Tổng quan luận án
Công trình “Trình diễn văn hóa tộc người tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam” là luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9 22 90 40), do nghiên cứu sinh Phạm Bích Ngọc thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Châm (Hà Nội, 2024).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Từ công cuộc Đổi mới năm 1986, Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập quốc tế sâu rộng. Quá trình này tạo điều kiện phát triển kinh tế - xã hội nhưng đồng thời đặt ra thách thức về nguy cơ mai một bản sắc văn hóa truyền thống. Chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam xuyên suốt các kỳ Đại hội (từ Hội nghị Trung ương 4 khóa VII năm 1993, Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII năm 1998 đến Đại hội XIII) luôn khẳng định: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của 54 thành phần dân tộc.
Từ thập niên 1990, du lịch văn hóa phát triển mạnh mẽ kéo theo nhu cầu xây dựng các thiết chế bảo tồn, phát huy và giới thiệu văn hóa tộc người. Dự án Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam (Làng VHDL các DTVN) được phê duyệt xây dựng vào cuối thập niên 1990 nhằm thực thi nhiệm vụ này. Đồng thời, ngành Dân tộc học/Nhân học tại Việt Nam có bước chuyển dịch quan trọng sang tiếp cận nhân học, đề cao tiếng nói và tính chủ thể tự quyết của cộng đồng văn hóa. Tại Làng VHDL các DTVN, các hoạt động trình diễn văn hóa có sự tham gia trực tiếp của nghệ nhân và đồng bào các dân tộc. Mặc dù Làng đã hoạt động nhiều năm, các công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu về quy trình lựa chọn, cơ chế thương thảo, việc tạo dựng bản sắc và các vấn đề lý luận nảy sinh từ thực hành trình diễn văn hóa tại địa bàn này từ góc nhìn văn hóa học vẫn còn là một khoảng trống học thuật.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Cung cấp bức tranh khái quát về quá trình lựa chọn các đặc trưng văn hóa tộc người để bảo tồn và đưa vào trình diễn, giới thiệu đến công chúng tại Làng VHDL các DTVN; từ đó luận bàn về quan điểm bảo tồn di sản văn hóa hiện nay, vấn đề "bảo tồn có chọn lọc", sự định hình và "đóng khung" bản sắc văn hóa tộc người, cũng như các khía cạnh "sân khấu hóa" và "sáng tạo truyền thống" trong bối cảnh đương đại.
- Câu hỏi nghiên cứu (đánh số theo văn bản):
- Văn hóa tộc người đang được trình diễn như thế nào tại Làng VHDL các DTVN?
- Tại sao các hoạt động trình diễn văn hóa tộc người lại đang được lựa chọn và trình diễn như thế?
- Các hoạt động trình diễn văn hóa tộc người ở Làng VHDL các DTVN đang đặt ra các vấn đề gì về bảo tồn văn hóa các dân tộc hiện nay?
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về văn hóa tộc người, trình diễn văn hóa để xây dựng khung lý thuyết và phương pháp tiếp cận.
- Phân tích quá trình hình thành, phát triển của Làng VHDL các DTVN từ chủ trương quy hoạch, cấu trúc không gian đến kế hoạch hoạt động.
- Phân tích thực tế các hoạt động trình diễn văn hóa tại Làng qua ba trường hợp cụ thể: dân tộc Mường, Ba Na và Khmer.
- Nhận diện và luận bàn các vấn đề lý luận - thực tiễn: sự thay đổi quan điểm bảo tồn di sản của Nhà nước, bảo tồn có chọn lọc, phân loại tộc người và đóng khung bản sắc, hiện tượng sân khấu hóa và sáng tạo truyền thống.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động trình diễn văn hóa của các tộc người tại Làng VHDL các DTVN xoay quanh bối cảnh, quan điểm, phương pháp và sự thương thảo trong việc lập kế hoạch, lựa chọn loại hình và nội dung trình diễn. Đối tượng khảo sát chuyên sâu là hoạt động trình diễn của ba tộc người: Mường, Ba Na và Khmer.
