Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Nhiễm virus viêm gan B (HBV) là một vấn đề y tế công cộng mang tính toàn cầu. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 30% dân số thế giới (tương đương 2 tỷ người) đã từng bị nhiễm virus viêm gan B, trong đó có hơn 350 triệu người mang virus mạn tính với kháng nguyên bề mặt HBsAg dương tính kéo dài trên 6 tháng. Diễn tiến tự nhiên của bệnh viêm gan B mạn tính có thể chuyển biến âm thầm sang giai đoạn tiến triển, dẫn tới các biến chứng nghiêm trọng như xơ gan mất bù và ung thư biểu mô tế bào gan (HCC). Tại Việt Nam, ước tính có khoảng 7,8 triệu ca nhiễm viêm gan B mạn tính, với hơn 13.000 trường hợp xơ gan mất bù, gần 6.000 ca ung thư tế bào gan và hơn 6.400 trường hợp tử vong hàng năm liên quan đến các bệnh lý về gan. Mặc dù gánh nặng bệnh tật rất lớn, chỉ có khoảng 74.000 người bệnh từng được tiếp cận điều trị trước đó.
Hiệu quả kiểm soát tải lượng virus và cải thiện tiên lượng sống lâu dài phụ thuộc chặt chẽ vào việc tuân thủ phác đồ điều trị bằng thuốc kháng virus đường uống (NUCs). Việc điều trị viêm gan B thường phải kéo dài nhiều năm hoặc suốt đời. Tình trạng không tuân thủ dùng thuốc (quên liều, tự ý ngưng thuốc, uống sai giờ, sai cách) là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến thất bại điều trị, bùng phát virus và thúc đẩy đột biến kháng thuốc, đặc biệt làm giảm hiệu lực của các thuốc có rào cản di truyền cao như tenofovir hay entecavir. Nhiều nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị tối ưu ở bệnh nhân viêm gan B còn thấp (dao động từ 24,2% đến 66%), kéo theo tỷ lệ xuất hiện chủng đột biến kháng thuốc lên tới 22,2% - 33,3%.
Nhằm đánh giá thực tế và đưa ra các can thiệp điều dưỡng phù hợp, chuyên đề tốt nghiệp chuyên ngành Nội người lớn tại Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định do học viên Nguyễn Thị Bích Liên thực hiện (dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Thanh Hường) đã tập trung vào đề tài: "Thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc kháng virus trên người bệnh viêm gan B mạn tính tiến triển tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2020".
Nghiên cứu xác định 2 mục tiêu cụ thể:
- Mô tả thực trạng tuân thủ dùng thuốc kháng virus trên người bệnh viêm gan B mạn tính tiến triển tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2020.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao thực trạng tuân thủ dùng thuốc kháng virus trên người bệnh viêm gan B mạn tính tiến triển tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Người bệnh viêm gan B mạn tính tiến triển đang được quản lý và điều trị ngoại trú bằng thuốc kháng virus.
- Phạm vi không gian: Phòng khám Truyền nhiễm thuộc Khoa Truyền nhiễm, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc.
- Phạm vi thời gian: Số liệu và khảo sát được thực hiện trong năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và hướng dẫn chuyên môn
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên các cơ sở chuyên môn và hướng dẫn y khoa:
- Quyết định số 3310/QĐ-BYT ngày 29/07/2019 của Bộ trưởng Bộ Y tế về Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị và phòng bệnh viêm gan virus B.
- Khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) về gánh nặng bệnh tật viêm gan và hướng dẫn tăng cường tuân thủ điều trị trong các bệnh lý mạn tính dài hạn (2003, 2017).
- Hướng dẫn lâm sàng của Hiệp hội Nghiên cứu Bệnh Gan Châu Á - Thái Bình Dương (APASL 2015) và các nghiên cứu về đột biến kháng thuốc (Nguyễn Thị Nhã Đoan, Bùi Phan Quỳnh Phương, Nguyễn Minh Ngọc...).
