CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ Ý NGHĨA 1. Lý luận chung về quản trị chuỗi cung ứng Ngày nay với việc thương mại toàn cầu hóa mà Việt Nam là nơi doanh nghiệp là chủ đầu tư và giao thương với các nước trên thế giới. Trong quá trình thương mại đó đòi hỏi sự thành công là tiêu chí hàng đầu trong mọi doanh nghiệp. Nó đòi hỏi doanh nghiệp phải tham gia vào công việc kinh doanh của nhà cung cấp, cũng như khách hàng của nó.
Điều này yêu cầu doanh phải đáp ứng được hàng hóa, sản phẩm về chất lượng, dịch vụ. Yếu tố mà khách hàng quan tâm đến là dòng dịch chuyển của nguyên vật liệu, mẫu mã thiết kế, đóng gói sản phẩm, dịch vụ của nhà cung cấp, cách thức vận chuyển và bảo quản sản phầm ở khâu hoàn thành mà người tiêu dùng sản phẩm và khách hàng tiêu thụ cuối cùng nhận sản phẩm thực sự cần biết. Trước bối cảnh cạnh tranh tàn khốc như ở thị trường toàn cầu hiện nay, việc giới thiệu sản phẩm mới với dòng đời ngắn hơn, cùng với mức kỳ vọng của khách hàng ngày càng cao đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải đầu tư và tập trung vào chuỗi cung ứng sản xuất sản phẩm của đó. Sự tiến bộ về kỹ thuật, công nghệ và vận tải (ví dụ như về công nghệ truyền thông: internet, sử dụng điện thoại di động và hệ thống phân phối hàng suốt ngày đêm) đã góp phần phát triển của chuỗi cung ứng và kỹ thuật để quản lý nó.
Khái niệm về chuỗi cung ứng xuất hiện từ những năm 60 của thế kỉ XX, nghĩa là có trước khi bắt đầu xuất hiện khái niệm logistics (business logistics). Khi đó, chuỗi cung ứng là đơn lẻ, nhưng khi người ta kết hợp cả việc cung ứng vật tư, kỹ thuật, nguyên vật liệu. Với việc phân phối sản phẩm, việc xây dựng các chuỗi cung ứng mang một bộ mặt khác, nó là một phần không thể thiếu được khi nghiên cứu và áp dụng logistics. Chuỗi cung ứng có thể hình dung như một đường ống hay một cái máng dùng dòng chảy của sản phẩm, vật tư, dịch vụ, thông tin và tài chính từ nhà cung ứng qua nhiều tổ chức, Công ty trung gian cho đến tận người tiêu dùng.
4 Như vậy một chuỗi cung ứng sẽ bao gồm các đơn vị tham gia với những dịch vụ logistics cụ thể. Khi logistics ra đời và phát triển ở nhiều công ty – mà dạng đơn giản nhất của logistics là sự sát nhập cung ứng vật tư (inbound logistics) vào phân phối sản phẩm (outbound logistics), cùng với quan điểm giá thành tổng thể, quan điểm chuỗi giá trị cũng được đưa vào xem xét. Quan niệm này đặc biệt quan trọng trong quản trị logistics. Những năm 90 của thế kỉ XX, với sự phát triển của logistics, các chuỗi cung ứng hiện đại hình thành và phát triển mạnh ở nhiều công ty.
Theo hình vẽ trên, một chuỗi cung ứng hợp nhất nối liền từ người cung cấp đến người bán lẻ-người tiêu dùng thông qua một loạt các đơn vị liên quan như nhà phân phối, người sản xuất (nhà máy), người bán buôn, nhằm quản trị ba dòng là: sản phẩm dịch vụ (hàng hóa lưu thông), thông tin liên quan và cả về mặt tài chính. Hiện nay, việc thiết kế và áp dụng các chuỗi cung ứng cụ thể là những đối tượng của nghiên cứu và ứng dụng. Trong việc thiết kế chuỗi cung ứng, ngoài việc thiết lập lộ trình cụ thể của hàng hóa dịch vụ cần cung ứng, người ta phải thiết lập những mối liên hệ chi tiết giữa các đơn vị tham gia vào chuỗi để việc cung ứng phải đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, trong đó việc giao đúng hẹn (in time) là hết sức quan trọng. Việc tính toán, xác định chi phí toàn bộ cho sản phẩm qua chuỗi cũng là những vấn đề mấu chốt của quản trị chuỗi, vì lợi ích mà logistics đem lại là nhờ một phần vào việc này.
