Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Thuốc an thần An thần là một trạng thái thần kinh, có tính liên tục, thay đổi từ tỉnh táo, đáp ứng một cách đầy đủ các mệnh lệnh và có phản xạ bảo vệ đường thở nguyên vẹn cho đến trạng thái gây mê nói chung. Thuốc an thần là các thuốc được dùng để làm giảm mức độ ý thức.
Cùng một liều thuốc có thể gây ra các mức độ an thần khác nhau ở các trẻ khác nhau. Trẻ có thể trải qua các trạng thái an thần với diễn biến nhanh chóng và giảm các phản xạ đường thở [49]. Các thuốc an thần thường dùng trên lâm sàng gồm morphin, fentanyl … 1. Thuốc giảm đau Thuốc giảm đau là các thuốc làm mất hoặc làm giảm cảm giác đau cho người sử dụng.
Trạng thái an thần, kết hợp với giảm đau có thể giúp cho bệnh nhân hợp tác tốt, giảm lo âu và có thể đạt được những mục tiêu điều trị mong muốn trong các đơn vị điều trị tích cực. Lý tưởng nhất là trẻ duy trì được trạng thái an thần mà vẫn có đáp ứng với các kích thích mạnh và có đường thở tự nhiên ổn định trong quá trình điều trị [49]. Các thuốc thường dùng trên lâm sàng như midazolam, diazepam … 1. Hội chứng cai Hội chứng cai là hội chứng bao gồm một loạt các dấu hiệu và triệu chứng xuất hiện khi ngừng đột ngột, hoặc giảm nhanh liều lượng của một loại thuốc, giảm nồng độ thuốc trong máu hoặc sử dụng một chất đối kháng với thuốc [30].
Sự dung nạp thuốc là sự giảm tác dụng dược lý của một thuốc sau khi sử dụng liên tục, cần phải tăng liều thuốc để đạt được hiệu quả ban đầu [30]. Phụ thuộc thuốc sinh lý là sự thích nghi về sinh lý và sinh hoá của các tế bào thần kinh đối với thuốc an thần hoặc giảm đau, yêu cầu tiếp tục sử dụng 4 thuốc để ngăn ngừa các dấu hiệu của hội chứng cai. Phụ thuộc thuốc tâm lý là ý thức chủ quan của người bệnh về nhu cầu đối với một thuốc tác động thần kinh để có được những hiệu quả tích cực hoặc tránh những tác động tiêu cực do giảm sử dụng thuốc [30]. Một số loại thuốc an thần giảm đau thường dùng trong lâm sàng Dược lý của các tác nhân an thần giảm đau được sử dụng trong đơn vị điều trị tích cực hỗ trợ hiểu thêm thời gian dự kiến phát triển hội chứng cai và các triệu chứng do các tác nhân nào gây ra.
Kiến thức về dược lý của thuốc an thần giảm đau còn hướng dẫn việc lựa chọn thuốc để điều trị các triệu chứng cai. Tuy nhiên các bệnh lý nặng cũng làm thay đổi dược động học của nhiều thuốc an thần giảm đau dẫn đến thay đổi sự phát triển hội chứng cai. Năm 2016, Vet và cộng sự đã chứng minh rằng trẻ em bị suy tạng và tăng protein phản ứng C (CRP) có độ thanh thải midazolam chậm hơn đáng kể so với nhóm chứng [60]. Nhóm opioid Nhóm opioid là các thuốc chủ vận opioid và cũng là thuốc được sử dụng nhiều nhất để kiểm soát đau ở đơn vị điều trị tích cực.
Opioid giảm đau thông qua các loại thụ thể opioid ở cả trung ương và ngoại vi, đặc biệt là các thụ thể μ và , điều chỉnh sự nhạy cảm của các kích thích lên hệ thần kinh ở nhiều mức độ khác nhau. Các thụ thể này thuộc loại thụ thể bắt cặp với protein G, làm giảm nồng độ cAMP nội bào và điều chỉnh kênh kali dẫn đến giảm khả năng hưng phấn của tế bào thần kinh. Opioid có tác dụng giảm đau ở liều thấp và an thần, gây ngủ ở liều cao hơn. Tuy nhiên có sự khác biệt rất lớn trong đáp ứng an thần ở mỗi cá thể bệnh nhi.