Các chỉ số sinh học và tiêu chuẩn điều trị được áp dụng gồm: tình trạng HBsAg, HBeAg, anti-HBe, anti-HBc; nồng độ men gan AST, ALT; định lượng tải lượng HBV-DNA; mức độ xơ hóa mô gan qua chỉ số APRI, FibroTest hoặc đo độ đàn hồi gan; cùng các thuốc ức chế sao chép virus như Tenofovir disoproxil fumarate (TDF), Tenofovir alafenamide (TAF), Entecavir (ETV), Lamivudine (LAM), Adefovir (ADV), Peg-IFN.
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang.
- Phương pháp thu thập thông tin: Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi cấu trúc chuẩn hóa (gồm thông tin chung về nhân khẩu học, bệnh học và các câu hỏi thang đo đánh giá hành vi tuân thủ dùng thuốc trong vòng 1 tuần qua).
- Cỡ mẫu: Khảo sát trên 40 người bệnh viêm gan B mạn tính đang điều trị ngoại trú tại phòng khám Truyền nhiễm.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu phỏng vấn trực tiếp người bệnh kết hợp với số liệu quản lý hồ sơ bệnh án ngoại trú và số liệu hành chính của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương 1 hệ thống hóa các kiến thức bệnh học, phác đồ điều trị và bằng chứng thực tiễn về bệnh viêm gan virus B:
- Tổng quan về bệnh sinh và dịch tễ: Virus HBV thuộc họ Hepadnaviridae, cấu trúc ADN chuỗi kép, có 3 hệ thống kháng nguyên - kháng thể chính (HBsAg/Anti-HBs, HBeAg/Anti-HBe, HBcAg/Anti-HBc). Phương thức lây truyền qua đường máu, quan hệ tình dục không an toàn và lây truyền từ mẹ sang con (nếu mẹ có HBeAg dương tính, tỷ lệ truyền bệnh cho thai nhi lên tới hơn 80%). Việt Nam nằm trong vùng dịch tễ lưu hành cao với tỷ lệ nhiễm HBsAg từ 10% đến 25%.
- Nguyên tắc điều trị theo Bộ Y tế: Chỉ định điều trị thuốc kháng virus dựa trên sự phối hợp giữa nồng độ ALT tăng trên 2 lần giới hạn bình thường (hoặc có xơ hóa gan tiến triển) và nồng độ HBV-DNA ($\ge 20.000\text{ IU/ml}$ khi HBeAg dương tính hoặc $\ge 2.000\text{ IU/ml}$ khi HBeAg âm tính). Các thuốc kháng virus đầu tay ưu tiên là TDF (300mg/ngày) hoặc ETV (0,5mg/ngày). Quy trình theo dõi yêu cầu xét nghiệm men gan, chức năng thận mỗi 3–6 tháng và định lượng HBV-DNA định kỳ để đánh giá đáp ứng và phát hiện sớm hiện tượng thất bại điều trị hoặc đột biến kháng thuốc.
- Thực trạng tuân thủ điều trị: Báo cáo tổng hợp các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị bệnh mạn tính và thuốc kháng virus ở Việt Nam còn nhiều hạn chế (bệnh nhân tăng huyết áp tuân thủ 49,5%; HIV tuân thủ 71%; lao tuân thủ 79,8%; viêm gan B tại TP. Hồ Chí Minh tuân thủ 63,8%; tại Bệnh viện Bắc Thăng Long có tới 75,8% tuân thủ kém). Điều này phản ánh nhu cầu cấp thiết phải nâng cao nhận thức và quản lý tuân thủ dùng thuốc.