- Phạm vi nội dung: Hoạt động trình diễn văn hóa vật thể (không gian kiến trúc, nhà ở, cảnh quan) và phi vật thể (nghi lễ, lễ hội, diễn xướng, sinh hoạt đời thường) của các tộc người tại Làng VHDL các DTVN, trọng tâm là không gian văn hóa Mường, Ba Na và Khmer.
- Phạm vi không gian: Không gian 3 cụm làng I, II, III tại Làng VHDL các DTVN (Đồng Mô, Sơn Tây, Hà Nội); kết hợp điền dã bổ sung tư liệu tại các địa phương gốc gồm Hòa Bình và Thanh Hóa.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát các hoạt động trưng bày, tạo dựng không gian kiến trúc từ khi Làng mở cửa hoạt động (năm 2010) đến thời điểm nghiên cứu; khảo sát các hoạt động trình diễn văn hóa phi vật thể tập trung từ năm 2019 đến tháng 12/2023.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án hệ thống hóa các nghiên cứu tiền nhiệm theo 4 nhóm chủ đề chính:
CÁC HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIỀN NHIỆM
Tộc người & Phân loại Bản sắc văn hóa Trình diễn văn hóa Tính chính trị
ở Việt Nam tộc người tộc người của văn hóa
1. Nghiên cứu về tộc người và phân loại tộc người ở Việt Nam
Tác giả điểm lại các lý thuyết phân loại tộc người trên thế giới: Khởi nguyên luận (primordialist), Công dụng luận (instrumental) và Cấu trúc luận (constructivist) theo Wan và Vanderwerf (thập niên 1970); quan điểm của Max Weber (1922) về niềm tin chủ quan vào nòi giống chung; Anthony Smith (1986) với 6 thuộc tính tộc người; và Yulian Bromley (Liên Xô cũ) với định nghĩa tộc người dựa trên tính ổn định lịch sử, lãnh thổ, văn hóa, ngôn ngữ và ý thức tự giác tộc người.
Về nghiên cứu tộc người tại Việt Nam, luận án dẫn chứng các công trình thời kỳ Pháp thuộc như E. Maitre (1912) về các xứ Thượng miền Nam Đông Dương; các nghiên cứu sau năm 1945 của P. Guilleminet (1952), G. Hickey (1982a, 1982b) về Tây Nguyên. Ở trong nước, các nhà dân tộc học như Phan Hữu Dật (1973) xác định 3 tiêu chuẩn tộc người (tiếng nói, ý thức tự giác tộc người qua tên tự gọi, văn hóa thống nhất); Đặng Nghiêm Vạn phân biệt khái niệm nation và ethnic; Bế Viết Đẳng (1975) nhấn mạnh đặc điểm văn hóa và ý thức tự giác.
Về số lượng tộc người: Lã Văn Lô (1959) từng xác định 64 dân tộc; Nguyễn Dương Bình, Lâm Thanh Tòng, Hoàng Thị Châu, Triệu Hữu Lý bàn về phân loại và quan hệ giữa dân tộc với nhóm địa phương; dẫn đến Quyết định 121-TCTK/PPCĐ ngày 02/3/1979 của Tổng cục Thống kê ban hành danh mục chính thức 54 dân tộc (gồm 1 dân tộc đa số là người Kinh chiếm 85,3% dân số theo số liệu năm 2019 và 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,7%, trong đó 16 dân tộc có dưới 10.000 người). Các đợt rà soát thành phần dân tộc giai đoạn 2001–2013 của Viện Dân tộc học và Ủy ban Dân tộc vẫn giữ nguyên danh mục 54 dân tộc. Luận án cũng trích dẫn quan điểm của Charles Keyes (2002) về việc tộc người và quan hệ tộc người là sản phẩm của quá trình kiến tạo, "gắn nhãn" bởi nhà nước và truyền thông hiện đại.
2. Nghiên cứu về bản sắc văn hóa tộc người
Luận án điểm các công trình quốc tế như Truong Buu Lam (2003) nghiên cứu sự tương tác văn hóa giữa các tộc người; Frank Proschan (2009) nghiên cứu sự đa dạng văn hóa và chính sách bảo tồn di sản thiểu số ở Việt Nam.
