U Nhú Thanh Quản: Đặc Điểm và Nghiên Cứu Về HPV

Bài viết phân tích đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học và phương pháp điều trị u nhú thanh quản ở người lớn tại viện tai mũi họng trung ương 1.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Y Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2023

60
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU

1.1.1. Thế giới

1.1.2. Việt Nam

1.2. GIẢI PHẪU – SINH LÝ THANH QUẢN

1.2.1. Khung sụn

1.2.2. Các dây chằng và khớp

1.2.3. Các cơ

1.2.4. Cấu trúc trong thanh quản

1.2.5. Mạch và thần kinh

1.2.6. Sinh lý thanh quản

1.3. MÔ BỆNH HỌC CỦA U NHÚ THANH QUẢN

1.3.1. Đại thể

1.3.2. Vi thể u nhú

1.4. HUMAN PAPILLOMA VIRUT VÀ U NHÚ THANH QUẢN

1.4.1. Cơ chế hoạt động của virut

1.4.2. Cơ chế sinh bệnh

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về U Nhú Thanh Quản Đặc Điểm và Nguyên Nhân

U nhú thanh quản (UNTQ) hay Papilloma TQ là loại u lành tính, do sự quá sản của các tế bào vảy, hình thành các nhú nhô lên bề mặt biểu mô. Bệnh có thể gặp ở cả người lớn và trẻ em, với tỷ lệ gặp ở trẻ em là 4.3/100000 dân và ở người lớn là 1.8/100000 dân. Đặc điểm lâm sàng của UNTQ là có xu hướng lan rộng và dễ tái phát sau phẫu thuật. Nghiên cứu cho thấy UNTQ ở trẻ em thường gây khó thở và tái phát, trong khi ở người lớn, u phát triển thường có tính khu trú nhưng có thể bị ung thư hóa. Nguyên nhân chính của UNTQ được xác định là do nhiễm Human Papilloma Virus (HPV), đặc biệt là typ 6 và typ 11.

1.1. Đặc Điểm Lâm Sàng Của U Nhú Thanh Quản

U nhú thanh quản có triệu chứng khàn tiếng và khó thở. Ở trẻ em, u nhú có xu hướng lan rộng, trong khi ở người lớn, u thường khu trú và có thể dẫn đến ung thư. Việc nhận diện triệu chứng sớm là rất quan trọng để điều trị kịp thời.

1.2. Nguyên Nhân Gây U Nhú Thanh Quản

Nguyên nhân chính gây UNTQ là do nhiễm HPV, đặc biệt là typ 6 và typ 11. Nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa nhiễm HPV và sự phát triển của u nhú, tuy nhiên, cần thêm nhiều nghiên cứu để xác định rõ hơn về các typ HPV khác.

II. Vấn Đề Trong Chẩn Đoán và Điều Trị U Nhú Thanh Quản

Chẩn đoán u nhú thanh quản không khó, nhưng việc điều trị lại gặp nhiều thách thức. U nhú có thể tái phát sau phẫu thuật, gây khó khăn cho bác sĩ trong việc quản lý bệnh. Việc xác định chính xác loại u và mức độ phát triển của nó là rất quan trọng để đưa ra phương pháp điều trị hiệu quả.

2.1. Thách Thức Trong Chẩn Đoán U Nhú Thanh Quản

Mặc dù có các phương pháp chẩn đoán hiện đại, việc phát hiện sớm UNTQ vẫn gặp khó khăn do triệu chứng không rõ ràng. Cần có sự kết hợp giữa lâm sàng và cận lâm sàng để đưa ra chẩn đoán chính xác.

2.2. Khó Khăn Trong Điều Trị U Nhú Thanh Quản

Điều trị u nhú thanh quản thường gặp khó khăn do khả năng tái phát cao. Các phương pháp điều trị hiện tại như phẫu thuật, laser, và thuốc kháng virus cần được áp dụng một cách linh hoạt để đạt hiệu quả tốt nhất.

III. Phương Pháp Điều Trị U Nhú Thanh Quản Hiệu Quả

Có nhiều phương pháp điều trị u nhú thanh quản, bao gồm phẫu thuật, điều trị bằng laser và thuốc kháng virus. Mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm riêng, và việc lựa chọn phương pháp phù hợp phụ thuộc vào tình trạng cụ thể của bệnh nhân.