Chương 2: Mô tả vấn đề cần giải quyết
Chương 2 trình bày điều kiện cơ sở thực tiễn của đơn vị nghiên cứu và kết quả khảo sát chi tiết trên 40 người bệnh:
- Bối cảnh Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc: Là bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh hạng I, quy mô 900 giường kế hoạch (922 giường thực kê), 44 khoa/phòng/trung tâm, 881 cán bộ nhân viên. Khoa Truyền nhiễm có 6 bác sĩ (1 BSCKII, 5 BSCKI) và 9 điều dưỡng (8 cử nhân điều dưỡng), phụ trách quản lý điều trị ngoại trú cho 932 người bệnh viêm gan B mạn tính.
- Đặc điểm mẫu nghiên cứu ($n=40$):
- Độ tuổi: Nhóm 20 đến dưới 40 tuổi chiếm 60,0% (24 người); nhóm 40–60 tuổi chiếm 25,0% (10 người); nhóm trên 60 tuổi chiếm 15,0% (6 người).
- Giới tính: Nam giới chiếm 60,0%; nữ giới chiếm 40,0%.
- Nghề nghiệp: Nông dân chiếm tỷ lệ cao nhất (30,0%), tiếp theo là công nhân, cán bộ, hưu trí; nội trợ chiếm 2,5%.
- Học vấn: Trung cấp/cao đẳng chiếm 32,5%; trung học phổ thông chiếm 30,0%; trung học cơ sở chiếm 20,0%; đại học và sau đại học chiếm 12,5%; tiểu học trở xuống chiếm 5,0%.
- Thời gian phát hiện bệnh: Dưới 1 năm (27,5%), từ 1–5 năm (50,0%), trên 5 năm (22,5%).
- Thời gian điều trị thuốc kháng virus: Dưới 12 tháng (40,0%), từ 12–36 tháng (40,0%), trên 36 tháng (20,0%).
- Thực trạng tuân thủ dùng thuốc:
- Tỷ lệ không bao giờ quên uống thuốc là 30,0%; 47,5% hiếm khi quên và 10,0% thường xuyên quên.
- Tỷ lệ không bao giờ bỏ thuốc đạt 35,0%; 55,0% hiếm khi bỏ và 7,5% thường xuyên bỏ thuốc.
- Chỉ có 25,6% người bệnh tuân thủ uống thuốc đúng giờ nghiêm ngặt; 48,7% thỉnh thoảng uống sai giờ và 20,5% hiếm khi uống đúng giờ.
- Tỷ lệ uống thuốc đúng cách theo chỉ định đạt 67,5%; trong khi 27,5% hiếm khi uống sai cách và 5,0% thỉnh thoảng/thường xuyên sai cách.
- Lý do không tuân thủ và kỹ năng xử lý sự cố:
- Lý do quên thuốc chủ yếu do "bận nhiều việc" (37,9%) và "quên không mang theo thuốc" (34,5%).
- Lý do bỏ thuốc hàng đầu là "hết thuốc chưa kịp đi lấy" (53,8%) và "thấy bệnh đỡ nên không uống" (11,5%).
- Lý do uống sai cách chủ yếu do "thay đổi chế độ sinh hoạt hàng ngày" (40,0%) và "không nhớ hướng dẫn của bác sĩ" (25,0%).
- Về kỹ năng xử trí: 84,6% người bệnh xử lý đúng khi phối hợp thuốc khác; 77,8% xử lý đúng khi gặp tác dụng phụ; nhưng chỉ 66,7% xử lý đúng khi quên liều. Đáng lưu ý, 60,0% người bệnh hoàn toàn không sử dụng bất kỳ công cụ nào để nhắc giờ uống thuốc mà chỉ dựa vào trí nhớ cá nhân.
Chương 3: Bàn luận
Chương 3 phân tích sâu sắc các mặt thuận lợi, tồn tại và nguyên nhân gốc rễ trong công tác quản lý điều trị tại đơn vị:
- Ưu điểm ghi nhận: Bệnh viện đã thiết lập quy trình quản lý hồ sơ bệnh án ngoại trú đồng bộ, theo dõi định kỳ 6 tháng/lần xét nghiệm đo tải lượng virus; đảm bảo nguồn cung ứng thuốc bảo hiểm y tế; đội ngũ điều dưỡng và bác sĩ có trình độ chuyên môn cao; đã bước đầu thành lập Câu lạc bộ người bệnh viêm gan B từ năm 2019.
