chương 1: Trong vài thập kỷ qua, rất nhiều nỗ lực của công ty đã đƣợc dành cho việc tối ƣu hóa hiệu quả nội bộ, nhằm mục đích giảm chi phí và khả năng cạnh tranh. Đặc biệt là trong thập kỷ qua, đã có một sự đồng thuận rằng không chỉ công ty, mà toàn bộ chuỗi cung ứng mà nó phù hợp, chịu trách nhiệm cho sự thành công hay thất bại của bất kỳ doanh nghiệp nào (Chwif và ctg, 2002). Chuỗi cung ứng là một mạng lƣới các cơ sở và các lựa chọn phân phối thực hiện các chức năng sau đây: thu mua nguyên vật liệu, chuyển hoá những nguyên liệu này thành sản phẩm trung gian và thành phẩm; phân phối các thành phẩm này cho khách hàng. Quản lý chuỗi cung ứng là một chiến lƣợc mà thông qua đó có thể đạt đƣợc sự tích hợp các chức năng khác nhau này (Shapiro và Wagner, 2009).
Mô phỏng chuỗi cung ứng ngụ ý vận hành một mô hình đại diện phù hợp cho chuỗi cung ứng. Quản lý chuỗi cung ứng có thể đƣợc thực hiện trong mô hình nếu không thể thực hiện đƣợc, quá tốn kém hoặc không thực tế trong tổ chức thực. Hiệu suất mô hình có thể đƣợc nghiên cứu và các thuộc tính liên quan đến hiệu suất chuỗi cung ứng thực có thể đƣợc suy ra. Có một số lý do để mô phỏng chuỗi cung ứng.
Việc quan sát một số quy trình nhất định trong chuỗi cung ứng thực sự có thể chứng tỏ là không thể hoặc tốn kém, chẳng hạn, doanh số bán hàng trong những năm sắp tới, v. Một chuỗi cung ứng có thể quá phức tạp để mô tả nó nhƣ là các phƣơng trình toán học. Ngay cả khi một mô hình toán học đã đƣợc xây dựng, nó có thể quá phức tạp để có đƣợc lời giải bằng các kỹ thuật phân tích. Việc nghiên cứu những thay đổi trong chuỗi cung ứng trong một mô hình và /hoặc xác minh các giải pháp phân tích là khả thi.
Mô phỏng chuỗi cung ứng có thể cung cấp một ý tƣởng có giá trị về các biến quan trọng nhất và cách chúng tƣơng tác. Nó cũng có thể đƣợc sử dụng để thử nghiệm các tình huống mới mà ít hoặc không có sẵn thông tin (không chắc chắn) và để kiểm tra các chính sách và quy tắc quyết định mới trƣớc khi mạo hiểm thử nghiệm với chuỗi cung ứng thực. 2 Chƣơng này giới thiệu những nội dung cơ bản nhất về chuỗi cung ứng và mô phỏng chuỗi cung ứng. Trong nội dung thứ nhất, tổng quan về chuỗi cung ứng đề cập đến định nghĩa, lợi ích, các thành phần và phân loại chuỗi cung ứng.
Định nghĩa và mục tiêu của quản trị chuỗi cung ứng cũng đƣợc đề cập. Trong nội dung thứ hai, tổng quan về mô phỏng chuỗi cung ứng, trƣớc tiên, ƣu, nhƣợc điểm của việc sử dụng các mô hình dựa trên phân tích hoặc mô phỏng đƣợc đề cập. Sau đó là các nội dung liên quan đến mô phỏng chuỗi cung ứng nhƣ đặc điểm của mô hình mô phỏng, mục tiêu của mô phỏng chuỗi cung ứng và các loại mô phỏng chuỗi cung ứng. Cuối cùng, các kỹ thuật mô phỏng chuỗi cung ứng khác nhau cũng đƣợc đề cập đến.1 Tổng quan về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng 1.1 Chuỗi cung ứng 1.1 Định nghĩa chuỗi cung ứng Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chuỗi cung ứng theo nhiều hƣớng tiếp cận khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau về “chuỗi cung ứng”.
