Tổng quan luận án

Việt Nam nằm trong vùng lưu hành dịch tễ cao của vi rút viêm gan B (HBV) với tỉ lệ mang vi rút trong quần thể cộng đồng ước tính khoảng 8,1%. Trong các con đường lây truyền, lây truyền theo chiều dọc từ mẹ sang con trong giai đoạn chu sinh là đường lây truyền chính yếu. Theo thống kê y tế, tỉ lệ nhiễm HBV ở phụ nữ mang thai tại Việt Nam dao động từ 10% đến 20%, tỉ lệ lây truyền sang con từ 5% đến 10%, và đặc biệt có tới 90% trẻ sơ sinh nhiễm HBV sẽ tiến triển thành viêm gan vi rút B mạn tính, đối mặt với nguy cơ 25% tử vong do xơ gan hoặc ung thư biểu mô tế bào gan khi trưởng thành.

Khoảng trống nghiên cứu được chỉ ra là phần lớn các số liệu công bố gần đây tại Việt Nam về tỉ lệ phụ nữ mang thai nhiễm HBV vẫn dừng lại ở mức ước lượng. Các công trình công bố về tỉ lệ lây truyền mẹ - con chủ yếu là thử nghiệm lâm sàng có kiểm soát nghiêm ngặt các yếu tố dự phòng, chưa phản ánh đầy đủ thực trạng trong điều kiện áp dụng các biện pháp dự phòng thực tế tại cơ sở y tế địa phương. Tại thành phố Hải Phòng, kể từ nghiên cứu năm 1994 của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nga và cộng sự (ghi nhận tỉ lệ sản phụ nhiễm HBV là 12,59%), chưa có thêm nghiên cứu nào đánh giá toàn diện tỉ lệ lây truyền mẹ - con cũng như hiệu quả của các can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe nâng cao năng lực thực hành cho phụ nữ mang thai và nhân viên y tế sản khoa.

Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Mô tả thực trạng lây truyền HBV từ mẹ sang con và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ có thai đến khám và quản lý thai nghén tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng năm 2017-2018.
  2. Đánh giá kết quả can thiệp dự phòng lây truyền HBV từ mẹ sang con bằng truyền thông giáo dục sức khoẻ cho bà mẹ và nhân viên y tế trên địa bàn nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Phụ nữ mang thai đến khám và quản lý thai nghén tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng; trẻ sơ sinh sinh ra từ các bà mẹ mang HBV mạn tính được theo dõi đến 12 tháng tuổi; cán bộ, nhân viên y tế làm công tác khám, quản lý thai nghén và chăm sóc sơ sinh tại bệnh viện.
  • Phạm vi không gian: Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng, thành phố Hải Phòng.
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn thu thập số liệu thực trạng và can thiệp từ năm 2017 đến năm 2020 (dữ liệu thực trạng thai phụ thu thập năm 2017-2018, theo dõi trẻ và đánh giá can thiệp kéo dài đến năm 2020).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu dịch tễ học, cơ chế bệnh sinh và can thiệp dự phòng lây truyền HBV từ mẹ sang con trên phạm vi quốc tế và tại Việt Nam:

Nhóm nội dung Tác giả, công trình và năm công bố Kết quả và phát hiện chính được trích dẫn
Dịch tễ học HBV ở phụ nữ mang thai tại Việt Nam Nguyễn Thị Tuyết Nga và cs (1994)
Đinh Thị Bình và cs (1996)
Chu Thị Thu Hà (2006)
Nguyễn Văn Hiền (2006–2010)
Đào Thị Mỹ Phượng (2013–2014)
Lê Đình Vĩnh Phúc và cs (2015)
Nguyễn Thị Thúy Vân (2015)
Tỉ lệ HBsAg(+) ở sản phụ Hải Phòng là 12,59% (1994); tại Bệnh viện 108 là 10,61% (1996); tại Hà Nội là 12,5% (lây truyền mẹ - con 35,6%); tại Bệnh viện Phụ Sản Trung ương là 0,162%; tại Bình Dương là 10,5% (nguy cơ lây 42,5%); tại TP. Hồ Chí Minh là 12,6%; tại Thái Nguyên là 8,0%.
Dịch tễ học HBV ở phụ nữ mang thai trên thế giới Adedayo và cs (Nigeria, 1990-2016)
Nghiên cứu tại Uganda (2012–2013)
Nghiên cứu tại Ethiopia (2014)
Nghiên cứu tại Gambia
Nghiên cứu tại Bệnh viện Shengjing (Trung Quốc, 2016)
Nghiên cứu tại Bệnh viện Mahosot (Lào, 2008–2014)
Nghiên cứu tại Philippines
Tỉ lệ thai phụ mang HBsAg dao động từ 2%–15,2% (Nigeria); 11,8% (Uganda); 4,7% (Ethiopia); 6,67% (Gambia); 3,1% (Trung Quốc); 5,44% (Lào); 9,6% (Philippines).
Cơ chế lây truyền và yếu tố nguy cơ Yi P (2016)
Burgis JC và cs (2005–2011)
Đỗ Trung Phấn và cs (1996)
Phí Đức Long (2011)
Hiệp hội EASL và APASL
Nồng độ HBV-DNA mẹ > 200.000 IU/ml và tình trạng HBeAg(+) là hai yếu tố nguy cơ chính. 70%–90% trẻ sinh ra từ mẹ HBeAg(+) bị nhiễm nếu không dự phòng. Tỉ lệ HBsAg(+) máu cuống rốn đạt 96,5% (Đỗ Trung Phấn) và 62,5% (Phí Đức Long) ở nhóm mẹ HBeAg(+).
Hiệu quả thuốc kháng vi rút trong thai kỳ Celen MK và cs (Thổ Nhĩ Kỳ)
Greenup và cs (Australia)
Jourdain và cs (2018)
Nguyễn Văn Bàng và cs (2014)
Điều trị Tenofovir Disoproxil Fumarate (TDF) hoặc Lamivudine (LAM) từ tuần 24–32 thai kỳ giúp giảm mạnh tải lượng HBV-DNA của mẹ và giảm tỉ lệ lây truyền sang con xuống 0%–2,4% (so với 8,3%–20% ở nhóm chứng).
Dự phòng miễn dịch chủ động - thụ động Chen và cs (2008–2009)
Zhang và cs (2008–2013)
Nguyen Tran Hien (2014)
Milne và cs (2002)
Shoshanna May (Anh, 2018)
Phối hợp vắc xin VGB và HBIg trong 12–24h đầu giúp giảm tỉ lệ nhiễm ở trẻ còn 1%–3,3%. Tại Việt Nam, tiêm đủ ≥ 3 mũi vắc xin có liều sơ sinh giảm tỉ lệ nhiễm xuống 1,75% so với 2,98% ở nhóm thiếu liều sơ sinh.
Kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) Zhenyan Han (2017)
Bayuh (2014)
Gonçalves (2005)
Yali Hu (2011)
Adjei (2016)
Phạm Thị Thanh Hằng (2017, 2019)
Dương Anh Dũng (2015)
Tỉ lệ hiểu biết đúng về đường lây và dự phòng ở phụ nữ mang thai và nhân viên y tế còn thấp (chỉ 10,8% thai phụ trả lời đúng toàn bộ; 49% nhân viên y tế tại Ghana và nhiều cơ sở chưa từng được tập huấn chuyên sâu).