Để làm được những việc trên cần phải theo dõi và quản lý thông tin trên toàn chuỗi một cách hệ thống. Đo lường kết quả thực hiện và phân tích tài chính của chuỗi cung ứng là những việc làm hết sức quan trọng trong quản trị chuỗi, và lập chiến lược, kế hoạch của chuỗi. Người ta có thể tiến hành đo lường công việc của chuỗi cung ứng thông qua những chỉ tiêu thuộc 4 nhóm sau: thời gian, chất lượng, giá thành và bổ trợ khác. Có thể chi tiết như sau: Thời gian: Giao- nhận hàng đúng hẹn (có thể tính bằng %)/Thời gian xử lý một 5 đơn hàng (quay vòng)/Sự biến động thời gian xử lý một đơn hang/Thời gian đáp ứng/Thời gian quay vòng theo dự kiến- kế hoạch.
Chất lượng: Sự thỏa mãn hoàn toàn của khách hang/Tác nghiệp chính xác/Hoàn thành đơn hang/Làm đúng với lịch trình. Giá thành: Quay vòng dự trữ thành phẩm/Thanh toán chậm/Chi phí phục vụ/Thời gian chu kì xuất tiền-thu tiền (liên quan đến dòng tiền – cash flow- của chuỗi)/Tổng chi phí giao hàng /Chi phí khác. Chỉ tiêu khác-bổ trợ: Tiêu chuẩn loại bỏ đơn hàng/Khả năng thông tin Một số khái niệm – Quản trị chuỗi cung ứng (Supply Chain Management – SCM) từ nhiều nhà kinh tế cũng như các tổ chức quốc tế đã đưa ra nhiều khái niệm về quản trị chuỗi cung ứng như sau: Ủy ban quản lý Logistics (Council Logistics Management – CLM), một trong những tổ chức chuyên nghiệp về Logistics đã dùng thuật ngữ quản trị chuỗi cung ứng để nói lên: “Quá trình lập kế hoạch, thực hiện và quản lý dòng luân chuyển và lưu kho hàng hóa, dịch vụ và thông tin liên quan của một mặt hàng nào đó từ điểm khởi đầu đến nơi tiêu thụ nhằm thỏa mãn yêu cầu của khách hàng”. “Quản trị chuỗi cung ứng là sự hợp nhất các dòng thông tin và các hoạt động có liên quan tới vòng đời của sản phẩm từ nguyên liệu thô đến khâu sản xuất và phân phối tới người tiêu dùng thông qua việc cải thiện mối quan hệ trong chuỗi để tạo lợi thế cạnh tranh.” – (Introduction to Supply Chain – Handfield và Nichols 1994) Theo Hau Lee và đồng tác giả Corey Billington trong bài nghiên cứu thì họ định nghĩa: “Quản trị chuỗi cung ứng như là việc tích hợp các hoạt động xảy ra ở các cơ sở của mạng lưới nhằm tạo ra nguyên vật liệu, dịch chuyển chúng vào sản phẩm trung gian và sau đố đến sản phamar hoàn thành cuối cùng, và phẩn phối sản phẩm đến khách hàng thông quqa hệ thống phân phối”.Billington, The evolution of supply chain managment models and practice at Hewlett-packard, Interfaces 25, No.5 1995) “Quản trị chuỗi cung ứng là tập hợp các phương pháp được sử dụng để kết hợp 6 một cách có hiệu quả các nhà cung cấp, các nhà sản xuất, các kho hàng và các cửa hàng để hàng hóa được sản xuất và phân phối đúng số lượng, đúng địa điểm và đúng thời điểm nhằm giảm thiểu các chi phí hệ thống và thỏa mãn các yêu cầu về mức độ dịch vụ.