Sau đây là một số định nghĩa: Theo Tayur và ctg (2012), chuỗi cung ứng là một mạng lƣới các lựa chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm, thành phẩm và phân phối chúng đến khách hàng. Theo Lambert và ctg (1998), chuỗi cung ứng là sự liên kết giữa các doanh nghiệp nhằm đƣa sản phẩm hay dịch vụ ra thị trƣờng. Mentzer và ctg (2001) lập luận rằng chuỗi cung ứng là tập hợp của 3 thực thể hoặc nhiều hơn (có thể là pháp nhân hoặc thể nhân) liên quan trực tiếp đến dòng chảy qua lại của sản phẩm, dịch vụ, tài chính và thông tin từ nguyên vật liệu đến khách hàng. Theo Chopra và Meindl (2001), chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn nhà vận chuyển, kho, nhà bán lẻ và bản thân khách hàng. Hay chuỗi cung ứng hiểu một cách đơn giản đó là sự kết nối nhà cung cấp, khách hàng, nhà sản xuất và các tổ chức cung cấp dịch vụ liên quan đến quá trình kinh doanh. Theo Carter và ctg (2015), chuỗi cung ứng là mạng lƣới toàn cầu nhằm phân phối sản phẩm và dịch vụ từ nguyên liệu ban đầu đến ngƣời tiêu dùng cuối cùng thông qua dòng chảy thông tin, phân phối và mua sắm đã đƣợc thiết lập. 3 Christopher (1999) cho rằng chuỗi cung ứng là mạng lƣới của những tổ chức liên quan đến những mối liên kết các dòng chảy ngƣợc và xuôi theo những tiến trình và những hoạt động khác nhau nhằm tạo ra giá trị trong từng sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng.
Theo Hội Đồng Tổ chức chuỗi cung ứng (2010), chuỗi cung ứng bao gồm mọi hoạt động liên quan đến việc sản xuất và phân phối một sản phẩm hoặc dịch vụ hoàn chỉnh, bắt đầu từ nhà cung cấp đầu tiên đến khách hàng cuối cùng. Nhƣ vậy theo các định nghĩa đã đƣợc trích dẫn, về cơ bản một chuỗi cung ứng bao gồm một hành trình liên kết giữa các nhân tố trong đó có 3 hoạt động cơ bản nhất, gồm: - Cung cấp: tập trung vào các hoạt động mua nguyên vật liệu nhƣ thế nào? Mua từ đâu và khi nào nguyên vật liệu đƣợc cung cấp nhằm phục vụ hiệu quả quá trình sản xuất. - Sản xuất: là quá trình chuyển đổi các nguyên vật liệu thành sản phẩm cuối cùng. - Phân phối: là quá trình đảm bảo các sản phẩm sẽ đƣợc phân phối đến khách hàng cuối cùng thông qua mạng lƣới phân phối, kho bãi, bán lẻ một cách kịp thời và hiệu quả.1: Chuỗi cung ứng điển hình Trên cơ sở nghiên cứu một số định nghĩa về chuỗi cung ứng, có thể kết luận rằng chuỗi cung ứng bao gồm các hoạt động của mọi đối tƣợng có liên quan từ mua nguyên vật liệu, sản xuất ra sản phẩm cho đến cung cấp cho khách hàng cuối cùng.
Nói cách khác chuỗi cung ứng của một mặt hàng là một quá trình bắt đầu từ nguyên liệu thô cho tới khi tạo thành sản phẩm cuối cùng và đƣợc phân phối tới tay ngƣời tiêu dùng nhằm đạt 4 đƣợc hai mục tiêu cơ bản, đó là: tạo mối liên kết với nhà cung cấp của các nhà cung ứng và khách hàng của khách hàng vì họ có tác động đến kết quả và hiệu quả của chuỗi cung ứng hữu hiệu và và hiệu quả trên toàn hệ thống.2 Lợi ích chuỗi cung ứng mang lại - Lợi ích của chuỗi cung ứng là giảm bớt các trung gian. - Vì có các nhà phân phối trung gian, do vậy sản nhà sản xuất có thể bố trí cơ sở sản xuất tại vị trí tốt nhất, mà không phải phụ thuộc nhiều vào vị trí của khách hàng cuối cùng. - Thông qua việc tập trung hoạt động sản xuất của một cơ sở lớn, nhà sản xuất hƣởng lợi từ tính kinh tế nhờ quy mô. Mặt khác các nhà sản xuất không cần lƣu trữ số lƣợng lớn sản phẩm hoàn thành, các nhà phân phối ở gần khách hàng sẽ thực hiện việc lƣu trữ này.