Vị trí của luận án: Luận án giải quyết khoảng trống dữ liệu thực địa tại địa phương bằng cách tiếp cận tích hợp hai nhánh: vừa đánh giá thực trạng lâm sàng, cận lâm sàng, các yếu tố nguy cơ lây truyền mẹ - con trong điều kiện dự phòng thực tế (kết hợp tiêm vắc xin, HBIg và điều trị kháng vi rút theo Quyết định 5448/QĐ-BYT và Quyết định 3310/QĐ-BYT của Bộ Y tế), vừa triển khai mô hình can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe đồng thời cho cả hai nhóm đối tượng tác động là bà mẹ mang thai và nhân viên y tế sản khoa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên khung lý thuyết dịch tễ học về lây truyền dọc HBV qua ba giai đoạn: trong tử cung (qua hàng rào rau thai, biến đổi áp lực buồng tử cung và gradient nồng độ vi rút), chu sinh (tiếp xúc máu và dịch âm đạo trong chuyển dạ đẻ), và sau đẻ (tiếp xúc dịch tiết). Nghiên cứu tích hợp các hướng dẫn chuyên môn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Hiệp hội Nghiên cứu Gan Châu Âu (EASL), Hiệp hội Nghiên cứu Gan Châu Á - Thái Bình Dương (APASL) và các hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh viêm gan vi rút B của Bộ Y tế Việt Nam (Quyết định số 5448/QĐ-BYT năm 2014 và Quyết định số 3310/QĐ-BYT năm 2019).

Phương pháp nghiên cứu thực tế được thiết kế theo hướng dịch tễ học thực địa kết hợp can thiệp y tế công cộng:

  1. Thiết kế nghiên cứu:

    • Nhánh 1: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp theo dõi dọc đoàn hệ mở trên các cặp mẹ - con từ khi khám thai, chuyển dạ sinh cho đến khi trẻ đủ 12 tháng tuổi nhằm xác định tỉ lệ nhiễm, tỉ lệ lây truyền và các yếu tố liên quan.
    • Nhánh 2: Nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khỏe cộng đồng có so sánh trước và sau can thiệp (Pre- and Post-intervention study) trên đối tượng thai phụ và nhân viên y tế.
  2. Cỡ mẫu và đối tượng phân tích:

    • Mẫu sàng lọc ban đầu: $n = 1.721$ phụ nữ mang thai đến khám và quản lý thai nghén tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng để xác định tỉ lệ hiện nhiễm HBsAg.
    • Mẫu theo dõi dọc thai phụ mang HBV mạn tính: $n = 183$ thai phụ có HBsAg dương tính được theo dõi các dấu ấn huyết thanh, nồng độ men gan (ALT, AST), nồng độ HBV-DNA tại tuần thai 28 (7 tháng) và lúc chuyển dạ sinh; đồng thời xét nghiệm HBsAg máu cuống rốn của 183 trẻ sơ sinh tương ứng.
    • Mẫu theo dõi trẻ em đến 12 tháng tuổi: $n = 150$ trẻ sinh ra từ các bà mẹ mang HBV mạn tính được theo dõi tiêm chủng (vắc xin sơ sinh, HBIg, 3 mũi vắc xin mở rộng) và xét nghiệm HBsAg lúc 12 tháng tuổi.
    • Mẫu can thiệp nhân viên y tế: $n = 131$ cán bộ, nhân viên y tế làm việc tại các khoa phòng liên quan của Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng tham gia các chương trình tập huấn và khảo sát KAP trước - sau can thiệp.
  3. Công cụ và phương pháp thu thập dữ liệu:

    • Bộ câu hỏi phỏng vấn cấu trúc chuẩn hóa đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) về bệnh viêm gan B và các biện pháp dự phòng lây truyền mẹ - con.
    • Xét nghiệm cận lâm sàng: Kỹ thuật miễn dịch gắn enzym (ELISA) xác định HBsAg, HBeAg, Anti-HBs, Anti-HBe, Anti-HBc; Kỹ thuật phản ứng chuỗi polymerase (PCR / HBV NAT) đo tải lượng nồng độ HBV-DNA huyết thanh; Xét nghiệm sinh hóa đo hoạt độ enzym gan ALT, AST.
    • Thu thập mẫu sinh học: Máu tĩnh mạch thai phụ, máu cuống rốn trẻ ngay sau khi cắt rốn, và máu tĩnh mạch trẻ tại thời điểm 12 tháng tuổi.
  4. Xử lý số liệu và kiểm soát sai số:

