Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2019 toàn cầu có khoảng 296 triệu người đang sống chung với virus viêm gan B (HBV) mạn tính, với 1,5 triệu ca nhiễm mới và 820.000 ca tử vong hàng năm chủ yếu do xơ gan và ung thư biểu mô tế bào gan. Việt Nam nằm trong vùng dịch tễ lưu hành cao với tỷ lệ nhiễm HBV trong cộng đồng dao động từ 10% đến 20%, tương đương với tỷ lệ trung bình khoảng 8 người dân thì có 1 người mang mầm bệnh mạn tính. Đặc biệt, tỷ lệ kháng nguyên bề mặt HBsAg dương tính ở phụ nữ mang thai tại Việt Nam được ghi nhận ở mức 8% đến 13%, trong đó tỷ lệ kháng nguyên e (HBeAg) dương tính ở nhóm thai phụ này đạt tới 37,2%.

Con đường lây truyền từ mẹ sang con (MTCT) chiếm tới 90% tổng số các ca nhiễm viêm gan B mạn tính tại Việt Nam. Đáng lưu ý, trẻ sơ sinh bị lây nhiễm HBV từ mẹ trong quá trình chu sinh có nguy cơ tiến triển thành viêm gan mạn tính lên đến 90%, và khoảng 25% trong số này sẽ tử vong khi trưởng thành do các biến chứng nguy hiểm như xơ gan tiến triển hoặc ung thư gan nguyên phát. Mặc dù Bộ Y tế đã ban hành hướng dẫn sàng lọc thường quy, song tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là các huyện biên giới, tỷ lệ tiếp cận xét nghiệm sớm vẫn còn nhiều rào cản do địa hình chia cắt và nhận thức cộng đồng chưa đồng đều.

Xuất phát từ thực tế đó, luận văn Thạc sĩ Y học chuyên ngành Sản phụ khoa của tác giả Lê Trần Dạ Thảo, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Tô Mai Xuân Hồng tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, đã thực hiện đề tài nhằm xác định tỷ lệ thai phụ chấp nhận thực hiện xét nghiệm viêm gan siêu vi B trong ba tháng đầu thai kỳ tại 6 Trung tâm Y tế huyện biên giới tỉnh Long An, đồng thời phân tích các yếu tố liên quan trực tiếp đến hành vi từ chối xét nghiệm. Nghiên cứu được triển khai từ tháng 12/2020 đến tháng 06/2021, cung cấp cơ sở dữ liệu dịch tễ học thực tiễn giúp ngành y tế địa phương nâng cao tỷ lệ tầm soát trước sinh đạt mục tiêu thiên niên kỷ về y tế công cộng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng kết hợp hai mô hình lý thuyết hành vi sức khỏe nền tảng trong y tế công cộng nhằm giải thích quyết định tham gia sàng lọc y khoa của sản phụ:

Mô hình Niềm tin Sức khỏe (Health Belief Model - HBM): Mô hình này phân tích hành vi chấp nhận xét nghiệm dựa trên 4 trụ cột nhận thức chính bao gồm: nhận thức về tính nhạy cảm (mức độ tự đánh giá nguy cơ nhiễm virus của bản thân), nhận thức về mức độ nghiêm trọng (sự hiểu biết về các biến chứng xơ gan, ung thư gan và lây truyền sang con), nhận thức về lợi ích của hành vi can thiệp (hiệu quả bảo vệ trẻ sơ sinh đạt trên 90% khi tiêm ngừa kết hợp vắc xin và huyết thanh kháng HBV trong vòng 12 giờ đầu sau sinh), và các rào cản nhận thức (lo ngại chi phí xét nghiệm, khoảng cách địa lý, tâm lý e ngại chẩn đoán).

Lý thuyết Hành vi Kế hoạch (Theory of Planned Behavior - TPB): Lý thuyết này tập trung làm rõ mối quan hệ giữa thái độ cá nhân của thai phụ đối với việc xét nghiệm, chuẩn mực chủ quan (sự ủng hộ, định hướng từ chồng, gia đình và nhân viên y tế) cùng khả năng kiểm soát hành vi nhận thức (sự thuận tiện trong tiếp cận dịch vụ y tế tại tuyến huyện) tác động trực tiếp đến ý định và hành vi đồng thuận làm xét nghiệm máu tầm soát.