- Nhà bán sỉ đặt các đơn hàng lớn, và nhà sản xuất chiết khấu giá cho các nhà bán sỉ làm cho chi phí đơn vị giảm. Nhà bán sỉ giữ nhiều loại sản phẩm tồn kho từ nhiều nhà sản xuất, cung cấp đa dạng sự lựa chọn cho khách hàng bán lẻ.3 Các thành phần của chuỗi cung ứng Theo Lambert (1998) một chuỗi cung ứng bao gồm hệ thống các thực thể và các kết nối giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng. Hay một chuỗi cung ứng về cơ bản bao gồm các thành phần đó là các pháp nhân (các doanh nghiệp cung ứng, doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ), các tổ chức và các mạng lƣới và các thể nhân. Sự kết nối giữa các thành tố trên đƣợc xem là các kết nối hoặc các mối quan hệ.2: Các thành phần trong chuỗi cung ứng Thuật ngữ chuỗi cung ứng gợi lên hình ảnh sản phẩm dịch chuyển từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và cuối cùng đến khách hàng dọc theo chuỗi cung ứng.
Song song đó là các dòng thông tin, sản phẩm và tài chính dọc cả hai hƣớng 5 của chuỗi này. Trong thực tế, nhà sản xuất có thể nhận nguyên liệu từ vài nhà cung cấp và sau đó cung ứng đến nhà phân phối, chính vì vậy đa số các chuỗi cung ứng thực sự là mạng lƣới. Trong sơ đồ tại hình 1.2 cho thấy trong một chuỗi cung ứng có thể phân tích thành các thành phần cơ bản sau đây: - Nhà cung cấp: Nhà cung cấp đƣợc xem nhƣ một thành viên bên ngoài có năng lực sản xuất không giới hạn. Tuy nhiên, bởi vì những nhân tố không chắc chắn trong tiến trình chuyển phát, nhà cung cấp có thể sẽ không cung cấp nguyên liệu thô cho nhà sản xuất đúng lúc.
Nhà cung cấp bao gồm nội địa và nƣớc ngoài đƣợc nhà sản xuất lựa chọn tùy thuộc vào năng lực và uy tín cung ứng của họ. - Nhà sản xuất: Bao gồm các nhà chế biến nguyên liệu ra thành phẩm, sử dụng nguyên liệu và các sản phẩm gia công của các nhà sản xuất khác để làm nên sản phẩm. - Nhà phân phối: Là các doanh nghiệp mua lƣợng lớn sản phẩm từ các nhà sản xuất và phân phối sỉ các dòng sản phẩm này đến khách hàng, còn gọi là các nhà bán sỉ. Chức năng chính của nhà bán sỉ là điều phối các dao động về cầu sản phẩm cho các nhà sản xuất bằng cách trữ hàng tồn và thực hiện nhiều hoạt động kinh doanh để tìm kiếm và phục vụ khách hàng.
Nhà phân phối có thể tham gia vào việc mua hàng từ nhà sản xuất để bán cho khách hàng, đôi khi họ chỉ là nhà môi giới sản phẩm giữa nhà sản xuất và khách hàng. Bên cạnh đó chức năng của nhà phân phối là thực hiện quản lý tồn kho, vận hành kho, vận chuyển sản phẩm, hỗ trợ khách hàng và dịch vụ hậu mãi. - Nhà bán lẻ: Họ là những ngƣời chuyên trữ hàng và bán với số lƣợng nhỏ hơn đến khách hàng.