3.1. Phẫu Thuật Điều Trị U Nhú Thanh Quản

Phẫu thuật là phương pháp điều trị chính cho UNTQ. Tuy nhiên, tỷ lệ tái phát sau phẫu thuật vẫn cao, do đó cần theo dõi thường xuyên sau điều trị.

3.2. Sử Dụng Laser Trong Điều Trị U Nhú Thanh Quản

Điều trị bằng laser là một phương pháp ít xâm lấn, giúp loại bỏ u nhú mà không gây tổn thương nhiều đến mô xung quanh. Phương pháp này có thể giảm thiểu nguy cơ tái phát.

3.3. Ứng Dụng Thuốc Kháng Virus Trong Điều Trị

Sử dụng thuốc kháng virus có thể giúp kiểm soát sự phát triển của u nhú do HPV. Tuy nhiên, cần có thêm nghiên cứu để xác định hiệu quả và an toàn của các loại thuốc này.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu Về U Nhú Thanh Quản

Nghiên cứu về u nhú thanh quản đã chỉ ra rằng việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể giảm thiểu nguy cơ tái phát. Các nghiên cứu cũng cho thấy mối liên quan giữa nhiễm HPV và sự phát triển của u nhú, mở ra hướng đi mới trong điều trị.

4.1. Kết Quả Nghiên Cứu Về U Nhú Thanh Quản

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc phát hiện và điều trị sớm u nhú thanh quản có thể làm giảm tỷ lệ tái phát. Các nghiên cứu cũng đã xác định được mối liên quan giữa HPV và UNTQ.

4.2. Ứng Dụng Các Phương Pháp Mới Trong Điều Trị

Các phương pháp điều trị mới như điều trị bằng laser và thuốc kháng virus đang được nghiên cứu và áp dụng, cho thấy nhiều hứa hẹn trong việc giảm thiểu tái phát và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Nghiên Cứu U Nhú Thanh Quản

U nhú thanh quản là một bệnh lý phức tạp với nhiều thách thức trong chẩn đoán và điều trị. Tuy nhiên, với sự phát triển của công nghệ và nghiên cứu, hy vọng sẽ có những phương pháp điều trị hiệu quả hơn trong tương lai.

5.1. Tương Lai Của Nghiên Cứu U Nhú Thanh Quản

Nghiên cứu về u nhú thanh quản cần tiếp tục được đẩy mạnh, đặc biệt là trong việc xác định mối liên quan giữa HPV và sự phát triển của u nhú. Điều này sẽ giúp cải thiện phương pháp điều trị và giảm thiểu nguy cơ tái phát.

5.2. Hy Vọng Về Các Phương Pháp Điều Trị Mới

Với sự phát triển của y học hiện đại, hy vọng sẽ có những phương pháp điều trị mới hiệu quả hơn cho u nhú thanh quản, giúp bệnh nhân có cuộc sống tốt hơn.

22/06/2025
Đặc điểm lâm sàng mô bệnh học điều trị u nhú thanh quản người lớn tại viện tai mũi họng trung ương 1

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 SƠ LƯỢC LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU 1.1 Thế giới Vào thế kỷ XVII những triệu chứng của bệnh UNTQ đã được Marcellus Donalus mô tả lần đầu tiên với các triệu chứng lâm sàng khàn tiếng và khó thở. Năm 1863, Wirchow đã tiến thêm một bước khi ông mô tả tổn thương mô bệnh học của u nhú TQ: “Tổn thương u nhú là tổn thương cơ bản của mô liên kết”. Sau này khi kính hiển vi quang học ra đời người ta đã biết chính xác về tổn thương mô bệnh học của u nhú TQ: đó là sự quả sản lành tính của các tế bào biểu mô vảy [48]. Đến năm 1923, Uhlman là người đầu tiên nghĩ tới nguyên nhân của bệnh là do virus.

