác chiến lược giữa người mua và người bán là một thuật ngữ hiếm khi nghe giai đoạn bấy giờ. Các quy trình sản xuất không được chú trọng hàng đầu do tồn kho nhằm để duy trì máy móc vận hành thông suốt và quy trình cân đối dòng nguyên vật liệu, điều này dẫn đến tồn kho trong sản xuất tăng cao.
Trong thập niên 1960 và 1970, hệ thống hoạch định nhu cầu nguyên vật liệu (MRP – Material Requirements Planning) và hệ thống hoạch định nguồn lực sản xuất (MRPII – Manufacturing Resource Planning) được phát triển. Những hệ thống này cho phép các doanh nghiệp nhận thấy được tầm quan trọng của quản trị nguyên vật liệu. Họ có thể đánh giá được mức độ tồn kho trong sản xuất, lưu giữ và vận chuyển. Cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, đặc biệt là máy tính làm gia tăng tính tinh vi của các phần mềm kiểm soát tồn kho dẫn đến làm giảm đáng kể chi phí tồn kho trong khi vẫn cải thiện truyền thông nội bộ về nhu cầu của các chi tiết cần mua cũng như nguồn cung.
Thập niên 1980 được xem như là thời kỳ bản lề của quản trị chuỗi cung ứng. Thuật ngữ quản trị chuỗi cung ứng lần đầu tiên sử dụng một cách rộng rãi trên nhiều tờ báo cụ thể là ở tạp chí O. Webber, “Supply-Chain Management: Logistics Catches Up with Strategy,” Outlook - 1982. Cạnh tranh trên 12 thị trường toàn cầu trở nên khốc liệt vào đầu thập niên 1980 (và tiếp tục đến ngày nay) gây áp lực đến các nhà sản xuất phải cắt giảm chi phí nâng cao chất lượng sản phẩm cùng với việc gia tăng mức độ phục vụ khách hàng.
Các hãng sản Luan van 9 xuất vận dụng JIT và chiến lược quản trị chất lượng toàn diện (TQM) nhằm cải tiến chất lượng, nâng cao hiệu quả sản xuất và thời gian giao hàng. Trong môi trường sản xuất JIT với việc sử dụng ít tồn kho làm đệm cho lịch trình sản xuất, các doanh nghiệp bắt đầu nhận thấy lợi ích tiềm tàng và tầm quan trọng của mối quan hệ chiến lược và hợp tác của nhà cung cấp - người mua - khách hàng. Khái niệm về sự cộng tác hoặc liên minh càng nổi bật khi các doanh nghiệp thực hiện JIT và TQM. Khi cạnh tranh ở thị trường Mỹ gia tăng nhiều hơn vào thập niên 1990 kèm với việc gia tăng chi phí hậu cần và tồn kho cũng như khuynh hướng toàn cầu hóa nền kinh tế làm cho thách thức của việc cải thiện chất lượng, hiệu quả sản xuất, dịch vụ khách hàng, thiết kế và phát triển sản phẩm mới cũng gia tăng.
Để giải quyết với những thách thức này, các nhà sản xuất bắt đầu mua sản phẩm từ các nhà cung cấp chất lượng cao, có danh tiếng và được chứng thực. Hơn nữa các doanh nghiệp sản xuất kêu gọi các nhà cung cấp tham gia vào việc thiết kế và phát triển sản phẩm mới cũng như đóng góp ý kiến vào việc cải thiện dịch vụ, chất lượng và giảm chi phí chung. Mặt khác, các công ty nhận thấy rằng nếu họ cam kết mua hàng từ những nhà cung cấp tốt nhất cho hoạt động kinh doanh của mình thì đổi lại họ sẽ hưởng lợi gia tăng doanh số thông qua sự cải tiến chất lượng, phân phối và thiết kế sản phẩm cũng như cắt giảm chi phí nhờ vào việc quan tâm nhiều đến tiến trình, nguyên vật liệu và các linh kiện được sử dụng trong hoạt động sản xuất. Nhiều liên minh giữa nhà cung cấp và người mua đã chứng tỏ sự thành công của mình.
Khái niệm toàn cầu hóa đã mang đến một sự lôi cuốn mạnh mẽ về quản lý chuỗi cung ứng nhằm gia tăng lợi thế cạnh tranh, giá trị tăng thêm và giảm chi phí. Toàn cầu hóa mang lại sự cạnh tranh từ nước ngoài vào thị trường truyền thống địa phương. Do vậy, hầu hết các công ty địa phương buộc phải phản ứng lại bằng cách cải thiện hoạt động sản xuất và quản lý chuỗi cung ứng (Ericsson, Key to success in the digital economy, 2001). Cho đến nay, đã có rất nhiều khái niệm, định nghĩa khác nhau về chuỗi cung ứng: “Chuỗi cung ứng là sự liên kết các Công ty nhằm đưa sản phẩm hay dịch vụ vào thị trường” – “Fundaments of Logictics Management” của Lambert, Stock và Luan van 10 Ellram ( Boston MA: Irwin/McGraw – Hill, 1998).