Các khái niệm chuyên môn then chốt được chuẩn hóa trong nghiên cứu gồm có:

  • Kháng nguyên bề mặt HBsAg: Dấu ấn huyết thanh học đầu tiên chỉ điểm tình trạng đang nhiễm HBV cấp hoặc mạn tính.
  • Kháng nguyên HBeAg và HBV-DNA: Chỉ số phản ánh mức độ nhân lên mạnh mẽ của virus, tính lây nhiễm cao và là yếu tố tiên lượng then chốt của nguy cơ lây truyền mẹ - con.
  • Lây truyền dọc từ mẹ sang con (MTCT): Quá trình truyền mầm bệnh xảy ra chủ yếu trong giai đoạn chu sinh khi thai nhi tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch âm đạo của người mẹ trong chuyển dạ kéo dài trên 9 giờ.
  • Miễn dịch chủ động và thụ động dự phòng: Chiến lược phối hợp tiêm đồng thời vắc xin viêm gan B và Globulin miễn dịch kháng viêm gan B (HBIG) ở hai vị trí tiêm khác nhau ngay sau khi sinh.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế cắt ngang mô tả có phân tích (Cross-sectional analytic study), được triển khai liên tục từ tháng 12/2020 đến tháng 06/2021 tại 6 cơ sở y tế tuyến huyện vùng biên giới tỉnh Long An, bao gồm: Trung tâm Y tế huyện Tân Hưng, Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Hưng, Trung tâm Y tế huyện Mộc Hóa, Trung tâm Y tế huyện Thạnh Hóa, Trung tâm Y tế huyện Đức Huệ và Bệnh viện Đa khoa khu vực Đồng Tháp Mười.

Quy mô mẫu nghiên cứu được tính toán theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với mức sai số tuyệt đối cho phép d = 0,05, hệ số tin cậy 95% (Z = 1,96) và chọn xác suất dự đoán p = 0,5 nhằm tối đa hóa kích thước mẫu đại diện, mang lại cỡ mẫu chuẩn là 384 thai phụ trong ba tháng đầu thai kỳ (tuổi thai dưới 14 tuần).

Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo tỷ lệ được áp dụng dựa trên lưu lượng thai phụ khám thai ba tháng đầu thực tế của từng đơn vị trong năm liền kề:

  • Bệnh viện Đa khoa khu vực Đồng Tháp Mười: Chiếm 46,09% tổng số mẫu (tương ứng 177 thai phụ).
  • Trung tâm Y tế huyện Tân Hưng: Chiếm 34,42% tổng số mẫu (tương ứng 132 thai phụ).
  • Trung tâm Y tế huyện Vĩnh Hưng: Chiếm 13,15% tổng số mẫu (tương ứng 50 thai phụ).
  • Trung tâm Y tế huyện Đức Huệ: Chiếm 4,91% tổng số mẫu (tương ứng 19 thai phụ).
  • Trung tâm Y tế huyện Thạnh Hóa: Chiếm 0,95% tổng số mẫu (tương ứng 4 thai phụ).
  • Trung tâm Y tế huyện Mộc Hóa: Chiếm 0,46% tổng số mẫu (tương ứng 2 thai phụ).

Tại mỗi cơ sở, kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên đơn thông qua hình thức bốc thăm ngẫu nhiên số thứ tự khám thai hàng ngày được triển khai nghiêm ngặt. Dữ liệu được thu thập thông qua bộ câu hỏi cấu trúc phỏng vấn trực tiếp mặt đối mặt bởi các bác sĩ sản khoa và nữ hộ sinh đã qua tập huấn chuẩn hóa. Số liệu được kiểm tra, làm sạch, nhập liệu kép bằng phần mềm chuyên dụng và xử lý thống kê bằng phần mềm Stata phiên bản 14.2. Nghiên cứu thực hiện phân tích đơn biến để tính tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình kèm độ lệch chuẩn, sau đó ứng dụng mô hình hồi quy logistic đa biến nhằm kiểm soát triệt để các yếu tố gây nhiễu, ước tính tỷ số chênh hiệu chỉnh (Adjusted Odds Ratio - aOR) với khoảng tin cậy 95% và mức ý nghĩa thống kê p < 0,05.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên toàn bộ 384 thai phụ tại 6 trung tâm y tế huyện biên giới ghi nhận những kết quả định lượng nổi bật như sau:

Thứ nhất, về đặc điểm nhân khẩu học và phân bố tuổi thai: Độ tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 27,56 ± 5,90 tuổi, dao động từ 16 tuổi đến 43 tuổi. Nhóm thai phụ từ 20 đến 30 tuổi chiếm tỷ trọng cao nhất với 57,29% (220 người), nhóm trên 30 tuổi chiếm 33,33% (128 người), và nhóm vị thành niên dưới 20 tuổi chiếm 9,38% (36 người). Đa số thai phụ thuộc dân tộc Kinh (99,22%), cư trú tại địa phương (94,01%). Về trình độ văn hóa, học vấn cấp 2 chiếm 45,31% (174 người) và cấp 3 chiếm 26,30% (101 người). Tuổi thai trung bình đạt 10,3 ± 2,0 tuần, trong đó nhóm thai từ 6 đến 10 tuần 6 ngày chiếm 49,74% và nhóm từ 11 đến 13 tuần 6 ngày chiếm 50,26%.

Thứ hai, thực trạng đáng báo động về tiền sử tiêm chủng và nhận thức bệnh: Có tới 99,48% thai phụ (382 người) hoàn toàn không nắm rõ tình trạng nhiễm viêm gan B của bản thân trước khi mang thai. Đồng thời, 91,93% thai phụ (353 người) chưa từng được tiêm phòng bất kỳ mũi vắc xin viêm gan B nào trong đời, chỉ có 8,07% (31 người) từng được chủng ngừa. Ngoài ra, 37,24% thai phụ có tiền sử nạo hút thai ít nhất một lần và 10,94% từng có tiền căn truyền máu trong quá khứ.

Thứ ba, tỷ lệ chấp nhận thực hiện xét nghiệm sàng lọc HBV: Sau khi được cán bộ y tế tại phòng khám tư vấn trực tiếp về mức độ nguy hiểm của virus cũng như lợi ích bảo vệ thai nhi, tỷ lệ thai phụ đồng thuận làm xét nghiệm đạt mức cao khoảng 83,5% trên tổng số đối tượng tham gia. Tuy nhiên, vẫn còn khoảng 16,5% thai phụ kiên quyết từ chối thực hiện xét nghiệm trong giai đoạn ba tháng đầu.

Thứ tư, các rào cản và yếu tố liên quan đến hành vi từ chối xét nghiệm: Phân tích hồi quy logistic đa biến chỉ ra rằng các yếu tố như trình độ học vấn thấp (cấp 1 chiếm 20,31%), điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, sự thiếu hụt kiến thức về đường lây truyền mẹ - con và tiền sử chưa từng tầm soát trước đó có mối liên quan độc lập và có ý nghĩa thống kê với hành vi từ chối xét nghiệm (p < 0,05).

Thảo luận kết quả

Thực trạng gần 99,5% phụ nữ mang thai không biết tình trạng nhiễm HBV của bản thân và gần 92% chưa từng tiêm chủng vắc xin phản ánh rõ nét khoảng trống lớn trong công tác y tế dự phòng tại khu vực nông thôn biên giới đồng bằng sông Cửu Long. Do điều kiện địa lý sông nước chia cắt, đời sống người dân chủ yếu phụ thuộc vào nông nghiệp và lao động phổ thông, việc chủ động khám sức khỏe tiền hôn nhân hoặc sàng lọc bệnh truyền nhiễm gần như chưa trở thành thói quen.

Khi so sánh với các nghiên cứu sản khoa trên toàn quốc, tỷ lệ phụ nữ mang thai mang mầm bệnh HBsAg tại các đô thị lớn như Bệnh viện Từ Dũ là 11,6%, Bệnh viện Phụ sản Trung ương là 12,5%, tỉnh Bình Dương là 10,5% và thành phố Cần Thơ là 10,8%. Điều này khẳng định nguy cơ tiềm ẩn của dịch bệnh viêm gan B trong thai kỳ tại Long An là rất lớn. Tỷ lệ chấp nhận xét nghiệm đạt trên 80% sau khi được tư vấn cho thấy vai trò mang tính quyết định của người thầy thuốc và nữ hộ sinh tại phòng khám ban đầu. Khi thai phụ được giải thích rõ rằng việc phát hiện sớm nồng độ HBV-DNA trên 200.000 IU/mL trong quý 3 sẽ giúp bác sĩ kịp thời chỉ định thuốc kháng virus Tenofovir hoặc Lamivudine, kết hợp tiêm huyết thanh HBIG cho trẻ sơ sinh để ngăn chặn 90% nguy cơ lây truyền, họ sẵn sàng vượt qua rào cản tâm lý.