Trong các định nghĩa trên thể hiện sự nhất quán về kết hợp và hợp nhất với số lượng lớn các hoạt động liên quan đến sản phẩm, trong số các thành viên của chuỗi cung cấp nhằm cải thiện năng suất hoạt động, chất lượng và dịch vụ khách hàng. Nhằm đạt được lợi thế cạnh tranh bền vững cho tất cả các tổ chức liên quan đến việc cộng tác này. Do đó, để quản trị thành công chuỗi cung ứng đòi hỏi các doanh nghiệp phải làm việc với nhau bằng cách chia sẻ thông tin về những điều liên quan như: dự báo nhu cầu, kế hoạch sản xuất, những thay đổi về công suất, các chiến lược marketing mới, sự phát triển mới sản phẩm và dịch vụ, sự phát triển công nghệ mới, các kế hoạch thu mua, ngày giao hàng và bất kỳ điều gì tác động đến các kế hoạch phân phối, sản xuất và thu mua. Tóm lại, về chuỗi cung ứng là một chuỗi liên kết nhằm tối ưu hóa tất cả các khâu hoạt động là: từ khâu đầu tiên là tiếp nhận các đơn hàng đến khâu phân phối đến tận tay người tiêu dùng sản phẩm cuối cùng.
Còn quản trị chuỗi cung ứng là tập hợp các phương thức sử dụng tích hợp, hiệu quả từ nhà cung cấp, lực lượng sản xuất ra sản phẩm, hệ thống kho bãi, các cửa hàng. Mục đích phân phối sản phẩm, hàng hóa thành phẩm đến địa điểm cần giao, đúng yêu cầu về chất lượng sản phẩm. Với mục đích giảm được chi phí toàn hệ thống trong khi vẫn thỏa mãn về nhu cầu, mức độ phục vụ. Quản trị chuỗi cung ứng liên quan đến địa điểm quan trọng là định vị các tổ chức nhằm giúp tất cả các thành viên trong chuỗi đều được hưởng lợi ích.
Vì thế quản trị chuỗi cung ứng một cách hiệu quả phụ thuộc rất lớn vào mức độ tin tưởng, sự hợp tác, sự cộng tác và mức độ thông tin một cách trung thực, một cách chính xác. Các thành tố cơ bản trong quản trị chuỗi cung ứng 7 Theo giáo sư Warren H. Hausman (Financial flow and Supply Chain Efficiency – Warren H. Hausman, 2010), trong quản trị chuỗi cung ứng có 3 dòng chảy cơ bản xuyên suốt chiều dài của chuỗi là: Dòng vật chất (product and service flow): doanh nghiệp sẽ quản trị từ khâu thu mua nguyên vật liệu đến khi sản phẩm được vận chuyển đến tay người tiêu dùng cuối cùng; Dòng thông tin (information flow): doanh nghiệp quản trị thông tin hai chiều từ doanh nghiệp – khách hàng và ngược lại; Dòng tài chính (fund/financial flow): quản trị dòng tài chính.1 dòng chảy trong chuỗi cung ứng (Nguồn: Logistics and Supply Chain Management 4th – M.
Christopher, 2011) Trên cơ sở nghiên cứu dòng chảy của chuỗi cung ứng kết hợp với hình dòng chảy trong chuỗi cung ứng. Có thể nhận thấy rằng một chuỗi cung ứng bao gồm 3 thành phần cơ bản: Nhà cung cấp, nhà sản xuất và hệ thống phân phối (gồm: nhà phân phối, nhà bán lẻ, người tiêu dùng). Doanh nghiệp quản trị xuyên suốt quá trình lưu chuyển hàng hóa/dịch vụ từ nhà cung cấp đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Doanh nghiệp quản trị nhà cung ứng tốt nhằm đảm bảo quá trình sản xuất cũng như chất lượng nguồn nguyên vật liệu đầu vào với giá cả cạnh tranh; quản trị sản xuất đảm bảo chất lượng thành phẩm đạt chuẩn đến 8 tay người tiêu dùng.
Đồng thời tính toán lượng tồn kho nguyên liệu và thành phẩm hợp lý; và quản trị phân phối đảm bảo vòng quay sản phẩm hợp lý, không quá nhanh cũng không quá chậm theo như kế hoạch đề ra. Bên cạnh đó, doanh nghiệp quản trị tốt dòng thông tin thông suốt giữa doanh nghiệp – người tiêu dùng và ngược lại.