Dược động học và dược lực học của các thuốc giảm đau thay đổi theo độ tuổi. Trẻ sơ sinh thường giảm thanh thải do hệ thống enzym gan chưa trưởng thành, trong khi trẻ lớn hơn có độ thanh thải theo cân nặng cao hơn 5 người lớn do khối lượng gan tương đối lớn so với trọng lượng cơ thể. Dung nạp opioid là một quá trình phức tạp, nhưng chủ yếu xảy ra thông qua hai cơ chế. Đầu tiên là quá trình giảm mẫn cảm với thụ thể opioid dẫn đến giảm vị trí gắn kết có sẵn, làm giảm tác dụng của opioid theo thời gian.
Thứ hai là quá trình tăng cường các con đường AMP vòng (Cyclic Adenosine Monophosphate: cAMP) dẫn đến tăng khả năng hưng phấn của tế bào thần kinh gây ra tăng cảm giác đau. Hai thuốc opioid quan trọng về mặt lâm sàng đối với hội chứng cai và được sử dụng tại đơn vị điều trị tích cực là fentanyl, morphin. Morphine là một loại opioid tan kém trong lipid được sử dụng khá phổ biến. Khi dùng liều duy nhất 0,1 mg/kg đường tĩnh mạch thì tác dụng đỉnh xảy ra sau 20 phút và thời gian tác dụng khoảng 4h.
Morphine cũng được sử dụng dưới dạng tiêm truyền liên tục trong đơn vị điều trị tích cực, thời gian bắt đầu tác dụng từ 5 - 10 phút. Thuốc được chuyển hoá phần lớn tại gan qua quá trình glucuronid hoá, các chất chuyển hoá được đào thải chủ yếu qua nước tiểu. Sự thải trừ morphin ra khỏi cơ thể là chậm và lượng thải trừ khác nhau ở trẻ sơ sinh, nhưng tăng dần đến giống với người lớn trong vòng 6 tháng đầu đời [29] [62]. Morphine cũng là một trong số ít các thuốc an thần và giảm đau có một chất chuyển hóa có hoạt tính sinh học đáng kể là morphine-6-glucoronide, có thể tích lũy ở bệnh nhân suy thận.
Morphine thường được sử dụng như một loại thuốc điều trị cho các triệu chứng cai cấp tính. Thuốc có thể kích thích giải phóng một lượng đáng kể histamine và ức chế phản ứng bù trừ của hệ thần kinh giao cảm, do đó, tác dụng giãn mạch của morphine có thể dẫn đến hạ huyết áp, đặc biệt sau khi sử dụng liều bolus tĩnh mạch. Ngừng truyền morphin có thể dẫn đến hội chứng cai, bao gồm các triệu chứng như giãn đồng tử, chảy nước mắt, vã mồ hôi, tăng huyết áp, sốt, nôn mửa, đau bụng, 6 tiêu chảy, đau cơ, khớp, và các thay đổi hành vi đặc trưng. Fentanyl là một loại opioid tổng hợp với hiệu lực giảm đau gấp 100 lần so với morphine.
Fentanyl có khả năng hòa tan trong lipid cao nên thời gian khởi phát nhanh. Dùng fentanyl ít giải phóng histamin hơn morphine, và do đó ít gây hạ huyết áp hơn. Tuy nhiên, fentanyl có thể gây bó ngực khi truyền nhanh. Khi tiêm tĩnh mạch, fentanyl có khoảng thời gian bán hủy tương đối ngắn 30-60 phút do phân phối nhanh đến các khoang ngoại vi.
Tuy nhiên khi truyền liên tục kéo dài sẽ gây tích lũy thuốc ở ngoại vi làm tăng thời gian bán hủy và phát triển nhanh chóng sự phụ thuộc thuốc. Sự chuyển hoá của fentanyl diễn ra hầu như chỉ ở gan và tốc độ thanh thải thuốc bị ảnh hưởng đáng kể bởi dòng máu trong gan. Fentanyl không có chất chuyển hóa còn hoạt tính, và không có phản ứng chéo ở bệnh nhân dị ứng với morphine [29]. Methadone là một opioid thường được sử dụng để ngăn ngừa các triệu chứng cai do thời gian bán hủy kéo dài (~ 19 giờ).
