Luận án nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ 25 hydroxyvitamin d huyết tương với kháng insulin và hiệu quả bổ sung vitamin d đối với kháng insulin trong đái tháo đường thai kỳ

Nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ 25 hydroxyvitamin D và kháng insulin trong đái tháo đường thai kỳ, cùng hiệu quả bổ sung vitamin D.

Trường đại học

Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Nội tiết

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2016

171
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tổng quan về vitamin D

1.1.1. Bản chất hóa học và chuyển hóa của vitamin D

1.1.2. Bản chất hóa học và nguồn cung cấp vitamin D

1.2. Cơ chế hoạt động và vai trò sinh lý của vitamin D

1.2.1. Cơ chế hoạt động của vitamin D

1.2.2. Vai trò sinh lý của vitamin D

2. ĐẶT VẤN ĐỀ

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Tiêu chuẩn lựa chọn

3.3. Tiêu chuẩn loại trừ

3.4. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.5. Thiết kế nghiên cứu

3.6. Cỡ mẫu nghiên cứu

3.7. Tiến hành nghiên cứu

3.7.1. Chọn mẫu và đánh giá ban đầu

3.7.2. Can thiệp bổ sung vitamin D

3.7.3. Các số liệu thu thập tại các lần khám

3.8. Điều trị ĐTĐTK và thiếu vitamin D

3.9. Phương pháp thu thập số liệu

3.10. Các tiêu chuẩn chẩn đoán và đánh giá

3.11. Các biến số nghiên cứu

3.12. Xử lý và phân tích số liệu

3.13. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

4.1.1. Các đặc điểm chung

4.1.2. Đặc điểm về hóa sinh

4.2. Tình trạng vitamin D và một số yếu tố liên quan

4.3. Kháng insulin và một số yếu tố liên quan

4.4. Mối liên quan giữa nồng độ 25(OH)D huyết tương với kháng insulin

4.4.1. Tương quan tuyến tính giữa nồng độ 25(OH)D HT với kháng insulin

4.4.2. Liên quan giữa tình trạng vitamin D với kháng insulin

4.5. Hiệu quả bổ sung vitamin D đối với kháng insulin

4.5.1. Các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu trước bổ sung vitamin D

4.5.2. Tuần thai, thời gian dùng vitamin D, cân nặng và BMI của thai phụ tại các lần khám

4.5.3. Thay đổi về vitamin D sau bổ sung vitamin D

4.5.4. Điều trị ĐTĐ thai kỳ

4.5.5. Thay đổi về glucose máu và HbA1c sau bổ sung vitamin D

4.5.6. Thay đổi về insulin, C-peptid HT lúc đói và các chỉ số HOMA2-IR sau bổ sung vitamin D

4.5.7. Thay đổi nồng độ calci huyết tương sau bổ sung vitamin D

PHỤ LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC HÌNH

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về Vitamin D

Vitamin D là một nhóm các hợp chất hòa tan trong chất béo, bao gồm Cholecalciferol (Vitamin D3) và Ergocalciferol (Vitamin D2). Cholecalciferol chủ yếu được tổng hợp qua da dưới tác động của ánh sáng mặt trời, chiếm 90-95% tổng lượng vitamin D trong cơ thể. Vitamin D có vai trò quan trọng trong việc điều hòa chuyển hóa canxi và phốt pho, ảnh hưởng đến sức khỏe xương và hệ miễn dịch. Thiếu vitamin D có thể dẫn đến nhiều vấn đề sức khỏe, bao gồm cả các rối loạn chuyển hóa và bệnh lý như đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK). Nghiên cứu cho thấy nồng độ 25-hydroxyvitamin D huyết tương có mối liên quan nghịch với kháng insulin, cho thấy tầm quan trọng của việc duy trì nồng độ vitamin D đầy đủ trong thai kỳ.