    • Số liệu được nhập và làm sạch bằng phần mềm chuyên dụng, phân tích thống kê y sinh học.
    • Sử dụng các kiểm định thống kê: Kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$), Fisher's exact test cho biến định tính; Student's t-test hoặc paired t-test so sánh điểm trung bình KAP trước và sau can thiệp.
    • Phân tích đơn biến xác định tỉ suất chênh (OR), tỉ số tỉ lệ hiện mắc (PR) với khoảng tin cậy 95% (95%CI). Xây dựng mô hình hồi quy logistic đa biến để kiểm soát các biến số gây nhiễu và xác định các yếu tố nguy cơ độc lập liên quan đến tình trạng lây truyền HBV sang trẻ 12 tháng tuổi.
    • Đạo đức nghiên cứu: Đề tài thuộc nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp thành phố (Mã số ĐT.794), được thông qua hội đồng đạo đức y sinh học, bảo đảm tính tự nguyện và bảo mật thông tin của các đối tượng tham gia.

Nội dung chính theo từng chương

Đặt vấn đề

Phần Đặt vấn đề trình bày tính cấp thiết của nghiên cứu dựa trên bối cảnh dịch tễ học viêm gan B tại Việt Nam và trên thế giới. Tác giả nhấn mạnh lây truyền mẹ - con là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến gánh nặng bệnh gan mạn tính và ung thư gan nguyên phát. Mặc dù Tổ chức Y tế Thế giới đã đặt mục tiêu loại trừ viêm gan vi rút vào năm 2030, công tác quản lý và dự phòng tại cơ sở y tế vẫn gặp nhiều rào cản do thiếu quy trình sàng lọc chuẩn hóa, tỉ lệ tiếp cận xét nghiệm tải lượng vi rút và điều trị kháng vi rút thai kỳ còn thấp, cùng với những lỗ hổng trong kiến thức và thực hành của nhân viên y tế và thai phụ. Từ đó, tác giả xác lập 2 mục tiêu nghiên cứu của luận án.

Chương 1: Tổng quan

Chương này tổng kết toàn diện cơ sở lý luận và y văn:

  • Căn nguyên và dịch tễ học: Vi rút HBV thuộc họ Hepadnaviridae, cấu trúc DNA chuỗi kép với 10 kiểu gen (A đến J), chứa 3 hệ thống kháng nguyên - kháng thể (HBsAg/Anti-HBs, HBeAg/Anti-HBe, HBcAg/Anti-HBc).
  • Cơ chế lây truyền dọc: Phân tích chi tiết 3 đường lây truyền gồm lây truyền trong tử cung (chiếm tỉ lệ thất bại miễn dịch chính do tổn thương vi thể hàng rào rau thai hoặc gradient nồng độ vi rút cao), lây truyền chu sinh (khi chuyển dạ và sổ thai qua đường sinh dục), và lây truyền sau đẻ. Tác giả tổng hợp các bằng chứng khẳng định việc cho con bú sữa mẹ là an toàn nếu trẻ đã được tiêm phòng miễn dịch chủ động - thụ động đầy đủ ngay sau sinh.
  • Các yếu tố liên quan: Đánh giá vai trò của tải lượng HBV-DNA người mẹ (ngưỡng nguy cơ > 200.000 IU/ml theo EASL/APASL), tình trạng HBeAg dương tính, phác đồ điều trị Tenofovir/Lamivudine trong 3 tháng cuối thai kỳ, lịch tiêm phối hợp vắc xin VGB sơ sinh và HBIg trong 12-24 giờ đầu, cùng các tranh luận về phương thức sinh (mổ lấy thai so với sinh thường qua đường âm đạo).
  • Thực trạng KAP: Tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước chỉ ra sự thiếu hụt kiến thức về đường lây, tính an toàn của vắc xin và chỉ định dùng thuốc kháng vi rút ở cả bà mẹ và cán bộ y tế sản khoa.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết quy trình thực địa tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng:

  • Xác định tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ cho từng nhóm đối tượng ($n = 1.721$ thai phụ khám sàng lọc; $n = 183$ thai phụ HBsAg(+) và trẻ sơ sinh; $n = 150$ cặp mẹ - con theo dõi 12 tháng; $n = 131$ nhân viên y tế).
  • Thiết lập sơ đồ thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp can thiệp giáo dục sức khỏe trước - sau.
  • Quy chuẩn hóa các kỹ thuật thu thập mẫu máu, xét nghiệm huyết thanh học ELISA, xét nghiệm sinh học phân tử định lượng HBV-DNA, đo men gan ALT.
  • Trình bày chi tiết nội dung chương trình can thiệp: biên soạn tài liệu truyền thông, tổ chức các lớp tập huấn nâng cao năng lực cho nhân viên y tế sản khoa, cung cấp tài liệu truyền thông và tư vấn trực tiếp cho phụ nữ mang thai nhiễm HBV.
  • Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá kết quả can thiệp KAP và quy trình kiểm soát sai số, bảo đảm đạo đức nghiên cứu y sinh học.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Hệ thống kết quả được trình bày mạch lạc qua các bảng số liệu và biểu đồ định lượng:

  1. Thực trạng mang HBV và lây truyền mẹ - con:

    • Tỉ lệ thai phụ mang HBV mạn tính qua sàng lọc tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng ($n = 1.721$).
    • Phân tích đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của 183 thai phụ mang HBV: tỉ lệ dương tính với HBeAg, phân bố nồng độ HBV-DNA và hoạt độ men gan ALT tại thời điểm tuần thai 28 và lúc chuyển dạ sinh; tỉ lệ thai phụ có chỉ định và tham gia điều trị thuốc kháng HBV theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
    • Tỉ lệ mang HBsAg trong máu cuống rốn của trẻ sơ sinh ($n = 183$) phân theo tình trạng HBeAg và tải lượng HBV-DNA của mẹ.
    • Tình trạng thực hiện các biện pháp dự phòng ở 150 trẻ theo dõi đến 12 tháng tuổi: tỉ lệ tiêm vắc xin VGB sơ sinh trong 24 giờ đầu, tỉ lệ tiêm HBIg, tỉ lệ hoàn thành 3 mũi vắc xin VGB trong chương trình Tiêm chủng mở rộng.
    • Tỉ lệ lưu hành HBsAg dương tính ở trẻ 12 tháng tuổi ($n = 150$).
  2. Các yếu tố liên quan đến lây truyền HBV sang trẻ 12 tháng tuổi:

    • Phân tích đơn biến chỉ ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng HBsAg(+) của trẻ 12 tháng tuổi với: tình trạng HBeAg của mẹ lúc sinh, nồng độ HBV-DNA của mẹ lúc sinh, tình trạng điều trị thuốc kháng vi rút của mẹ trong thai kỳ, tình trạng tiêm HBIg ngay sau sinh của trẻ, và tình trạng tiêm vắc xin VGB liều sơ sinh.
    • Phân tích các yếu tố không có mối liên quan độc lập: hình thức nuôi dưỡng sau sinh (bú mẹ hoàn toàn so với sữa công thức) và phương thức sinh (sinh mổ so với sinh thường).
    • Mô hình hồi quy đa biến xác định các yếu tố dự báo độc lập đối với nguy cơ lây truyền HBV từ mẹ sang con.
  3. Kết quả can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe:

    • Thay đổi kiến thức, thái độ của bà mẹ: Điểm trung bình kiến thức và thái độ về bệnh viêm gan B, đường lây truyền và các biện pháp dự phòng ở phụ nữ mang thai tăng lên rõ rệt sau can thiệp; tỉ lệ bà mẹ thực hành đúng các biện pháp dự phòng (đồng thuận điều trị kháng vi rút, cho con tiêm vắc xin sơ sinh và HBIg) cải thiện có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$).
    • Thay đổi KAP của nhân viên y tế ($n = 131$): Tỉ lệ nhân viên y tế tiếp cận quy trình chẩn đoán, điều trị tăng cao; điểm trung bình kiến thức tổng thể, kiến thức dịch tễ học, đường lây, chẩn đoán, phác đồ điều trị thuốc kháng vi rút cho thai phụ và quy trình tiêm vắc xin/HBIg tăng có ý nghĩa thống kê sau các khóa tập huấn ($p < 0,05$).

Chương 4: Bàn luận

Chương Bàn luận tập trung phân tích hai trục nội dung:

  • Biện luận thực trạng dịch tễ và các yếu tố liên quan: Đối chiếu tỉ lệ mang HBV ở phụ nữ mang thai tại Hải Phòng với các nghiên cứu trong nước (Chu Thị Thu Hà, Đào Thị Mỹ Phượng, Đinh Thị Bình, Nguyễn Thị Thúy Vân) và quốc tế. Khẳng định vai trò quyết định của nồng độ HBV-DNA mẹ và kháng nguyên HBeAg đối với nguy cơ thất bại dự phòng miễn dịch chu sinh. Thảo luận về hiệu quả thực tế của thuốc kháng vi rút (TDF) dùng trong 3 tháng cuối thai kỳ giúp hạ tải lượng vi rút xuống dưới ngưỡng lây truyền. Đánh giá tính an toàn của việc nuôi con bằng sữa mẹ và phương thức sinh nở khi trẻ đã được bảo vệ bằng miễn dịch chủ động - thụ động.
  • Biện luận hiệu quả mô hình can thiệp: Phân tích nguyên nhân dẫn đến sự cải thiện vượt bậc về điểm số KAP của nhân viên y tế và thai phụ. Khẳng định truyền thông giáo dục sức khỏe trực tiếp kết hợp tập huấn chuyên môn là giải pháp chi phí - hiệu quả cao, giúp thu hẹp khoảng cách giữa chính sách/hướng dẫn của Bộ Y tế và thực hành lâm sàng thực tế tại bệnh viện chuyên khoa sản.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về lý luận và khoa học

  • Cung cấp dữ liệu dịch tễ học thực địa cập nhật về thực trạng nhiễm HBV mạn tính ở phụ nữ mang thai và tỉ lệ lây truyền sang con trong điều kiện thực tế sử dụng các biện pháp dự phòng tại thành phố Hải Phòng.
  • Củng cố cơ sở khoa học về các yếu tố nguy cơ lây truyền dọc: chứng minh sự kết hợp giữa nồng độ HBV-DNA cao và HBeAg dương tính của người mẹ là yếu tố tiên lượng thất bại dự phòng miễn dịch chu sinh; khẳng định vai trò bảo vệ then chốt của việc điều trị kháng vi rút sớm cho thai phụ kết hợp tiêm phòng vắc xin VGB sơ sinh và HBIg cho trẻ.
  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về hiệu quả của can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe trong việc cải thiện toàn diện điểm số KAP cho cả hai nhóm đối tượng bổ trợ nhau trong hệ thống y tế: người cung cấp dịch vụ (nhân viên y tế) và người thụ hưởng dịch vụ (bà mẹ mang thai).

Những đóng góp mới về thực tiễn và giải pháp đề xuất

  • Xây dựng và chuẩn hóa quy trình sàng lọc sớm HBsAg thường quy cho phụ nữ mang thai ngay từ những lần khám thai đầu tiên tại các bệnh viện chuyên khoa sản.
  • Đề xuất áp dụng phác đồ điều trị dự phòng bằng thuốc kháng vi rút (Tenofovir Disoproxil Fumarate - TDF) cho các thai phụ có nồng độ HBV-DNA cao hoặc HBeAg dương tính từ tuần thai 24-28 theo đúng hướng dẫn cập nhật của Bộ Y tế (Quyết định số 3310/QĐ-BYT).
  • Khuyến nghị bệnh viện và ngành y tế địa phương đảm bảo nguồn cung ứng và tăng cường khả năng tiếp cận kháng huyết thanh HBIg kết hợp vắc xin VGB sơ sinh trong vòng 12-24 giờ đầu sau sinh cho trẻ sinh ra từ mẹ HBsAg(+).
  • Thiết lập chương trình đào tạo y khoa liên tục (CME) định kỳ về chẩn đoán, điều trị và dự phòng lây truyền dọc HBV cho toàn bộ đội ngũ bác sĩ, nữ hộ sinh sản khoa; đồng thời duy trì góc truyền thông tư vấn sức khỏe sinh sản cho thai phụ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi nghiên cứu thực địa tập trung tại một cơ sở y tế chuyên khoa tuyến tỉnh/thành phố (Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng), chưa bao phủ toàn bộ các cơ sở y tế tuyến huyện, xã và các vùng hải đảo xa xôi trên địa bàn thành phố.
  • Quá trình theo dõi dọc trẻ sơ sinh từ lúc sinh đến 12 tháng tuổi gặp hiện tượng hao hụt mẫu (từ 183 cặp ban đầu còn 150 cặp hoàn thành theo dõi đầy đủ) do một số gia đình chuyển nơi cư trú hoặc không quay lại tái khám, xét nghiệm đúng hẹn.
  • Việc tiếp cận kháng huyết thanh HBIg còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và sự tự chi trả của gia đình người bệnh (chi phí khoảng 2 triệu đồng/mũi tiêm tại thời điểm nghiên cứu) do HBIg chưa được chi trả trong chương trình Tiêm chủng mở rộng quốc gia.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng mô hình nghiên cứu và can thiệp sang các bệnh viện đa khoa tuyến huyện và hệ thống trạm y tế xã/phường để đánh giá tính bền vững ở các vùng nông thôn, ven biển.
  • Thực hiện các nghiên cứu theo dõi dọc dài hạn hơn trên đoàn hệ trẻ em (theo dõi nồng độ kháng thể Anti-HBs và tình trạng HBsAg đến 5 tuổi) nhằm đánh giá mức độ bảo vệ miễn dịch lâu dài phù hợp với các tiêu chí của WHO.
  • Thực hiện các nghiên cứu đánh giá kinh tế y tế (phân tích chi phí - hiệu quả và chi phí - lợi ích) đối với việc đưa xét nghiệm tải lượng HBV-DNA và tiêm phòng HBIg vào danh mục được bảo hiểm y tế chi trả cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh nguy cơ cao.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn giá trị cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, bác sĩ chuyên khoa: Thuộc các chuyên ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng, Sản phụ khoa, Truyền nhiễm và Nhi khoa; cung cấp phương pháp luận kết hợp giữa nghiên cứu mô tả đoàn hệ thực địa và nghiên cứu can thiệp KAP trước - sau.
  • Bác sĩ và nữ hộ sinh lâm sàng tại các bệnh viện sản - nhi: Tham khảo quy trình tư vấn xét nghiệm sàng lọc HBsAg trước sinh, chỉ định xét nghiệm tải lượng HBV-DNA, phác đồ dùng thuốc kháng vi rút TDF trong thai kỳ, kỹ thuật xử trí trẻ sơ sinh phơi nhiễm và hướng dẫn nuôi con bằng sữa mẹ an toàn.
  • Cán bộ quản lý y tế và người làm chính sách y tế công cộng: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn để xây dựng chính sách y tế địa phương, lập kế hoạch phân bổ nguồn lực vắc xin và HBIg, chuẩn hóa quy trình phối hợp liên chuyên khoa Sản - Nhi - Truyền nhiễm nhằm hướng tới mục tiêu loại trừ lây truyền HBV từ mẹ sang con vào năm 2030.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỉ lệ mang vi rút viêm gan B ở phụ nữ mang thai tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng trong nghiên cứu này là bao nhiêu?

Nghiên cứu tiến hành sàng lọc trên mẫu gồm $1.721$ phụ nữ mang thai đến khám và quản lý thai nghén tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng trong giai đoạn 2017-2018, từ đó xác định được nhóm thai phụ mang HBV mạn tính gồm 183 người đưa vào theo dõi dọc các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng.

2. Những yếu tố nào của người mẹ liên quan chặt chẽ nhất đến nguy cơ lây truyền HBV sang con?

Dữ liệu nghiên cứu và y văn phân tích trong luận án khẳng định hai yếu tố nguy cơ quan trọng nhất là: nồng độ vi rút HBV-DNA của người mẹ ở mức cao (đặc biệt là mức $\ge 200.000\text{ IU/ml}$ hoặc $\ge 10^6\text{ bản sao/ml}$ vào 3 tháng cuối thai kỳ) và tình trạng kháng nguyên vỏ HBeAg dương tính lúc chuyển dạ sinh. Trẻ sinh ra từ các bà mẹ có cả hai yếu tố này có tỉ lệ mang HBsAg trong máu cuống rốn và tỉ lệ thất bại dự phòng miễn dịch chu sinh cao hơn rõ rệt so với nhóm mẹ có HBeAg âm tính hoặc tải lượng vi rút thấp.

3. Phác đồ điều trị thuốc kháng vi rút cho phụ nữ mang thai được khuyến cáo như thế nào theo các quy định y tế trong luận án?

Theo Quyết định số 5448/QĐ-BYT (năm 2014) và Quyết định cập nhật số 3310/QĐ-BYT (năm 2019) của Bộ Y tế, phụ nữ mang thai có nồng độ HBV-DNA huyết thanh cao ($> 200.000\text{ IU/ml}$ hoặc $> 10^6\text{ bản sao/ml}$) được khuyến cáo sử dụng Tenofovir Disoproxil Fumarate (TDF) liều 300 mg/ngày từ tuần thứ 24 đến 28 của thai kỳ và duy trì kéo dài từ 4 đến 12 tuần sau sinh để hạ nồng độ vi rút của mẹ trước sinh, giảm thiểu nguy cơ lây truyền sang con.

4. Can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe mang lại kết quả cụ thể nào trên nhân viên y tế và thai phụ?

Sau can thiệp, điểm trung bình kiến thức và thái độ của phụ nữ mang thai về đường lây truyền và các biện pháp dự phòng tăng lên rõ rệt, dẫn đến sự gia tăng tỉ lệ đồng thuận điều trị kháng vi rút và cho con tiêm đủ vắc xin/HBIg. Đối với 131 nhân viên y tế, điểm trung bình kiến thức tổng thể, kiến thức về dịch tễ, chẩn đoán, phác đồ điều trị TDF thai kỳ và quy trình phối hợp vắc xin VGB sơ sinh cùng HBIg đều tăng có ý nghĩa thống kê so với trước can thiệp ($p < 0,05$).

5. Quan điểm của luận án và y văn về việc nuôi con bằng sữa mẹ và phương thức sinh (mổ so với sinh thường) ở bà mẹ mang HBV như thế nào?

Luận án chỉ ra rằng hình thức nuôi dưỡng (bú mẹ hoàn toàn so với bú sữa công thức) không làm tăng nguy cơ lây truyền HBV sang trẻ 12 tháng tuổi nếu trẻ đã được tiêm phòng đầy đủ vắc xin VGB sơ sinh và HBIg ngay sau sinh. Tương tự, phương thức sinh (sinh mổ so với sinh thường qua đường âm đạo) không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỉ lệ lây truyền sau khi đã kiểm soát các yếu tố dự phòng; do đó sinh mổ không được khuyến cáo như một biện pháp thường quy để phòng lây truyền HBV trừ khi có chỉ định sản khoa khác.

Kết luận

Luận án Tiến sĩ Y tế công cộng của tác giả Nguyễn Thị Thuỳ Linh đã phản ánh thực trạng lây truyền vi rút viêm gan B từ mẹ sang con và các yếu tố nguy cơ liên quan trên quần thể phụ nữ mang thai tại Bệnh viện Phụ Sản Hải Phòng giai đoạn 2017-2020. Công trình chứng minh vai trò quyết định của việc kiểm soát tải lượng HBV-DNA của mẹ bằng thuốc kháng vi rút TDF kết hợp liệu pháp miễn dịch chủ động - thụ động (vắc xin sơ sinh và HBIg) trong 24 giờ đầu sau sinh. Đồng thời, luận án khẳng định can thiệp truyền thông giáo dục sức khỏe là giải pháp y tế công cộng hiệu quả, giúp nâng cao toàn diện năng lực chuyên môn của nhân viên y tế và nhận thức thực hành của thai phụ, đóng góp cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng cho mục tiêu kiểm soát và loại trừ lây truyền viêm gan B chu sinh tại Việt Nam.