Đây là thuốc điều trị hội chứng cai duy nhất trong số các loại thuốc opioid, vì ngoài tác dụng điều biến thụ thể μ, nó còn đối kháng với thụ thể NMDA (N-methyl-D-aspartate) [43]. Những tác dụng không mong muốn của opioid có thể gặp là: bồn chồn và kích thích; buồn nôn và nôn; co đồng tử; suy hô hấp phụ thuộc liều (đặc biệt khi kết hợp với các thuốc benzodiazepine); hạ huyết áp; rối loạn nhu động ruột; tăng trương lực cơ toàn thân; phụ thuộc thuốc và hội chứng cai. Nhóm benzodiazepine Các thuốc nhóm benzodiazepine là thuốc an thần được sử dụng nhiều nhất trong đơn vị điều trị tích cực. Cơ chế tác dụng thông qua gamma- aminobutyric acid (GABA), là chất dẫn truyền phổ biến nhất trong hệ thần kinh trung ương và có tác dụng ức chế thần kinh.
Bình thường thụ thể của GABA bị một protein nội sinh chiếm giữ nên nó không gắn vào thụ thể của mình được. Benzodiazepine có ái lực cao hơn đẩy protein nội sinh ra và 7 chiếm thụ thể, do đó GABA mới gắn vào được thụ thể của nó. Khi tiếp xúc kéo dài với benzodiazepine một số tiểu đơn vị trong thụ thể thay đổi biểu hiện dẫn đến giảm hiệu quả của benzodiazepine theo thời gian. Ba thuốc được dùng phổ biến nhất trong nhóm benzodiazepine là midazolam, diazepam, và lorazepam.
Ngoài được sử dụng làm thuốc an thần, chúng còn có tác dụng giảm lo âu, mất trí nhớ, chống co giật nhưng không có tác dụng giảm đau. Benzodiazepine đặc biệt hữu ích trong việc điều trị các kích động và khó chịu mức độ nhẹ và vừa. Các thuốc này có phổ liều rộng phụ thuộc tác dụng dược lý, hầu hết được nghiên cứu ở người lớn. Vì vậy, rất khó để áp dụng điều này ở trẻ em, đối tượng mà sự đáp ứng với nhóm thuốc benzodiazepine rất thay đổi.
Midazolam là thuốc an thần duy nhất được sử dụng để truyền liên tục ở đơn vị điều trị tích cực. Midazolam được sử dụng nhiều nhất ở đơn vị điều trị tích cực, đây là một thuốc an thần, gây quên thuận chiều mà không làm giảm đi khả năng khôi phục lại những thông tin đã học được trước đó. Midazolam được biết như là một acid tổng hợp, có khả năng tan tốt trong nước. Trong điều kiện pH huyết tương, midazolam chuyển đổi thành dạng kết hợp và vượt qua hàng rào máu não một cách nhanh chóng.
Midazolam có thời gian bán thải ngắn nhất trong nhóm benzodiazepine (~3 giờ). Sau một liều bolus tĩnh mạch, tác dụng an thần đạt đỉnh sau 5 - 10 phút, thời gian tác dụng là 30 – 120 phút. Khi duy trì tĩnh mạch liên tục thời gian tác dụng dài hơn đáng kể, và sau một thời gian dùng kéo dài, tác dụng an thần có thể kéo dài 48h từ khi ngừng thuốc. Midazolam được chuyển hóa ở gan, đào thải qua thận.
Sản phẩm chuyển hóa còn hoạt tính có thể gây ra tác dụng an thần kéo dài ở bệnh nhân suy thận. Một số thuốc như erythromycin có thể cạnh tranh các chất nền của enzyme chuyển hóa midazolam, dẫn đến kéo dài tác dụng an thần khi sử dụng. Hạ huyết áp và suy hô hấp cũng có thể xảy ra, đặc biệt là sau khi dùng 8 liều bolus trong tình trạng giảm thể tích tuần hoàn, thận trọng dùng ở trẻ có huyết động không ổn định [29]. Diazepam là thuốc an thần, gây quên và kiểm soát co giật.