1.1. Bản chất hóa học và chuyển hóa của vitamin D

Vitamin D được tổng hợp từ cholesterol và có hai dạng chính là D2 và D3. Quá trình chuyển hóa vitamin D bắt đầu khi nó được hydroxyl hóa tại gan để tạo thành 25-hydroxyvitamin D, sau đó tiếp tục được hydroxyl hóa tại thận để tạo thành 1,25-dihydroxyvitamin D, dạng hoạt động của vitamin D. Dạng này có tác dụng sinh học mạnh mẽ, điều hòa nhiều quá trình sinh lý trong cơ thể, bao gồm cả việc điều chỉnh nồng độ canxi và phốt pho trong máu.

II. Đái tháo đường thai kỳ và kháng insulin

Đái tháo đường thai kỳ (ĐTĐTK) là tình trạng tăng đường huyết xảy ra trong thai kỳ, có thể gây ra nhiều biến chứng cho cả mẹ và thai nhi. Kháng insulin là một yếu tố chính trong cơ chế bệnh sinh của ĐTĐTK, dẫn đến sự suy giảm khả năng sử dụng glucose của tế bào. Nghiên cứu cho thấy rằng kháng insulin có thể gia tăng trong thai kỳ do sự thay đổi hormon và các yếu tố sinh lý khác. Việc hiểu rõ về mối liên quan giữa kháng insulin và vitamin D có thể giúp phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả hơn cho phụ nữ mang thai mắc ĐTĐTK.

2.1. Định nghĩa và chẩn đoán ĐTĐTK

ĐTĐTK được định nghĩa là tình trạng tăng đường huyết lần đầu tiên được phát hiện trong thai kỳ. Tiêu chuẩn chẩn đoán ĐTĐTK thường dựa trên các xét nghiệm dung nạp glucose. Việc sàng lọc ĐTĐTK là rất quan trọng để phát hiện sớm và điều trị kịp thời, nhằm giảm thiểu nguy cơ biến chứng cho mẹ và thai nhi.

III. Tác động của vitamin D lên kháng insulin

Vitamin D có tác động tích cực đến kháng insulin thông qua nhiều cơ chế khác nhau. Nghiên cứu cho thấy vitamin D có thể làm tăng biểu hiện của thụ thể insulin, kích thích tổng hợp PPARδ, và điều hòa cân bằng nội môi canxi. Ngoài ra, vitamin D còn có khả năng ức chế tổng hợp các cytokine viêm, từ đó giảm thiểu tình trạng viêm nhiễm có thể gây ra kháng insulin. Những phát hiện này mở ra hướng đi mới trong việc điều trị ĐTĐTK thông qua bổ sung vitamin D.

3.1. Cơ chế tác động của vitamin D lên kháng insulin

Vitamin D tác động lên kháng insulin thông qua việc kích thích các thụ thể và điều hòa các con đường tín hiệu trong tế bào. Cụ thể, vitamin D có thể làm tăng độ nhạy insulin, giảm kháng insulin và cải thiện tình trạng glucose máu. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng bổ sung vitamin D có thể cải thiện các chỉ số kháng insulin ở phụ nữ mang thai mắc ĐTĐTK, từ đó hỗ trợ điều trị hiệu quả hơn.

IV. Nghiên cứu về vitamin D và kháng insulin trong ĐTĐTK

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa nồng độ vitamin D và kháng insulin ở phụ nữ mang thai. Các nghiên cứu này cho thấy nồng độ 25(OH)D huyết tương có mối tương quan nghịch với kháng insulin, đồng thời bổ sung vitamin D có thể cải thiện tình trạng kháng insulin. Việc xác định mối liên quan này là rất quan trọng để phát triển các chiến lược điều trị và dự phòng cho phụ nữ mang thai mắc ĐTĐTK.