Các học giả trong nước gồm: Nguyễn Đăng Duy (2001) xác định bản sắc qua hệ giá trị và chuẩn mực đạo lý, lòng yêu nước; Nguyễn Thụy Loan bàn về ý thức gìn giữ bản sắc dân tộc; Ngô Đức Thịnh (2004) nhấn mạnh đặc tính cởi mở, khả năng tiếp nhận và bản địa hóa yếu tố ngoại lai; Lê Như Hoa (2001, 2003) phân tích bản sắc trong lối sống hiện đại; Nguyễn Chí Bền (2010) đánh giá tác động hai mặt của hội nhập kinh tế quốc tế; Trường Lưu, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Trọng Chuẩn, Vương Xuân Tình (2019) nghiên cứu phát triển bền vững văn hóa dân tộc. Đáng chú ý, Nguyễn Công Thảo (2019) tiếp cận bản sắc từ góc nhìn kiến tạo xã hội, coi bản sắc có tính linh hoạt, mở và biến đổi liên tục theo bối cảnh chứ không bất biến.
3. Nghiên cứu về trình diễn văn hóa tộc người
Luận án phân tích các công trình lý thuyết quốc tế: Victor Turner (1974, 1982) về dramas, metaphors và sự chuyển đổi từ nghi lễ truyền thống sang hình thức sân khấu; Richard Bauman (1977, 1992, 2008) với Lý thuyết Trình diễn (Performance Theory), khám phá sự tương tác giữa người biểu diễn và khán giả trong việc tái tạo di sản; E. L. Schieffelin, Dan Ben-Amos về trình diễn và kiến tạo thực tại xã hội; Richard Schechner (2002) về nghiên cứu trình diễn; Gay McAuley (2004); Norma E. Cantu (2002); Kirsten Holmes, Michael Hughes và Judith Mair (2015) về trình diễn trong du lịch văn hóa; Oscar Salemink nghiên cứu không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên; J. Lowell Lewis nghiên cứu nhân học về trình diễn văn hóa; Baz Kershaw (1992) nghiên cứu tính chính trị của trình diễn nghệ thuật.
Ở Việt Nam, nhóm tác giả Lê Hồng Lý, Nguyễn Thị Hiền, Đào Thế Đức, Hoàng Cầm (2013) đề cao sự trao quyền cho cộng đồng chủ thể trong bảo tồn di sản; các công trình nghiên cứu trình diễn tại bảo tàng của Lê Tùng Lâm, Phùng Mai Anh, Lưu Thị Hồng Sang, Đàm Thị Hợp, Phạm Lan Hương, An Thu Trà (nghiên cứu trình diễn của người Kinh, Thái, Ba Na tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam); Trần Hoài nghiên cứu chính trị di sản cồng chiêng Tây Nguyên; Nguyễn Thu Hằng nghiên cứu múa dân gian đương đại; Nguyễn Tuệ Chi nghiên cứu du lịch văn hóa Mường và Thái ở Hòa Bình.
Về địa bàn Làng VHDL các DTVN: Bùi Hoài Sơn (2022) nhấn mạnh vai trò cộng đồng trong tổ chức sự kiện; Nguyễn Thị Duyên nghiên cứu hoạt động du lịch; Nguyễn Hồng Thái (2014) khảo sát bảo tồn văn hóa phục vụ du lịch giai đoạn 2010–2014; Lê Ngọc Tuấn nghiên cứu công tác quản lý điều hành tại Làng.