Ông đã làm một thử nghiệm cấy ghép và đã thành công khi cấy mảnh u nhú TQ của một bé gái 6 tuổi lên cánh tay của chính em bé đó, rồi lấy mảnh ghép đó cấy vào âm đạo chó [82]. Năm 1957, Stewart và Eddy đã gây được 23 loại u khác nhau ở chuột, thỏ khi sử dụng virus papiloma lấy ở tuyến mang tai của chuột nhắt. Những phát hiện trên về virus sinh u nhú xét trên góc độ lịch sử có thể được coi là các phát hiện sớm song sự việc gần như chỉ dừng lại ở đó một thời gian khá dài vì không tạo ra được những sao chép (replicates) của HPV trong ống nghiệm. Cho tới tận những năm 70 của thế kỷ 20, sự kiện phát hiện các clon trong virus học phân tử mới làm sáng tỏ dần các HPV có hình thái, chức năng cơ bản gì và từ hiểu biết về virus sinh u nhú ở bò, được triển khai sang người.

Từ quan sát các tổn thương trên lâm sàng, người ta lý giải các tổn thương đó qua các cơ sở khoa học của y sinh học phân tử kết hợp với hình ảnh vi thể. 4 Năm 1973, Boyle nhờ có kính hiển vi điện tử đã xác định được Human Papilloma Virus (HPV) [24]. Năm 1982, Mounts và Shah KV phân biệt được DNA của HPV ở thanh quản nhờ kỹ thuật lai vết DNA (Sounthern blot DNA hybridization). Vào thời điểm này, do kỹ thuật bị hạn chế nên chỉ làm sạch và mới nhận ra được týp 6 của HPV.

Từ đó đến nay đã có rất nhiều nghiên cứu nói lên sự có mặt của loại virus này trong tổn thương của UNTQ [28], [30], [37]. Hiện nay, đã tìm thấy khoảng 150 typ HPV, trong đó có >50 typ gây bệnh (bao gồm 10 typ gây bệnh ở da và >40 typ gây bệnh ở niêm mạc). Các typ gây bệnh dần dần được xác nhận là có nguy cơ thấp (thường sinh u lành), nguy cơ trung bình (có thể sinh u lành và u ác tính) và nguy cơ cao (thường sinh ung thư). Nhóm thường sinh u lành có tới 20 typ, trong đó các typ 6, 11 được quan tâm hơn cả vì thường gây các u sùi ở vùng hậu môn, dương vật và âm hộ, thanh quản, hạ họng, thực quản.

HPV – 6 và 11, cùng trong một nhóm, là hai loại virut chủ yếu gây u nhú ở đường hô hấp. HPV – 6 hiện diện ở cả trẻ em và người lớn, HPV – 11 gặp nhiều ở trẻ em trong các thể nặng [28], [30]. - Nhóm nguy cơ thấp, bao gồm các típ 6, 11, 1, 5, 8, 9, 10, 12, 15, 17, 19. - Nhóm nguy cơ trung gian bao gồm các típ : 31, 33, 35, 51, 52.

- Nhóm nguy cơ cao gồm các típ : 16, 18, 30, 39, 40, 45, 56, 58.2 Việt Nam Ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu u nhú TQ ở trẻ em. Năm 1960: Nguyễn Văn Đức, bước đầu đưa ra nhận xét qua 26 ca u nhú TQ gặp tại khoa Tai Mũi Họng – Bệnh viện Bạch Mai. Từ năm 1989-1994, Lê Xuân Cành áp dụng phương pháp bấm u nhú thanh quản thông qua soi thanh quản trực tiếp để điều trị u nhú thanh quản trẻ em [4] 5 Năm 1994 Nhan Trừng Sơn đã có tổng kết u nhú TQ qua 10 năm (1985- 1994) tại bệnh viện Nhi đồng I Thành Phố Hồ Chí Minh. Năm 2000 tại Hội nghị Tai Mũi Họng Việt Pháp lần thứ V Nguyễn Thị Ngọc Dung và Nguyễn Văn Đức đã có những nhân xét ban đầu về bệnh u nhú TQ người lớn tại Trung tâm Tai Mũi Họng ở thành phố Hồ Chí Minh [8].

Năm 2004 Nguyễn Thị Minh Tâm đã nghiên cứu “ Đặc điểm lâm sàng, mô bệnh học, điều trị u nhú thanh quản người lớn tại viện Tai Mũi Họng Trung Ương” qua luận văn chuyên khoa cấp II. Năm 2005: Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Dung nghiên cứu về ứng dụng phương pháp nội soi cắt hút trong điều trị u nhú TQ và khảo sát sự liên quan giữa mẹ nhiễm HPV và con bệnh u nhú TQ [7]. GIẢI PHẪU – SINH LÝ THANH QUẢN 1. Thanh quản là một thành phần của ngã tư đường ăn và đường thở.

Thanh quản ở vùng cổ giữa, dưới xương móng và đáy lưỡi, ở ngay dưới trước của họng. Nó mở thông phía trên họng miệng và phía dưới với khí quản. Giới hạn trên tương ứng với chỗ giáp đốt sống cổ 5-6, giới hạn dưới ở bờ trên đốt sống cổ 7. Khoảng cách hình góc nhị diện của hạ họng ở hai bên TQ gọi là xoang lê.

Thanh quản được cấu tạo bởi một khung gồm 9 loại sụn khác nhau, liên kết với nhau bởi dây chằng, các khớp và cơ.1 Khung sụn Có hai loại sụn: sụn đơn (sụn giáp, sụn nhẫn, sụn nắp thanh quản, sụn liên phễu) và sụn kép (sụn phễu, sụn sừng, sụn chêm, sụn vừng, sụn thóc). - Sụn giáp: hình như quyển sách mở dựng đứng, gáy ra trước, trên có sụn nắp. 6 - Sụn nắp thanh quản hay sụn thanh thiệt: hình như một cái vợt mà cán dính vào góc sụn giáp, đậy lên TQ. - Sụn nhẫn: hình nhẫn với bản nhẫn ở sau và vòng nhẫn ở trước.

Sụn nhẫn là chỗ ngồi của sụn phễu ở phía sau, chỗ tựa cho sụn giáp ở hai bên. - Sụn phễu: hình tháp tam giác, trông như một cái phễu đặt trên sụn nhẫn - Ngoài ra còn có các sụn nhỏ: sụn sừng, sụn vừng, sụn chêm.1: Các sụn thanh quản nhìn từ trước và sau [9].2 Các dây chằng và khớp. * Các màng và dây chằng - Màng giáp – móng - Màng nhẫn – giáp: dày và chắc, nối giữa sụn giáp và sụn nhẫn, là nơi rạch khi mở khí quản trong trường hợp tối cấp. - Màng nhẫn – khí quản: nối sụn nhẫn và khí quản, là nơi rạch khi mở khí quản trong trường hợp mở khí quản cao.

7 - Dây chằng nhẫn – phễu: nối sụn nhẫn với sụn phễu. * Các khớp: khớp nhẫn – giáp, khớp nhẫn – phễu, khớp hoặc dây chằng nối sụn phễu vào sụn vừng.3 Các cơ Thanh quản di chuyển bởi các cơ: lên trên bởi các cơ trâm móng, xuống bởi các cơ dưới móng. Riêng vận động ở trong TQ có 3 loại cơ: - Cơ căng dây thanh hay cơ nhẫn giáp: đi từ vòng nhẫn tới bờ dưới sụn giáp và tới sừng giáp dưới. - Cơ mở thanh môn: cơ nhẫn phễu sau đi từ mặt sau của bản nhẫn tới mấu cơ sụn phễu.

Cơ mở thanh môn ít có tác dụng đến tiếng nói, nhưng khi bị liệt gây khó thở và có thể tử vong. - Các cơ khép thanh môn: Cơ nhẫn phễu đi từ vòng nhẫn tới mấu cơ sụn phễu. Cơ liên phễu nối liền sụn phễu bên phải với sụn phễu bên trái 1.4 Cấu trúc trong thanh quản * Niêm mạc thanh quản: Niêm mạc TQ liên tiếp ở trên với niêm mạc hầu, ở dưới với niêm mạc khí quản. Lòng TQ lát bằng tế bào trụ hô hấp đi từ bờ tự do dây thanh là tế bào Malpighi.

Trong niêm mạc có tuyến nhầy và nang lympho. Lớp dưới niêm mạc lỏng lẻo, trừ ở dây thanh, do đó TQ dễ bị phù nề gây khó thở, đặc biệt là ở trẻ em. * Thanh quản được chia làm 3 tầng: - Tầng trên thanh môn: là tiền đình TQ, giới hạn trước bởi sụn nắp, ở sau bởi các sụn phễu, hai bên bởi các nếp đi chếch xuống từ sụn nắp tới sụn phễu. TQ loe rộng như một cái phễu thông với hầu.

+ Phía dưới tiền đình là băng thanh thất: hai nẹp nhỏ hơn dây thanh, nằm song song với dây thanh. + Buồng Morgagni: là khoảng rỗng giữa dây thanh và băng thanh thất. - Tầng thanh môn: gồm hai dây thanh, mấu thanh âm và khe thanh môn. 8 + Dây thanh: là một cái nẹp đi từ cực trước (góc sụn giáp) ra cực sau TQ (sụn phễu).

Cấu tạo gồm 3 lớp: lớp niêm mạc là lớp tế bào Malpighi mỏng bám sát và dây chằng, không có mạch máu; lớp cân và lớp cơ. 1: 1: TiÒn ®×nh 2: Sôn n¾p 3: Sôn gi¸p 4: Sôn nhÉn 5: D©y ch»ng thanh ©m 9: NÕp thanh ©m 10: B¨ng thanh thÊt 20: H¹ thanh m«n 22: C¬ gi¸p phÔu 24: Thanh thÊt 25: D©y thanh 26: KhÝ qu¶n 27: Sõng trªn sôn gi¸p 28: H¹nh nh©n lìi 29: Xoang lª 30: D©y thanh 31: C¬ nhÉn phÔu bªn 32: TuyÕn gi¸p Hình 1.2: Thiết đồ cắt đứng dọc và đứng ngang qua thanh quản [2]. + Thanh môn: là khoảng cách hình tam giác giữa hai dây thanh. Đầu trước của thanh môn gọi là mép trước, đầu sau gọi là mép sau.

Thanh môn là nơi hẹp nhất của TQ. 9 Kích thước thanh môn: Sơ sinh 4,5 – 5,6 mm 1 tuổi 7 mm 10 tuổi 9 – 10 mm Người lớn 12-15 mm - Tầng hạ thanh môn: từ phía dưới dây thanh đến hết bờ dưới sụn nhẫn. Kích thước hạ thanh môn: Sơ sinh 5 – 6 mm 1 tuổi 10 mm 10 tuổi 12 mm Người lớn 13 - 18 mm 1.5 Mạch và thần kinh * Động mạch: có 3 ĐM cho mỗi nửa TQ - ĐM thanh quản trên - ĐM thanh quản giữa - ĐM thanh quản dưới * Tĩnh mạch: đi theo đường đi của ĐM, quy về TM giáp trạng trên và dưới. * Bạch mạch: các ống bạch huyết của TQ đổ về dãy hạch cảch ngang tầm thân giáp lưỡi mặt và hạch trước TQ.

* Thần kinh: TQ được chi phối bởi dây TK X và dây giao cảm - Dây X: tách ra dây TQ trên (phần lớn để cảm giác) và dây TQ dưới (vận động) + Dây TQ trên: tách ở cực dưới của hạch gối, khi tới ngang mức xương móng chia làm hai nhánh: nhánh trên cùng ĐM thanh quản trên xuyên qua màng giáp móng vào TQ; nhánh dưới vận động cho cơ nhẫn giáp và cảm giác ở tầng dưới TQ. + Dây TK quặt ngược: vận động tất cả các cơ TQ trừ cơ nhẫn giáp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "U Nhú Thanh Quản: Đặc Điểm, Nguyên Nhân và Phương Pháp Điều Trị" cung cấp cái nhìn tổng quan về bệnh u nhú thanh quản, bao gồm các đặc điểm lâm sàng, nguyên nhân gây bệnh và các phương pháp điều trị hiệu quả. Bài viết không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về tình trạng này mà còn hướng dẫn cách nhận biết và xử lý kịp thời, từ đó nâng cao khả năng điều trị và cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu 1881 nghiên cứu đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và đánh kết quả điều trị sỏi thận bằng phẫu thuật mở tại bv đa khoa trung ương cần thơ năm 2014 2015, nơi cung cấp thông tin về các phương pháp điều trị bệnh lý liên quan đến hệ tiết niệu. Ngoài ra, tài liệu Luận văn đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật thoát vị đĩa đệm vùng cột sống thắt lưng cùng tại bệnh viện đa khoa trung ương thái nguyên cũng có thể mang lại những hiểu biết bổ ích về các phương pháp điều trị phẫu thuật. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả điều trị hội chứng thận hư tiên phát ở trẻ em tại bệnh viện sản nhi bắc giang, giúp bạn nắm bắt thêm thông tin về các hội chứng liên quan đến thận. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về các bệnh lý tương tự và phương pháp điều trị hiệu quả.