4.1. Nghiên cứu về hiệu quả bổ sung vitamin D

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng bổ sung vitamin D có thể làm giảm kháng insulin và cải thiện glucose máu ở phụ nữ mang thai. Những nghiên cứu này cung cấp bằng chứng cho thấy việc bổ sung vitamin D có thể là một phương pháp điều trị hiệu quả cho phụ nữ mang thai mắc ĐTĐTK, đặc biệt là những người có tình trạng thiếu vitamin D. Điều này mở ra cơ hội mới trong việc quản lý và điều trị ĐTĐTK.

25/01/2025
Luận án nghiên cứu mối liên quan giữa nồng độ 25 hydroxyvitamin d huyết tương với kháng insulin và hiệu quả bổ sung vitamin d đối với kháng insulin trong đái tháo đường thai kỳ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về vitamin D 1. Bản chất hóa học và chuyển hóa của vitamin D [20],[21],[22] 1. Bản chất hóa học và nguồn cung cấp vitamin D Vitamin D gồm 2 loại là Cholecalciferol (Vitamin D3) - dẫn suất 27 nguyên tử carbon của cholesterol và Ergocalciferol (Vitamin D2) - dẫn suất 28 nguyên tử carbon của sterol ergosterol thực vật.

Nguồn cung cấp vitamin D chủ yếu cho cơ thể là tổng hợp vitamin D3 ở da, chiếm 90 – 95% tổng thu nhập vitamin D của cơ thể. Quá trình tổng hợp vitamin D3 xảy ra dưới tác động của tia cực tím trong ánh nắng mặt trời với bước sóng 290 – 315 nm. Nguồn cung cấp thứ yếu vitamin D là từ thức ăn, chiếm 5 – 10% tổng thu nhập vitamin D của cơ thể, phần lớn là vitamin D2. Chuyển hóa vitamin D Khi đi vào trong máu vitamin D được hydroxyl hóa bởi 25-hydroxylase ở gan để chuyển thành 25-hydroxyvitamin D (25(OH)D), sau đó 25(OH)D được hydroxyl hóa bởi 1-hydroxylase ở thận để chuyển thành 1,25- dihydroxyvitamin D (1,25(OH)2D).

1,25(OH)2D được bài tiết từ thận vào máu đến các cơ quan trong cơ thể để tạo ra hiệu ứng sinh học, do đó nó được coi là một hormon. Bên cạnh đó, nhiều tế bào khác trong cơ thể như neuron thần kinh, tế bào bạch cầu, các tế bào ở tuyến vú, tiền liệt tuyến, đại tràng … cũng có 1-hydroxylase để chuyển 25(OH)D thành 1,25(OH)2D cho sử dụng tại chỗ. Đây là hiện tượng tự nội tiết (autocrine). Cơ chế hoạt động và vai trò sinh lý của vitamin D 1.

Cơ chế hoạt động của vitamin D Dạng hoạt động của vitamin D – 1,25(OH)2D – là hormon tác động 5 thông qua gắn lên hoạt hóa thụ thể vitamin D (vitamin D receptor - VDR) ở nhân tế bào. Khi được hoạt hóa, VDR gắn với một thụ thể có cấu trúc tương tự là thụ thể retinoid-X (retinoid-X-receptor- RXR), tạo thành phức hợp 2 chuỗi không đồng nhất (heterodimer) và thu nạp thêm các yếu tố đồng hoạt hóa khác. Các chất đồng hoạt hóa liên kết phức hợp thụ thể này với bộ máy sao mã và như thế điều hòa quá trình sao chép các gen đích, dẫn đến các hiệu ứng sinh học của vitamin D. Vitamin D còn có cơ chế tác động không thông qua bộ gen, mà thông qua thụ thể trên màng tế bào của 1,25(OH)2D, bao gồm: mở kênh calci hoặc chlorid, hoạt hóa các con đường tín hiệu thứ cấp như quay vòng phosphoinositide, hoạt hóa protein kinase C, kinase được điều hòa bởi tín hiệu ngoại bào, protein kinase được hoạt hóa bởi yếu tố kích thích phân bào (MAPK), kháng lại con đường tín hiệu JNK.

