ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư luôn là mối quan tâm trên toàn cầu, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong. Theo thống kê của Globocan năm 2020, tình hình mắc và tử vong do ung thư trên toàn thế giới đều có xu hướng tăng, với 19.789 ca mắc mới và 9.133 ca tử vong [16]. Ở Việt Nam, ước tính có 182.563 ca mắc mới và 122.690 ca tử vong do ung thư [15]. Đau là một trong những triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân ung thư và họ cần được giảm đau ở tất cả các giai đoạn bệnh của họ.
Có khoảng 1/3 số bệnh nhân được điều trị ung thư có xuất hiện đau. Những bệnh nhân ở giai đoạn muộn, hơn 2/3 trong số này có đau và việc kiểm soát đau và các triệu chứng khác trở thành mục đích chính của điều trị [43]. Đau là một trong những triệu chứng phổ biến và đáng sợ nhất xảy ra ở bệnh bệnh nhân ung thư, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống và là một yếu tố dự báo khả năng sống của bệnh nhân. Với khoảng 55% bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc chống ung thư và 66% ở những bệnh nhân ung thư tiến triển, di căn hoặc ung thư giai đoạn cuối đều cảm thấy đau [45].
Tại Việt Nam, một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đau từ vừa đến nặng là 50%, 33% bệnh nhân có sự suy giảm nghiêm trọng khả năng làm việc do đau [47]. Cơn đau có thể gây mất ngủ, mệt mỏi, tăng nguy cơ suy giảm nhận thức, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống bệnh nhân, tác động đến tâm lý, gây rắc rối trong sinh hoạt hàng ngày. Cơn đau không thuyên giảm có thể khiến bệnh nhân cảm thấy lo lắng, trầm cảm, sợ hãi hoặc rơi vào trạng thái tuyệt vọng. Sự đau đớn quá mức có thể là lý do đầu tiên để người bệnh và gia đình quyết định ngừng mọi điều trị tích cực [30].
Vì vậy, mục đích của điều trị giảm đau là cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân ung thư. Điều trị đau trong ung thư bao gồm nhiều phương pháp: dùng thuốc, xạ trị, chăm sóc tâm lý … trong đó điều trị bằng thuốc là phương pháp quan trọng nhất. Hiệu quả của thuốc giảm đau phụ thuộc vào tính hợp lý của việc dùng thuốc. Ngoài ra, đối với bệnh nhân ung thư dùng thuốc giảm đau dài ngày, các tác dụng không mong muốn, đặc biệt là táo bón cần được đánh giá và quản lý.
Tổ chức Y tế Thế giới đã xác định thiếu quản lý đau ung thư là vấn đề sức khoẻ toàn cầu có mức độ ưu tiên cao nhất kể từ năm 1986 [43] và đưa giảm đau và chăm 1 sóc giảm nhẹ vào nhóm dịch vụ thiết yếu của bảo hiểm y tế toàn cầu [45]. Tuy nhiên, việc thiếu điều trị đau ung thư vẫn được ghi nhận rộng rãi. Dữ liệu từ một số quốc gia thu nhập thấp, cho thấy khoảng 80% bệnh nhân chết vì ung thư phải trải qua cơn đau vừa hoặc nặng, kéo dài trung bình 90 ngày [45]. Bệnh nhân ung thư có thể cần giảm đau ở tất cả các giai đoạn của bệnh chứ không chỉ ở giai đoạn cuối đời.
Có thể đạt được kết quả tốt hơn về mặt quản lý triệu chứng khi chăm sóc giảm nhẹ được áp dụng sớm trong quá trình bệnh, thông qua cách tiếp cận lấy con người làm trung tâm đồng thời với các liệu pháp điều chỉnh bệnh. Chăm sóc giảm nhẹ sớm bao gồm giảm đau không những làm tăng chất lượng cuộc sống mà còn giúp cải thiện tốt hơn các triệu chứng của bệnh, kéo dài thời gian sống cho bệnh nhân ung thư [14]. Do đó nghiên cứu về đau, thuốc giảm đau và hiệu quả giảm đau là cần thiết để nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân ung thư. Tại bệnh viện Ung bướu Nghệ An cũng chưa có nghiên cứu nào về quản lý đau ở bệnh nhân ung thư nên chúng tôi thực hiện đề tài: Phân tích tình hình sử dụng thuốc giảm đau và hiệu quả giảm đau trên bệnh nhân ung thư điều trị tại khoa Chăm sóc giảm nhẹ - Bệnh viện Ung bướu Nghệ An với hai mục tiêu sau: 1.
Phân tích tình hình sử dụng thuốc giảm đau trên bệnh nhân ung thư điều trị tại khoa Chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện Ung bướu Nghệ An. Phân tích hiệu quả giảm đau trên bệnh nhân ung thư điều trị tại khoa Chăm sóc giảm nhẹ Bệnh viện Ung bướu Nghệ An. Đau do ung thư 1. Đại cương về đau do ung thư 1.
Đĩnh nghĩa Theo định nghĩa của Hiệp hội nghiên cứu đau quốc tế (IASP): Đau là là cảm giác khó chịu và sự trải nghiệm những cảm xúc có liên quan đến tổn thương mô học thể chất hoặc tiềm tàng, hoặc được mô tả như là tổn thương tương tự [3]. Những khía cạnh quan trọng của định nghĩa này: Đau là cảm giác chủ quan, vì vậy người bác sĩ nên tin vào mô tả của người bệnh về mức độ, vị trí và đặc điểm cơn đau, trừ khi có bằng chứng thuyết phục rằng mô tả của người bệnh không đúng. Đau có thể xảy ra ngay cả khi không có tổn thương mô học nhìn thấy được trên bề mặt cơ thể hoặc trên hình ảnh học (CT, MRI, siêu âm). Ví dụ: đau thần kinh ngoại biên do độc tính thần kinh thuốc hóa trị.
Các nguyên nhân đau do ung thư Đau liên quan đến ung thư có thể xảy ra do một hoặc nhiều nguyên nhân. Các nguyên nhân chủ yếu có thể chia làm 2 nhóm như sau [26], [30]. - Đau gây ra do chính bản thân bệnh lý ung thư: Tình trạng đau xảy ra khi khối u di căn, xâm lấn, chèn ép các tổ chức mô mềm, nội tạng, xương và dây thần kinh. - Đau liên quan đến các thủ tục chẩn đoán và điều trị ung thư.
Một số ví dụ có thể kể đến như một số hội chứng đau sau phẫu thuật; đau do tác dụng phụ hoặc độc tính của phương pháp điều trị ung thư, ví dụ như các cơn đau gây ra bởi cảm giác “bỏng rát” da sau xạ trị, bệnh lý thần kinh ngoại biên do hóa trị, … Theo kết quả phân tích hệ thống từ 117 nghiên cứu về đau liên quan đến ung thư, tình trạng đau được báo cáo ở 55% bệnh nhân đang trải qua điều trị, 66% với bệnh nhân ung thư tiến triển, di căn hoặc ở giai đoạn cuối và 33% bệnh nhân sau điều trị [40]. Phân loại đau do ung thư Dựa trên mục đích lâm sàng, có 3 loại đau chính: đau cảm thụ, đau thần kinh và đau do viêm [3]. 3 Đau cảm thụ - Gây ra do kích thích thụ thể đau trên dây thần kinh cảm giác thứ nhất còn nguyên vẹn (thụ thể cảm thụ đau). - Đau cảm thụ được chia làm hai nhóm: * Đau bản thể: + Do kích thích cảm thụ đau trên bề mặt da, mô mềm, cơ hoặc xương.
+ Người bệnh thường có thể xác định chính xác vị trí cơn đau. + Người bệnh thường mô tả cảm giác đau chói, nhức nhối hoặc đau như mạch đập. * Đau tạng: + Do kích thích cảm thụ đau của các tạng đặc và tạng rỗng. Nguyên nhân có thể do di căn, tắc nghẽn, căng giãn, viêm nhiễm hoặc viêm không nhiễm.
+ Người bệnh thường không thể định khu chính xác và mô tả cơn đau một cách rõ ràng. Ví dụ: - Tắc ruột do ung thư dẫn đến tình trạng căng giãn đoạn ruột trên chỗ tắc và kích thích thụ thể cơ học trên thành ruột. - Sự phát triển nhanh chóng của ung thư nguyên phát hoặc di căn ở gan dẫn đến căng bao gan và kích thích thụ thể cơ học trong bao gan. - Viêm đường mật.
- Viêm dạ dày. Đau thần kinh - Gây ra do tổn thương dây thần kinh cảm giác ngoại biên (cảm thụ đau) hoặc dây thần kinh trung ương do bất kỳ nguyên nhân nào. + Được mô tả như cảm giác bỏng rát, châm chích, tăng nhanh hoặc như điện giật. + Thường không có tổn thương mô quan sát được.
+ Các “triệu chứng âm tính” thường gặp như tê, yếu hoặc khiếm khuyết thần kinh khác. + Có thể liên quan đến chứng tăng cảm đau - hyperalgesia (đau mạnh do kích 4 thích yếu) hoặc loạn cảm đau - allodynia (đau do các tác nhân kích thích mà bình thường không gây đau như sự va chạm nhẹ) ở những vùng được chi phối bởi các dây thần kinh bị tổn thương. Ví dụ: - Bệnh dây thần kinh do độc tố: Tổn thương dây thần kinh ngoại biên do thuốc độc thần kinh như thuốc chống ung thư (ví dụ Paclitaxel) hoặc thuốc kháng sinh (Isoniazid). - Đau thần kinh tọa: Tổn thương dây thần kinh ngoại biên hoặc trung ương do chèn ép bởi thoát vị đĩa đệm, khối u, áp xe hoặc do tình trạng thoái hóa khớp nghiêm trọng ở cột sống.
Đau do viêm - Thụ thể cảm thụ đau nguyên vẹn có thể bị kích thích bởi tình trạng viêm do bất kỳ nguyên nhân nào. + Thường khu trú. + Có thể liên quan với tăng cảm đau hoặc loạn cảm đau, nhưng không có triệu chứng âm tính. Theo IASP, đau liên quan đến ung thư được phân loại gồm đau mạn tính do ung thư và đau mạn tính sau điều trị ung thư [11].
- Đau mạn tính do ung thư (cancer pain): là tình trạng đau mạn tính gây ra bởi ung thư nguyên phát hoặc di căn. Nguyên nhân do sự mở rộng của khối u gây tổn thương mô và sự đè nén, phá hủy của khối u lên dây thần kinh. Đau do ung thư được phân loại chi tiết hơn gồm đau nội tạng, đau xương, đau thần kinh và các loại khác [11]. - Đau mạn tính sau điều trị ung thư (cancer treatment pain) bao gồm: đau mạn tính sau điều trị bằng thuốc, đau mạn tính sau xạ trị, đau mạn tính sau phẫu thuật và các loại đau khác [11].
Đau mạn tính sau điều trị bằng thuốc có thể xảy ra khi sử dụng bất kỳ loại thuốc điều trị ung thư nào, nhưng phổ biến nhất là đau sau hóa trị liệu. Các tác nhân hóa trị phổ biến có thể gây ra bệnh thần kinh ngoại biên và ảnh hưởng đến 60% bệnh nhân sau điều trị 3 tháng hoặc 30% bệnh nhân sau điều trị 6 tháng hoặc nhiều hơn [20]. Đau mạn tính sau phẫu thuật phổ biến sau điều trị ung thư vú [11]. 5 Bên cạnh đó, ở bệnh nhân đã kiểm soát đau mạn tính với chế độ giảm đau nền thường quy còn có thể xuất hiện các cơn đau bùng phát tạm thời gọi là đau đột xuất.
Tỷ lệ này gặp ở khoảng 64% bệnh nhân trong hoàn cảnh mà đau nền của họ đã được kiểm soát tốt [31].