- Tồn tại và rào cản:
- Về cơ sở vật chất: Phòng khám Truyền nhiễm bố trí ghép tại khu khám Ngoại khoa, diện tích chật chội, thiếu phòng tư vấn giáo dục sức khỏe (GDSK) riêng biệt, thiếu màn hình tivi, pano và tài liệu truyền thông trực quan.
- Về quy trình và thời gian: Người bệnh tập trung đông vào buổi sáng gây quá tải cục bộ, thủ tục hành chính còn rườm rà; thời gian nhân viên y tế dành cho tư vấn cá nhân hóa còn ít.
- Về phía người bệnh: Đa số bệnh nhân ở độ tuổi lao động trẻ (60% từ 20–40 tuổi), thường vội vã khi đi khám, chủ quan khi thấy triệu chứng thuyên giảm; sự hỗ trợ nhắc nhở từ gia đình còn rất thấp (chỉ 2,6% - 6,5% có người thân nhắc nhở thường xuyên); tâm lý ngại đến bệnh viện lĩnh thuốc định kỳ do lo ngại dịch bệnh COVID-19.
Kết quả và đóng góp
Tổng hợp số liệu khảo sát thực trạng tuân thủ
| Nội dung khảo sát ($n=40$) |
Tỷ lệ không bao giờ vi phạm (%) |
Tỷ lệ hiếm khi vi phạm (%) |
Tỷ lệ thỉnh thoảng vi phạm (%) |
Tỷ lệ thường xuyên vi phạm (%) |
| Quên uống thuốc kháng virus |
30,0% |
47,5% |
12,5% |
10,0% |
| Tự ý bỏ uống thuốc |
35,0% |
55,0% |
2,5% |
7,5% |
| Uống thuốc không đúng giờ |
25,6% |
20,5% |
48,7% |
5,1% |
| Uống thuốc không đúng cách |
67,5% |
27,5% |
2,5% |
2,5% |
| Vấn đề phát sinh khi dùng thuốc |
Tỷ lệ xử lý đúng (%) |
Tỷ lệ xử lý sai (%) |
| Xử lý khi uống thuốc khác kèm theo |
84,6% |
15,4% |
| Xử lý khi gặp tác dụng phụ của thuốc |
77,8% |
22,2% |
| Xử lý khi quên liều thuốc |
66,7% |
33,3% |
| Sử dụng biện pháp hỗ trợ nhắc uống thuốc |
Có sử dụng: 40,0% |
Không sử dụng (tự nhớ): 60,0% |
Hệ thống giải pháp đề xuất từ nghiên cứu
Báo cáo chuyên đề đã xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện trên 3 trục đối tượng:
-
Giải pháp đối với Bệnh viện và Khoa:
- Cải tiến thủ tục hành chính, rút ngắn thời gian chờ đợi thông qua đăng ký khám bệnh điện tử, sử dụng thẻ khám thông minh và triển khai bệnh án điện tử.
- Bố trí không gian phòng khám thuận tiện, bổ sung phòng tư vấn GDSK riêng; lắp đặt màn hình tivi trình chiếu video hướng dẫn, treo pano, tranh áp phích và phát tờ rơi thông tin tại phòng chờ.
- Chuẩn hóa bộ tài liệu truyền thông giáo dục sức khỏe chuyên biệt về tuân thủ điều trị viêm gan B.
- Tăng cường tập huấn nâng cao kỹ năng truyền thông, giao tiếp và tư vấn cho đội ngũ điều dưỡng; định kỳ tổ chức sinh hoạt chuyên môn điều dưỡng 1 tháng/lần.