Vai trò sinh lý của vitamin D * Vai trò của vitamin D trong chuyển hóa calci, phốt-pho và xương Vitamin D tham gia duy trì ổn định nồng độ ion calci (Ca 2+) và phosphat (PO43-) trong máu. Khi nồng độ Ca2+, PO43- trong máu giảm, sản xuất 1,25(OH)2D ở thận tăng lên thông qua các cơ chế khác nhau. Giảm nồng độ PO43- trong máu hoạt hóa 1α-hydroxylase ở thận và giảm nồng độ Ca2+ máu kích thích bài tiết hormon cận giáp trạng (PTH) - hormon gây hoạt hóa 1α-hydroxylase ở thận. Hoạt hóa 1α-hydroxylase dẫn đến tăng sản xuất 1,25(OH)2D, hormon này làm tăng hấp thụ Ca2+ và PO43- từ ruột vào máu, tăng tái hấp thụ Ca2+ ở thận.

Dưới tác động của PTH và 1,25(OH)2D tế bào tạo xương (osteoblast) được hoạt hóa và gây chuyển tế bào tiền hủy xương (preosteoclast) thành tế bào hủy xương trưởng thành (osteoclast). Tế bào hủy xương trưởng thành gây tiêu xương và giải phóng Ca 2+ và PO43- vào máu. Kết quả của các quá trình trên dẫn đến tăng nồng độ hai ion này trong máu. 6 Ngược lại, khi nồng độ hai ion này trong máu tăng, sản xuất 1,25(OH) 2D ở thận giảm và các quá trình làm tăng 2 ion này trong máu ở trên giảm đi.

* Các vai trò khác của vitamin D Vitamin D tham gia vào sự điều hòa các quá trình tăng trưởng, tăng sinh và biệt hóa tế bào, đặc biệt là ở tuyến vú, tiền liệt tuyến và đại tràng, do vậy vitamin D có vai trò ngăn ngừa bệnh ung thư ở các cơ quan này. Vitamin D cũng tham gia vào sự điều biến miễn dịch thông qua tác động lên bạch cầu đơn nhân và đại thực bào, nhờ đó nó có tác dụng ngăn chặn bệnh tự miễn và giúp kiểm soát vi khuẩn. Vitamin D còn đóng vai trò trong sự phát triển hệ thần kinh, điều hòa huyết áp, bảo vệ hệ tim mạch, đảm bảo chức năng bình thường của cơ, tăng nhạy cảm insulin hay giảm kháng insulin. Đánh giá tình trạng vitamin D Thời gian bán hủy của 25(OH)D là 2 – 3 tuần, dài hơn rất nhiều so với vitamin D với thời gian bán hủy là 1 – 2 ngày và 1,25(OH)2D với thời gian bán hủy khoảng 4 giờ.

Mặt khác, nồng độ 25(OH)D trong máu liên quan trực tiếp với thu nhập vitamin D được tạo thành ở da dưới sự xúc của da của tia cực tím và hấp thụ từ thức ăn, trong khi nồng độ 1,25(OH)2D được kiểm soát chủ yếu bởi nồng độ calci, phosphat và PTH máu, và không liên quan trực tiếp với thu nhập, dự trữ vitamin D. Vitamin D và các chất chuyển hóa của nó được dự chữ chủ yếu ở mô mỡ. Ngoài ra, do thời gian bán hủy trong máu kéo dài đến 2 – 3 tuần, lượng 25(OH)D trong máu cũng là một dạng dự trữ đáng kể của vitamn D. Cho đến nay chưa có sự đồng thuận về ngưỡng 25(OH)D huyết tương trong đánh giá tình trạng thiếu vitamin D.

Các tác giả, các tổ chức y tế khác nhau đã đưa ra các tiêu chuẩn đánh giá trình trạng vitamin D khác nhau: 7 Bảng 1.Các tiêu chuẩn phân loại tình trạng vitamin D Tình trạng vitamin D theo nồng độ 25(OH)D huyết tương (nmol/L) Tác giả Thiếu nặng Thiếu nhẹ Đủ Ngộ độc (Deficiency) (Insufficiency) (Sufficiency) (Intoxication) Hollis 2005 [25] < 80 80 - 225 > 225 Holick 2007 [21] <50 50 - <75 75 – 225 > 225 Viện Y học Mỹ < 30 30 - <50 ≥ 50 2010 [23] Hội Nội tiết Mỹ < 50 50 - <75 75 – 250 > 250 2011 [24] Ngưỡng thiếu vitamin D khi nồng độ 25(OH)D huyết tương dưới 75 nmol/L theo quan điểm của Hội Nội tiết Mỹ năm 2011 [24] được đa số các tác giả trên thế giới ủng hộ do dựa trên các bằng chứng từ các nghiên cứu về mối liên quan giữa nồng độ 25(OH)D huyết tương với tình trạng PTH huyết tương, hấp thụ calci ở ruột và các hậu quả của thiếu vitamin D như tổn thương xương vi thể, còi xương, nhuyễn xương, loãng xương và nguy cơ gẫy xương: Nồng độ PTH huyết tương có tương quan nghịch với nồng độ 25(OH)D huyết tương cho đến khi nồng độ 25(OH)D đạt 75 – 100 nmol/L, từ mức này của 25(OH)D, nồng độ PTH huyết tương có dạng bình nguyên. Vận chuyển calci từ ruột vào máu tăng 45 – 65% ở phụ nữ khi nồng độ 25(OH)D tăng từ 50 lên 80 nmol/L. Nghiên cứu của Priemel và CS về mối liên quan giữa các thông số cấu trúc xương trên sinh thiết xương chậu ở 675 người cho thấy không có sự tích lũy khuôn xương bất thường - chưa hóa vôi (osteoid) ở xương khi nồng độ 25(OH)D huyết tương trên 75 nmol/L. Trong Điều tra sức khỏe và dinh dưỡng toàn quốc ở Mỹ lần thứ 3 trên hơn 13 nghìn người mật độ xương ở cổ xương đùi có tương quan thuận với nồng độ 25(OH)D huyết tương trong suốt giải nồng độ từ 22,5 – 92,5 nmol/L [26], có nghĩa là nồng độ 25(OH)D huyết tương trên 75 nmol/L vẫn có lợi đối với mật độ xương.

Một 8 phân tích gộp công bố vào năm 2005 cho thấy hiệu quả chống gẫy xương xuất hiện khi nồng độ 25(OH)D huyết tương đạt được tối thiểu là 75 nmol/L [24]. Nguyên nhân của thiếu vitamin D Các nguyên nhân của thiếu vitamin D được chia thành 4 nhóm chính: giảm tổng hợp vitamin D ở da, giảm hấp thụ vitamin D ở ruột, rối loạn chuyển hóa vitamin D và rối loạn đáp ứng với vitamin D. Liên quan của thiếu vitamin D với các bệnh lý Thiếu vitamin D có liên quan đến nhiều bệnh lý khác nhau ngoài các rối loạn về chuyển hóa calci và các bệnh lý ở xương. Sau đây là các bệnh lý có liên quan hoặc là hậu quả của thiếu vitamin D: - Còi xương ở trẻ em; loãng xương, nhuyễn xương, tăng nguy cơ gẫy xương ở người lớn, đặc biệt là ở phụ nữ mãn kinh, người cao tuổi.