Theo tác giả Sunil Chopra và Peter Meindl: “Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp mà còn bao gồm cả nhà vận chuyển, kho bãi, người bán lẻ và bản thân khách hàng. Trong mỗi tổ chức, như nhà sản xuất, chuỗi cung ứng bao gồm (nhưng không giới hạn) việc phát triển sản phẩm mới, marketing, điều hành sản xuất, phân phối, tài chính và dịch vụ khách hàng” (Sunil Chopra và Peter Meindl , Supply chain management: Strategy, planning and operation, 2001) Hay như theo hai chuyên gia Ganeshan & Harrison thì “Chuỗi cung ứng là một chuỗi hay một tiến trình bắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi sản phẩm làm ra hay dịch vụ tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn về phân phối và các phương tiện để thực hiện thu mua nguyên liệu, biến đổi các nguyên liệu này qua khâu trung gian để sản xuất ra sản phẩm, phân phối sản phẩm này tới tay người tiêu dùng” (Ganeshan & Harrison, Introduction to Supply Chain Management, 1995).
Trong cuốn sách The evolution of Supply Chain Management Model and Practice của đồng tác giả Lee & Billington nêu rằng “Chuỗi cung ứng là hệ thống các công cụ để chuyển hóa nguyên liệu thô từ bán thành phẩm tới thành phẩm, chuyển tới người tiêu dùng thông qua hệ thống phân phối” (The evolution of Supply Chain Management Model and Practice – Lee & Billington). Theo Hội đồng tổ chức chuỗi cung ứng (2010), chuỗi cung ứng bao gồm mọi hoạt động liên quan đến việc sản xuất và phân phối một sản phẩm hoặc dịch vụ hoàn chỉnh, bắt đầu từ nhà cung cấp đầu tiên cho đến khách hàng cuối cùng. Theo Micheal Porter (1990), chuỗi cung ứng là một quá trình chuyển đổi từ nguyên vật liệu thô cho tới sản phẩm hoàn chỉnh thông qua quá trình chế biến và phân phối tới tay khách hàng. Tác giả Stadtler mô tả trực quan chuỗi cung ứng qua việc xây dựng ngôi nhà quản lý chuỗi cung ứng đồng thời cũng đề cập đến ma trận hoạch định chuỗi cung ứng bao gồm: Việc thu mua, sản xuất, vận chuyển, phân phối và kinh doanh (Nguyễn Xuân Tiến, 2013) Luan van 11 Thu mua Sản xuất Phân phối Bán hàng Procurement Production Distribution Sales Lập kế hoạch mạng lưới chiến lược Dài Strategic network planning hạn Lập kế hoạch tổng thể Trung Master planning hạn Lập kế hoạch yêu cầu Lập kế hoạch sản Lập kế hoạch Lập kế hoạch nguyên vật liệu & mua xuất phân phối nhu cầu sắm Production Distribution Demand Purchasing and Planning Planning Planning Ngắn Material Planning hạn Thời gian biểu Lập kế hoạch Thực hiện Scheduling vận chuyển đáp ứng nhu Transport cầu Planning Demand Fulfillment Hình 1.1 Ma trận kế hoạch chuỗi cung ứng (Supply chain planning mattrix) Nguồn: Nguyễn Xuân Tiến, 2013 Qua các định nghĩa trên, có thể thấy ba quan điểm khác nhau về chuỗi cung ứng.
Quan điểm thứ nhất thì cho rằng chuỗi cung ứng là một chuỗi linh hoạt các sự kiện bằng cách nào đó quản lý để đưa sản phẩm ra ngoài và nó thường liên quan đến vấn đề dự báo hàng tồn kho, kế hoạch sản xuất khắt khe và lịch trình vận chuyển theo giả thiết. Quan điểm thứ hai cho rằng chuỗi cung ứng là luồng nguyên liệu, thông tin, tài chính, dịch vụ từ những nhà cung cấp nguyên liệu thô đến các nhà máy, kho hàng và khách hàng. Thuật ngữ chuỗi cung ứng được hình thành từ khái niệm liên kết các tổ chức với nhau để hoạt động có hiệu quả nhất. Chuỗi cung ứng bao gồm các tổ chức và các quá trình để tạo ra và phân phối sản phẩm, thông Luan van 12 tin và dịch vụ đến khách hàng cuối cùng.
Quan điểm thứ ba cho rằng chuỗi cung ứng là thông qua các liên kết giữa kênh nguồn với kênh tiếp theo, một một mạng lưới các tổ chức cùng tham gia hợp tác với nhau, trong các quy trình khác nhau cũng như các hoạt động tạo ra giá trị bằng hình thức là một sản phẩm hay dịch vụ đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Như vậy, các quan điểm trên đều quan niệm chuỗi cung ứng của một mặt hàng là một quá trình bắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi tạo thành sản phẩm cuối cùng và được phân phối tới tay người tiêu dùng nhằm đạt được hai mục tiêu cơ bản, đó là tạo mối liên kết với nhà cung cấp của các nhà cung ứng và khách hàng của khách hàng vì họ có tác động đến kết quả và hiệu quả của chuỗi cung ứng; hữu hiệu và hiệu quả trên toàn hệ thống. Hay nói theo cách khác thì chuỗi cung ứng là sự liên kết các công ty từ giai đoạn cung ứng nguyên vật liệu đầu vào cho đến chế biến và cung ứng sản phẩm đến tay người tiêu dùng. Sự tham gia của các công ty vào chuỗi cung ứng không chỉ đơn thuần là các nhà sản xuất, nhà cung cấp, nhà phân phối có liên quan một cách trực tiếp, mà còn là các công ty liên quan gián tiếp cung cấp các dịch như công ty vận tải, công ty cung cấp mạng lưới thông tin, công ty tư vấn.
Một cách tổng quát hơn nữa, chuỗi cung ứng là một chuỗi các hoạt động được kết nối với nhau (bao gồm cả hoạt động vật chất và hoạt động ra quyết định) bởi dòng chảy hàng hóa, dòng chảy thông tin cũng như dòng chảy tài chính.2 Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng.