Chương 1:Cơ sở lý luận về tuyển dụng nhân lực Chương 2:Thực trạng công tác tuyển dụng nhân lực tại Công ty TNHH Sản xuất và Xuất nhập khẩu Bao bì Đông Nam Á Chương 3:Một số giải pháp và khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tuyển dụng tại Công ty TNHH Sản xuất và Xuất nhập khẩu Bao bì Đông Nam Á 6 Luan van PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC 1. Khái niệm và vai trò tuyển dụng nhân lực 1. Khái niệm nhân lực Hiện nay có rất nhiều khái niệm nhân lực khác nhau của các tác giả, điển hình như: Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2007) “Khái niệm nhân lực được hiểu là nguồn lực của DN mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực”.[8,7] Trong đó thể lực phụ thuộc vào sức vóc, vóc dáng, tình trạng sức khỏe của con người, mức sống xã hội, thu nhập bản thân, chế độ ăn uống khoa học, chế độ làm việc và nghỉ ngơi hợp.
Trí lực chỉ suy nghĩ, sự hiểu biết bản thân, sự tiếp thu kiến thức, tài năng và năng khiếu cũng như quan điểm, sự tin tưởng, nhân cách của con người trong xã hội. Theo quan điểm của Lê Văn Tâm và Ngô Kim Thanh (2008), “Nhân lực DN là lực lượng lao động của từng DN, là số người có trong danh sách của DN.” Nhân lực là bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo DN), tức là tất cả các thành viên trong DN sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển DN. [19,16] Theo Vũ Thùy Dương (2010), “Nhân lực sẽ bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội, là tất cả các thành viên trong DN sử dụng các kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử cá nhân và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển DN của mình”.[7,16] Theo Trần Xuân Cầu (2012) thì “Nhân lực là khái niệm chỉ sức lực con người, sức lực đó nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của con người, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động thì sức lao động đó là của con người”.[1,12] Theo Lê Thanh Hà (2012) có viết “Nhân lực được coi là nguồn lực trong mỗi con người bao gồm cả thể lực, trí lực và vật lực.
Nó thể hiện ra bên ngoài bởi khả năng làm việc. Nó bao gồm cả sức khỏe, trí lực, tâm lực, lòng đam mê”[9,8]. Trong đó thể lực được hiểu đó là sức khỏe của mỗi người, yếu tố này phụ thuộc vào độ tuổi, giới tính, vóc dáng, chế độ ăn uống, nghỉ ngơi, rèn luyện thân thể. Trí lực phản ánh sự thông minh hiểu biết, tài năng của mỗi con người.
Theo đó, từ các khái niệm nêu trên có thể thấy: Nhân lực là nguồn lực trong tổ chức, được thể hiện qua cơ cấu, số lượng, chất lượng nguồn nhân lực. Nhân lực 7 Luan van là nhân tố đóng vai trò quan trọng, quyết định sự thành bại của DN. Khái niệm tuyển dụng nhân lực Trên thực tế có rất nhiều khái niệm và quan điểm khác nhau về TDNL, có thể kể đến các quan điểm của các tác giả sau: Theo quan điểm tác giả Nguyễn Hải Sản (2007) cho rằng: “Tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm ứng viên, thu hút ứng viên và động viên những cá nhân có đủ các tiêu chuẩn thích hợp với DN tham gia ứng cử vào các chức danh cần người trong DN. Những ứng viên đã vượt qua và hội tụ đủ những tiêu chuẩn của công việc có thể sẽ được tuyển dụng.” [18,23] Theo Vũ Thùy Dương và Hoàng Văn Hải (2010): “Tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm, thu hút và lựa chọn nhân lực để thỏa mãn nhu cầu sử dụng và bổ sung lực lượng lao động cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu của DN.” [7,26] Theo Nguyễn Văn Hội (2010): “Công tác tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm ứng viên và lựa chọn đúng ứng viên để thỏa mãn các nhu cầu cho quá trình lao động và bổ sung cho lực lượng lao động hiện có của mỗi tổ chức, DN”.
[11,35] Theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2012) thì “Tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm, thu hút và tuyển chọn từ những nguồn khác nhau những nhân viên đủ khả năng đảm nhiệm những vị trí mà DN cần tuyển.” [8,14] Theo Mai Thanh Lan (2014), “Tuyển dụng nhân lực là quá trình tìm kiếm ứng viên và lựa chọn nhân lực để thỏa nhu cầu sử dụng của tổ chức, DN và bổ sung lực lượng lao động cần thiết cho các mục tiêu của tổ chức ở hiện tại và trong tương lai”.[12,12] Qua thực tiễn tìm hiểu và kế thừa những khái niệm thì tác giả có chọn và đưa ra khái niệm chung nhất về tuyển dụng nhân lực: „„Tuyển dụng nhân lực là một quá trình tìm kiếm, thu hút và lựa chọn những người có đủ các tiêu chuẩn thích hợp cho các công việc và các chức danh cần người trong DN‟‟. Tuyển dụng nhân lực chính là sự kết hợp của quá trình tuyển mộ nhân lực và quá trình tuyển chọn nhân lực. Khái niệm tuyển mộ nhân lực. Theo Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2007) đã đưa ra khái niệm “Tuyển mộ nhân lực là quá trình thu hút những lao động có trình độ từ lao động xã hội và lao động bên trong tổ chức”.[8,93] Theo Mai Thanh Lan (2014) thì “Tuyển mộ nhân lực là quá trình tìm kiếm và thu hút ứng viên nhằm có một lực lượng ứng viên phù hợp với nhu cầu tuyển dụng nộp đơn ứng tuyển để DN lựa chọn”.[12,19] Hoạt động tuyển mộ có ảnh 8 Luan van hưởng rất lớn đến chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức.
Tùy thuộc vào từng trường hợp mà tổ chức sẽ lựa chọn nguồn tuyển mộ bên trong hay bên ngoài một cách linh động và phù hợp. Tóm lại, tuyển mộ nhân lực bao gồm các hoạt động chiêu mộ ứng viên, thu hút ứng viên nộp hồ sơ ứng tuyển vào các vị trí. Kết thúc quá trình tuyển mộ, Công ty sẽ thu được hồ sơ xin việc của các ứng viên. Khái niệm tuyển chọn nhân lực Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2007) thì tuyển chọn nhân lực là quá trình đánh giá các ứng viên theo nhiều khía cạnh khác nhau rồi sau dựa vào các yêu cầu của công việc, tìm được những người phù hợp với các tiêu chuẩn đặt ra trong số những người đã thu hút được trong quá trình tuyển mộ nhân lực”.[8,105] Trong khi đó, tác giả Mai Thanh Lan (2014) cho rằng “Tuyển chọn nhân lực là quá trình cần đánh giá năng lực của các ứng viên rồi từ đó nhằm lựa chọn ứng viên phù hợp với nhu cầu và yêu cầu cần tuyển của DN”.[12,20] Tóm lại, tuyển chọn nhân lực là bước tiếp theo sau khi đã hoàn thành quá trình tuyển mộ, là quá trình nhà tuyển dụng sử dụng các phương pháp khác nhau để đánh giá và tìm ra ứng viên phù hợp nhất với tổ chức trong số những người được tuyển mộ.
Quá trình tuyển chọn là giai đoạn quan trọng nhằm giúp cho các nhà tuyển dụng đưa ra quyết định đúng đắn và hợp lý nhất. Vai trò tuyển dụng nhân lực 1. Đối với doanh nghiệp Thứ nhất, hoạt động tuyển dụng nhân lực đối với nguồn ứng tuyển sẽ giúp tạo bầu không khí thi đua, cạnh tranh lành mạnh giữ những người lao động trong DN. Thứ hai, tuyển dụng nhân lực sẽ tạo tiền đề quan trọng cho việc giảm gánh nặng chi phí kinh doanh và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác nhau nhờ tài chính, cơ sở vật chất.
TDNL ảnh hưởng đến các hoạt động của quản trị nhân lực như: Bố trí, sắp xếp nhân lực, thù lao lao động, quan hệ lao động, tiền lương, tiền công, hoạch định nhân lực, phân tích công việc. Thứ ba, tuyển dụng nhân lực đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên các yếu tố đầu vào trong tổ chức. Điều đó giúp tổ chức bổ sung lực lượng lao động đầu vào cần thiết để thực hiện mục tiêu của mình và mục tiêu xa hơn trong tương lai. Thứ tư, giúp DN nâng cao năng lực cạnh tranh cốt lõi và sự phát triển bền vững thông qua yếu tố con người.
Một DN có đội ngũ nhân lực tài giỏi, đoàn kết và đầy tiềm năng sáng tạo, phát triển sẽ giúp cho tổ chức đó có nhiều cơ hội, vững 9 Luan van mạnh hơn trước thị trường đầy biến động và xu thế ngày càng lớn mạnh của rất nhiều DN tại Việt Nam và trên toàn thế giới ở hiện tại và tương lai. Thứ năm, tuyển dụng nhân lực có hiệu quả sẽ cung cấp cho DN một đội ngũ lao động lành nghề, năng động, sáng tạo, nguồn lao động chất lượng cao bổ sung nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu hoạt động kinh doanh của DN trong mọi kế hoạch. Thứ sáu, giúp DN nâng cao uy tín và danh tiếng của mình trong lĩnh vực cùng ngành. Những người có năng lực có thể thu hút được người giỏi.
Một DN có nhiều người giỏi, có tỷ lệ nhân viên nghỉ việc thấp chắc chắn sẽ tạo được uy tín và danh tiếng để thu hút thêm nhiều ứng viên giỏi. Thứ bảy, giảm chi phí đào tạo nhân lực của DN. Nhân viên phù hợp có thể học nhanh và bắt tay ngay vào việc để tạo ra kết quả. Điều này đặc biệt quan trọng khi công việc phức tạp, cần phải đào tạo nhiều hoặc đòi hỏi kinh nghiệm.
Tóm lại, TDNL là một nội dung vô cùng quan trọng đối DN. Quá trình tuyển dụng nhân lực được thực hiện có hiệu quả sẽ tạo ra nền tảng cho các khâu tiếp theo của công tác quản trị nhân lực nói chung và hoạt động tuyển dụng nhân lực nói riêng. Đối với xã hội Thứ nhất, tuyển dụng nhân lực sẽ góp phần vào quá trình điều tiết nguồn nhân lực trong các hoàn cảnh khác nhau cụ thể là các ngành nghề kinh tế khác nhau, các địa phương khác nhau tùy thuộc vào mỗi DN. Thứ hai, tuyển dụng nhân lực sẽ hình thành nên nhu cầu của xã hội, cung – cầu xã hội sẽ tác động mạnh giúp định hướng cho việc quy hoạch hệ thống đào tạo, hệ thống hướng nghiệp cho đội ngũ nhân lực của xã hội.
Ngoài ra, TDNL góp phần thu hẹp khoảng cách giữa thị trường lao động trong và ngoài, góp phần mở rộng quan hệ thông thương. Thứ ba, tuyển mộ nhân lực giúp giải quyết tình trạng thất nghiệp, nâng cao tỉ lệ dân số có việc làm.