- Suy giảm cơ lực, tăng nguy cơ ngã ở người cao tuổi - Tăng kháng insulin dẫn đến tăng nguy cơ mắc bệnh ĐTĐ 2 và hội chứng chuyển hóa - Tăng huyết áp và các protein phản ứng viêm dẫn đến tăng nguy cơ bệnh tim mạch - Tăng nguy cơ mắc các bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư vú, đại tràng và tiền liệt tuyến - Tăng nguy cơ mắc các bệnh tự miễn như ĐTĐ týp 1, lupus ban đỏ hệ thống, viêm khớp dạng thấp, xơ cứng rải rác, bệnh Crohn…. - Giảm khả năng miễn dịch chống vi khuẩn như trực khuẩn lao - Tăng nguy cơ mắc bệnh tâm thần phân liệt, trầm cảm * Thiếu vitamin D trong thời kỳ mang thai còn gây thêm một số hậu quả sau: - Đối với mẹ: tăng nguy cơ mắc ĐTĐTK, tăng nguy cơ tiền sản giật 9 - Đối với thai nhi và trẻ em: chậm tăng trưởng thai nhi, cân nặng sơ sinh thấp, hạ calci máu, còi xương ở trẻ sơ sinh, tăng nguy cơ hen phế quản ở trẻ em. Tình hình thiếu vitamin D trên thế giới và Việt Nam Thiếu vitamin D là tình trạng rất phổ biến ở dân số chung cũng như ở phụ nữ và phụ nữ mang là nhóm có nguy cơ cao bị thiếu vitamin D. Tỷ lệ thiếu vitamin D rất nặng với nồng độ 25(OH)D huyết tương <25 nmol/L ở phụ nữ dao động từ 26 – 84% ở các nước khác nhau [1].

Thậm chí ở cả vùng nhiệt đới tỷ lệ thiếu vitamin D cũng rất cao ở phụ nữ: ở một vùng thuộc Nam Ấn Độ tỷ lệ thiếu vitamin D nặng là 92%, ở phụ nữ Hong Kong tỷ lệ thiếu vitamin D là trên 90% và tỷ lệ thiếu vitamin D nặng là 40% [27], ở phụ nữ Thái Lan tỷ lệ thiếu vitamin D là 57% [28], ở phụ nữ Malaysia tỷ lệ thiếu vitamin D là 49% [29]. Tỷ lệ thiếu vitamin D rất nặng với nồng 25(OH)D huyết tương < 25 nmol/L ở phụ nữ mang thai ở các vùng khác nhau trên thế giới dao động từ 18 – 84%: 25% ở Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất; 80% ở Iran; 42% ở Bắc Ấn Độ; 61% ở New Zealand và 60-80% ở phụ nữ mang thai da màu ở Hà Lan [1].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Nghiên Cứu Mối Liên Quan Giữa Nồng Độ 25 Hydroxyvitamin D và Kháng Insulin Trong Đái Tháo Đường Thai Kỳ" của tác giả Lê Quang Toàn, dưới sự hướng dẫn của PGS. Đỗ Trung Quân và TS. Nguyễn Văn Tiến, tập trung vào việc khám phá mối liên hệ giữa nồng độ vitamin D và tình trạng kháng insulin ở phụ nữ mang thai mắc đái tháo đường. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò của vitamin D trong việc điều chỉnh insulin mà còn mở ra hướng đi mới cho việc điều trị và phòng ngừa đái tháo đường thai kỳ, từ đó giúp cải thiện sức khỏe cho cả mẹ và bé.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến đái tháo đường và sức khỏe, bạn có thể tham khảo bài viết Nghiên cứu mức lọc cầu thận bằng cystatin C ở bệnh nhân tiền đái tháo đường và đái tháo đường típ 2, nơi nghiên cứu về các chỉ số sinh học liên quan đến đái tháo đường. Ngoài ra, bài viết Mối liên quan giữa resistin, visfatin và nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2 cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về các yếu tố nguy cơ tim mạch liên quan đến bệnh đái tháo đường. Cuối cùng, bài viết Nghiên cứu nồng độ IgA, IgG, IgM huyết tương ở bệnh nhân hội chứng thận hư nguyên phát có thể giúp bạn hiểu rõ hơn về các chỉ số miễn dịch trong bối cảnh bệnh lý liên quan đến đái tháo đường. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề sức khỏe liên quan đến đái tháo đường và các yếu tố sinh học ảnh hưởng đến nó.