Để tăng cường tính thuyết phục trong việc công bố khoa học, toàn bộ cấu trúc biến số dịch tễ học và các kết quả hồi quy được trình bày chi tiết thông qua hệ thống bảng số liệu đối sánh và biểu đồ phân phối chuẩn (như Biểu đồ phân bố độ tuổi 3.1 và Biểu đồ nhóm tuổi 3.2). Biểu đồ trực quan giúp các nhà quản lý y tế dễ dàng nhận diện nhóm đối tượng đích cần tập trung can thiệp truyền thông là phụ nữ trẻ trong độ tuổi sinh đẻ từ 20 đến 30 tuổi và nhóm có trình độ học vấn phổ thông cơ sở.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả phân tích thực chứng, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp can thiệp trọng tâm:

  1. Triển khai gói tầm soát HBsAg thường quy miễn phí hoặc hỗ trợ chi trả 100% qua Bảo hiểm Y tế: Sở Y tế tỉnh Long An phối hợp cùng Bảo hiểm Xã hội tỉnh chỉ đạo 6 Trung tâm Y tế huyện biên giới đưa xét nghiệm HBsAg thành chỉ định bắt buộc trong quy trình khám thai 3 tháng đầu; đặt mục tiêu nâng tỷ lệ thai phụ được tầm soát viêm gan B tại tuyến huyện đạt trên 95% trước quý IV năm 2022.

  2. Chuẩn hóa quy trình tư vấn và đào tạo kỹ năng truyền thông cho nhân viên y tế tuyến cơ sở: Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật (CDC) tỉnh Long An phối hợp với các bệnh viện chuyên khoa tuyến trên tổ chức các lớp tập huấn định kỳ 6 tháng một lần cho 100% bác sĩ sản khoa, cử nhân hộ sinh tại trạm y tế xã và trung tâm y tế huyện; hoàn thành mục tiêu 100% cán bộ khám thai đạt chứng chỉ tư vấn dự phòng lây truyền mẹ sang con (MTCT) trong năm 2022.

  3. Mở rộng chiến dịch truyền thông cộng đồng về tiêm chủng viêm gan B: Trung tâm Y tế 6 huyện biên giới phối hợp với chính quyền địa phương phát động phong trào tiêm chủng vắc xin viêm gan B cho phụ nữ trong độ tuổi sinh sản và phổ cập kiến thức tiêm mũi vắc xin sơ sinh trong vòng 24 giờ đầu; hướng tới mục tiêu tăng tỷ lệ phụ nữ mang thai hiểu đúng về đường lây truyền lên trên 80% và giảm tỷ lệ thai phụ chưa từng tiêm chủng xuống dưới 40% trong lộ trình 2022 - 2025.

  4. Thiết lập mạng lưới quản lý chu sinh và chuỗi cung ứng sinh phẩm y tế: Xây dựng hệ thống phần mềm quản lý thai sản liên thông giữa Bệnh viện Đa khoa khu vực Đồng Tháp Mười và các trung tâm y tế huyện; bảo đảm cơ số dự trữ đầy đủ thuốc kháng virus Tenofovir, sinh phẩm xét nghiệm định lượng HBV-DNA và huyết thanh miễn dịch HBIG, cam kết 100% trẻ sinh ra từ mẹ HBsAg dương tính được tiêm đủ 2 mũi sinh phẩm trong 12 giờ đầu sau sinh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng lâm sàng sâu sắc, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Bác sĩ chuyên khoa Sản phụ khoa và Nhi sơ sinh: Cung cấp bằng chứng thực địa để tối ưu hóa quy trình tư vấn trước sinh, chỉ định xét nghiệm miễn dịch bổ sung và xây dựng phác đồ can thiệp dự phòng lây truyền virus toàn diện cho cặp mẹ con.
  • Cán bộ quản lý y tế và nhà hoạch định chính sách y tế công cộng: Tài liệu tham khảo quan trọng giúp Sở Y tế và các cơ quan hữu quan phân bổ ngân sách, lập kế hoạch can thiệp y tế dự phòng và đánh giá hiệu quả chương trình loại trừ lây truyền bệnh từ mẹ sang con tại các địa bàn khó khăn.
  • Học viên sau đại học, nghiên cứu sinh ngành Y tế công cộng và Dịch tễ học: Nguồn tài liệu học thuật mẫu mực về phương pháp chọn mẫu phân tầng theo tỷ lệ, kỹ thuật thiết kế bộ công cụ phỏng vấn cấu trúc và mô hình phân tích hồi quy logistic đa biến xử lý số liệu y sinh học trên Stata.
  • Đội ngũ nữ hộ sinh, điều dưỡng và nhân viên y tế tuyến cơ sở: Tài liệu cẩm nang nâng cao năng lực chuyên môn, cung cấp kiến thức nền tảng và kỹ năng tư vấn thuyết phục thai phụ tham gia các xét nghiệm tầm soát bệnh truyền nhiễm ngay từ giai đoạn sớm của thai kỳ.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao phụ nữ mang thai cần thực hiện xét nghiệm viêm gan B ngay trong 3 tháng đầu?
Xét nghiệm sớm trong 3 tháng đầu giúp phát hiện kịp thời tình trạng nhiễm HBV, cho phép bác sĩ theo dõi chức năng gan, đánh giá tải lượng HBV-DNA và lên kế hoạch dùng thuốc kháng virus ở tuần thai thứ 28 nếu cần, qua đó giảm thiểu tối đa nguy cơ lây truyền sang thai nhi.

Trẻ sơ sinh có mẹ nhiễm viêm gan B cần được can thiệp dự phòng như thế nào?
Trẻ sinh ra từ người mẹ có HBsAg dương tính phải được tiêm đồng thời một liều vắc xin viêm gan B và một liều Globulin miễn dịch kháng viêm gan B (HBIG) ở hai vị trí tiêm khác nhau trong vòng 12 giờ đầu sau sinh, giúp ngăn ngừa đến hơn 90% nguy cơ lây nhiễm.

Người mẹ có kết quả xét nghiệm HBsAg dương tính có thể cho con bú không?
Theo khuyến cáo của WHO và Bộ Y tế, mẹ nhiễm HBV hoàn toàn có thể cho con bú bình thường nếu trẻ đã được tiêm phòng đầy đủ vắc xin và huyết thanh HBIG ngay sau sinh, trừ trường hợp đầu vú của mẹ bị nứt nẻ, chảy máu hoặc tổn thương viêm loét.

Những nguyên nhân chính nào khiến thai phụ vùng biên giới từ chối làm xét nghiệm?
Nghiên cứu chỉ ra các nguyên nhân chủ yếu gồm: thiếu hụt kiến thức về sự nguy hiểm của virus, nhận thức sai lầm rằng bản thân khỏe mạnh thì không mắc bệnh, rào cản chi phí xét nghiệm chưa được bảo hiểm hỗ trợ đầy đủ và tâm lý e ngại các thủ tục y tế.

Khi thai phụ có xét nghiệm HBsAg dương tính thì cần thực hiện thêm các xét nghiệm nào?
Thai phụ cần được chỉ định làm thêm xét nghiệm men gan (AST, ALT), công thức máu, xét nghiệm kháng nguyên HBeAg và định lượng tải lượng virus HBV-DNA bằng kỹ thuật PCR để xác định giai đoạn hoạt động của virus, từ đó quyết định phác đồ can thiệp phù hợp.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định chính xác tỷ lệ chấp nhận xét nghiệm viêm gan B của thai phụ trong ba tháng đầu tại 6 Trung tâm Y tế huyện biên giới tỉnh Long An đạt mức khả quan sau khi được nhân viên y tế tư vấn chuyên môn trực tiếp.
  • Công trình phơi bày thực trạng đáng quan ngại với 99,48% thai phụ không biết tình trạng nhiễm bệnh của bản thân và 91,93% chưa từng được tiêm phòng vắc xin, đặt ra yêu cầu cấp bách cho y tế cơ sở.
  • Nghiên cứu đóng góp một khung phương pháp luận vững chắc, kết hợp chọn mẫu phân tầng theo tỷ lệ và phân tích hồi quy đa biến trên mẫu chuẩn 384 đối tượng tại vùng đồng bằng sông Cửu Long.
  • Hệ thống khuyến nghị 4 điểm mang tính đột phá, mở ra lộ trình can thiệp từ chính sách bảo hiểm, đào tạo kỹ năng cán bộ y tế đến xây dựng chuỗi cung ứng sinh phẩm y tế chuẩn hóa giai đoạn 2022 - 2025.
  • Kêu gọi các cấp quản lý y tế và cộng đồng chung tay đẩy mạnh công tác tầm soát trước sinh, xem việc xét nghiệm HBsAg sớm là trách nhiệm và hành động thiết yếu để bảo vệ sức khỏe cho thế hệ tương lai.