- Đa dạng hóa hình thức sinh hoạt Câu lạc bộ người bệnh viêm gan B, tạo diễn đàn để người bệnh chia sẻ kinh nghiệm thực tế.
-
Giải pháp đối với Nhân viên y tế (Bác sĩ, Điều dưỡng):
- Thành lập nhóm hỗ trợ người bệnh trên mạng xã hội (nhóm Zalo) để cung cấp thông tin y khoa chính thống, giải đáp thắc mắc và hỗ trợ tầm soát bệnh trong gia đình.
- Tăng cường sàng lọc, phát hiện nhóm bệnh nhân có nguy cơ tuân thủ kém (người trẻ bận rộn, người sống một mình); chủ động gọi điện thoại nhắc lịch tái khám và hướng dẫn xử trí khi quên thuốc hoặc gặp biến cố bất lợi.
- Ứng dụng phần mềm theo dõi, cảnh báo lịch hẹn tái khám định kỳ để điều dưỡng chủ động liên hệ hỗ trợ người bệnh.
-
Giải pháp đối với Người bệnh và Gia đình:
- Nâng cao ý thức tuân thủ phác đồ, tuyệt đối không tự ý ngưng thuốc, giảm liều hoặc tự mua các loại thuốc không rõ nguồn gốc.
- Chủ động thiết lập các công cụ nhắc nhở như hẹn giờ đồng hồ, đặt lịch báo thức trên điện thoại thông minh thành thói quen cố định trong ngày.
- Ghi chép các phản ứng bất thường của thuốc và liên hệ với bác sĩ điều trị để được tư vấn điều chỉnh kịp thời.
- Vận động người thân trong gia đình cùng tham gia nhắc nhở và hỗ trợ tâm lý trong suốt quá trình điều trị mạn tính.
Đóng góp của nghiên cứu
Báo cáo chuyên đề cung cấp bức tranh thực tế về các rào cản hành vi của người bệnh viêm gan B ngoại trú tại địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Kết quả chỉ ra rằng nguyên nhân không tuân thủ phần lớn đến từ các yếu tố có thể can thiệp được (quên, bận rộn, hết thuốc chưa kịp khám, thiếu công cụ nhắc nhở), từ đó khẳng định vai trò chủ động của người điều dưỡng trong việc tư vấn, thiết lập hệ thống nhắc nhở và quản lý bệnh mạn tính ngoại trú.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu được thực hiện với cỡ mẫu khảo sát tương đối nhỏ ($n=40$) trong phạm vi một phòng khám chuyên khoa tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc. Bên cạnh đó, thời điểm khảo sát năm 2020 chịu tác động từ bối cảnh dịch bệnh COVID-19, ảnh hưởng phần nào đến tâm lý và hành vi đến bệnh viện lĩnh thuốc của người bệnh.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng quy mô mẫu trên nhiều cơ sở y tế tuyến tỉnh và tuyến huyện; đồng thời triển khai các nghiên cứu can thiệp theo dõi dọc để đánh giá hiệu quả thực tế của các giải pháp nhắc lịch qua tin nhắn/Zalo, ứng dụng di động và mô hình tư vấn điều dưỡng cá nhân hóa đối với tỷ lệ ức chế virus HBV-DNA và mức độ cải thiện xơ hóa gan.
Giá trị tham khảo
Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Điều dưỡng, Y học lâm sàng, Y tế công cộng: Tham khảo phương pháp xây dựng công cụ khảo sát hành vi tuân thủ điều trị mạn tính, quy trình phân tích số liệu cắt ngang và kỹ thuật xây dựng kế hoạch chăm sóc giáo dục sức khỏe.
- Điều dưỡng trưởng và điều dưỡng lâm sàng tại các phòng khám ngoại trú: Tham khảo các giải pháp tổ chức góc truyền thông, quy trình tư vấn trước - trong - sau khám và phương thức duy trì câu lạc bộ người bệnh mạn tính.
- Các nhà quản lý bệnh viện: Tham khảo đề xuất ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách thủ tục khám ngoại trú và quản lý hồ sơ bệnh án bệnh truyền nhiễm mạn tính.
Câu hỏi thường gặp
1. Mục tiêu trọng tâm của báo cáo chuyên đề này là gì?
Mục tiêu của đề tài là mô tả thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc kháng virus trên người bệnh viêm gan B mạn tính tiến triển đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2020, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi nhằm nâng cao tỷ lệ tuân thủ điều trị cho người bệnh.
2. Tỷ lệ tuân thủ uống thuốc đúng giờ và đúng cách của người bệnh đạt mức nào?
Khảo sát cho thấy chỉ có 25,6% người bệnh tuân thủ uống thuốc đúng giờ nghiêm ngặt (48,7% thỉnh thoảng uống sai giờ và 5,1% thường xuyên sai giờ). Về cách uống thuốc, 67,5% người bệnh tuân thủ đúng cách theo chỉ định của bác sĩ, trong khi vẫn còn 27,5% hiếm khi và 5,0% thỉnh thoảng hoặc thường xuyên uống sai liều/sai cách.
3. Những lý do phổ biến nhất khiến người bệnh không tuân thủ dùng thuốc là gì?
Lý do phổ biến nhất khi quên uống thuốc và uống không đúng giờ là do "bận nhiều việc" (chiếm lần lượt 37,9% và 35,5%) cùng việc "quên không mang theo thuốc khi đi làm/đi xa" (34,5%). Đối với việc bỏ liều, nguyên nhân hàng đầu là "hết thuốc chưa kịp đi lấy" (53,8%) và "cảm thấy bệnh đã đỡ nên dừng thuốc" (11,5%).
4. Người bệnh tại phòng khám xử trí như thế nào khi gặp các tình huống phát sinh liên quan đến thuốc?
Tỷ lệ người bệnh xử lý đúng khi dùng thêm thuốc khác là 84,6%; khi gặp tác dụng phụ của thuốc là 77,8%; tuy nhiên tỷ lệ xử lý đúng khi quên liều thuốc chỉ đạt 66,7% (còn 33,3% xử lý sai). Đáng chú ý, có tới 60,0% người bệnh hoàn toàn không dùng bất kỳ biện pháp nào để nhắc nhở uống thuốc mà chỉ dựa vào tự nhớ.
5. Tác giả đề xuất những giải pháp truyền thông và công nghệ cụ thể nào để hỗ trợ người bệnh?
Tác giả đề xuất bệnh viện triển khai đăng ký khám qua cổng điện tử, bệnh án điện tử; phòng khám trang bị tivi, pano và tài liệu GDSK chuẩn hóa; nhân viên y tế thành lập câu lạc bộ/nhóm Zalo để cung cấp thông tin chính thống; nghiên cứu ứng dụng phần mềm nhắc lịch tái khám tự động; đồng thời hướng dẫn người bệnh cài đặt chuông báo thức hoặc lịch nhắc trên điện thoại thông minh để tạo phản xạ uống thuốc đúng giờ hàng ngày.
Kết luận
Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp của học viên Nguyễn Thị Bích Liên đã phản ánh rõ nét thực trạng tuân thủ sử dụng thuốc kháng virus ở người bệnh viêm gan B mạn tính điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc năm 2020. Kết quả khảo sát trên 40 người bệnh cho thấy tỷ lệ tuân thủ toàn diện vẫn chưa cao, đặc biệt ở khía cạnh uống thuốc đúng giờ và việc duy trì lịch lấy thuốc liên tục. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính thực tiễn cao, nhấn mạnh vào việc nâng cấp công tác truyền thông giáo dục sức khỏe, ứng dụng công nghệ nhắc nhở và tăng cường vai trò chủ động của đội ngũ điều dưỡng trong quản lý người bệnh mạn tính.