4. Nghiên cứu về tính chính trị của văn hóa
Luận án dẫn giải lý thuyết của Stuart Hall (1997) về sự tái hiện văn hóa (representation), khái niệm mã hóa/giải mã (encoding/decoding) và quan hệ quyền lực; Michel Foucault về quyền lực, mạng lưới tri thức và sự kiểm soát chuẩn mực văn hóa chính thống; John Storey (2009); Eric Hobsbawm (1983) về "sáng tạo truyền thống" (invention of tradition). Tại Việt Nam, Philip Taylor (2003) nghiên cứu chính sách văn hóa và tộc người; Lê Quốc Trung, Trần Ngọc Hảo (2008), Nguyễn Tiến Dũng (2006), Phạm Xuân Nam (2013), Lê Trường Dũng (2017) bàn luận về mối quan hệ biện chứng giữa chính trị và văn hóa sau Đổi mới.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan cho thấy các nghiên cứu trước đây về Làng VHDL các DTVN chủ yếu dừng lại ở góc độ quản lý hành chính hoặc đánh giá hoạt động du lịch đơn thuần. Luận án của nghiên cứu sinh Phạm Bích Ngọc là công trình đầu tiên đi sâu nghiên cứu hoạt động trình diễn văn hóa tại Làng VHDL các DTVN dưới lăng kính lý thuyết văn hóa học, tập trung phân tích sự tương tác ba bên (Nhà nước - Nghệ nhân/Chủ thể văn hóa - Du khách), cơ chế thương thảo lựa chọn di sản, hiện tượng bảo tồn có chọn lọc, sự đóng khung bản sắc và quá trình sáng tạo truyền thống.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và khung phân tích
Luận án sử dụng các khái niệm công cụ và khung lý thuyết chủ đạo sau:
- Khái niệm Trình diễn (Performance): Được hiểu là hành vi biểu đạt có chủ đích, diễn ra trong một không gian và thời gian cụ thể trước sự chứng kiến của người xem.
- Khái niệm Tộc người và Bản sắc văn hóa tộc người: Tác giả định nghĩa tộc người là nhóm người cùng chia sẻ các đặc tính về ngôn ngữ, văn hóa truyền thống, tín ngưỡng và ý thức tự giác tộc người. Bản sắc văn hóa không phải là thực thể tĩnh tại, bất biến theo thuyết khởi nguyên mà là một cấu trúc xã hội mang tính kiến tạo (constructivism), luôn vận động, biến đổi và được tái định hình tùy thuộc vào từng bối cảnh lịch sử - xã hội cụ thể.
- Lý thuyết Trình diễn văn hóa (Performance Theory) của Richard Bauman (1977): Là khung phân tích trung tâm. Bauman nhấn mạnh ba yếu tố:
- Tính bối cảnh: Trình diễn không thể tách rời bối cảnh lịch sử, xã hội; bối cảnh quy định ý nghĩa và sự tiếp nhận của người xem.
- Sự thương thảo và tái định hình bản sắc: Người trình diễn không chỉ sao chép nguyên mẫu mà liên tục điều chỉnh hành vi biểu đạt để thích ứng với không gian mới và đối tượng khán giả.
- Tương tác ba chiều: Sự tương tác giữa Nhà nước (Ban quản lý) - Chủ thể văn hóa (Nghệ nhân) - Khán giả (Khách du lịch) định hình cách thức di sản được tái hiện và tiếp nhận.
- Lý thuyết về Tính chủ thể tự quyết (Agency): Nhấn mạnh năng lực hành động, sự chủ động thích ứng, thương thảo và sáng tạo của người dân/nghệ nhân khi mang di sản từ địa phương về Làng trình diễn, không hoàn toàn thụ động trước các định hướng chính sách từ trên xuống.
- Lý thuyết về Tính chính trị của văn hóa và Sự tái hiện (Politics of Representation): Vận dụng quan điểm của Stuart Hall, Michel Foucault và Eric Hobsbawm để xem xét Làng VHDL các DTVN như một "địa điểm quyền lực", nơi thể hiện định hướng chính trị của Nhà nước về đại đoàn kết dân tộc đan xen với sự tự biểu đạt của cộng đồng.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án thuộc loại hình nghiên cứu định tính thuần túy, sử dụng hai nhóm phương pháp chuyên ngành:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỊNH TÍNH
PHÂN TÍCH TÀI LIỆU THỨ CẤP ĐIỀN DÃ DÂN TỘC HỌC
- Văn bản Đảng, Nhà nước (Nghị quyết, Quyết định) - Quan sát tham dự (hội nghị, sự kiện)
- Tài liệu quy hoạch, hồ sơ quản lý của Làng - Phỏng vấn sâu 3 nhóm đối tượng:
- Sách báo, công trình nghiên cứu chuyên ngành + Nhóm Nhà nước / Quản lý
+ Nhóm Nghệ nhân / Chủ thể
+ Nhóm Khách du lịch
- Phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu thứ cấp: Phân tích các nghị quyết của Đảng, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thông tư, văn bản chỉ đạo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; các báo cáo quản lý, đề án quy hoạch của Ban Quản lý Làng; các tài liệu sách, tạp chí, kỷ yếu khoa học liên quan đến chính sách dân tộc và di sản văn hóa.
- Phương pháp điền dã dân tộc học (phương pháp cốt lõi):
- Quan sát tham dự: Nghiên cứu sinh tham gia trực tiếp vào đời sống thường nhật tại các cụm làng; dự các cuộc họp, hội thảo, thương thảo giữa Ban Quản lý Làng với chuyên gia tư vấn và nghệ nhân các địa phương; tham gia trực tiếp với tư cách người hỗ trợ/giúp việc trong các sự kiện quy mô quốc gia (như Ngày hội sắc xuân trên mọi miền Tổ quốc, Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam 19/4) và các hoạt động chuyên đề theo quý, tháng, tuần.
- Phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn nhiều lần, ghi âm và gỡ băng lập biên bản phỏng vấn đối với 3 nhóm đối tượng:
- Nhóm Nhà nước/Quản lý: Ban Giám đốc, Ban Quản lý dự án Làng, các chuyên gia tư vấn, cán bộ phụ trách các tiểu ban cụm làng, lãnh đạo Sở và Phòng Văn hóa các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, Sơn La, Thái Nguyên...
- Nhóm Nghệ nhân/Chủ thể văn hóa: Trưởng các cụm làng, nghệ nhân hoạt động thường nhật lâu năm tại Làng và nghệ nhân được huy động theo thời vụ sự kiện; phỏng vấn hồi cố qua điện thoại đối với cán bộ phụ trách và nghệ nhân ở địa phương xa.
- Nhóm Khách du lịch: Du khách thuộc nhiều lứa tuổi, nghề nghiệp và thành phần xã hội tham quan tại Làng.
- Nguồn dữ liệu: Nguồn tư liệu định tính gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ quản lý, nhật ký thực địa và hàng trăm giờ ghi âm phỏng vấn sâu được chuyển thành văn bản.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận
Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 mảng nội dung: tộc người và phân loại tộc người, bản sắc văn hóa tộc người, trình diễn văn hóa tộc người, và tính chính trị của văn hóa. Tác giả làm rõ các khái niệm công cụ gồm "Trình diễn", "Tộc người" và "Bản sắc văn hóa tộc người", xác lập luận điểm coi bản sắc là một cấu trúc xã hội mang tính mở và biến đổi.
Chương này thiết lập khung phân tích dựa trên Lý thuyết Trình diễn văn hóa của Richard Bauman, Tính chủ thể tự quyết (agency) và quan niệm về địa điểm quyền lực của sự tái hiện văn hóa, làm tiền đề lý thuyết cho toàn bộ các chương thực nghiệm tiếp theo.
Chương 2: Khái quát về Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam và quá trình lựa chọn, tổ chức hoạt động trình diễn văn hóa tộc người
Chương 2 trình bày lịch sử hình thành, quy hoạch kiến trúc và cơ chế vận hành của Làng VHDL các DTVN:
- Bối cảnh và tiến trình hình thành: Ý tưởng lập làng khởi phát từ cuối năm 1988 đầu năm 1989 tại khu vực Hồ Tây (Hà Nội) với quy mô vài chục nếp nhà. Do giới hạn diện tích và sự xuất hiện của Bảo tàng Dân tộc học, địa điểm được chuyển sang Đồng Mô, Sơn Tây sau chuyến bay trực thăng khảo sát của Thủ tướng Võ Văn Kiệt và học giả Ngô Đức Thịnh.
- Các mốc pháp lý và sự phát triển tổ chức:
- Ngày 21/8/1997, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 667/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể Làng VHDL các DTVN tại khu Nam hồ Đồng Mô - Ngải Sơn (thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây cũ) với quy mô 830 ha (385 ha đất, 445 ha nước).
- Ngày 16/6/1999, Ban Quản lý (BQL) Làng được thành lập theo Quyết định số 142/QĐ-TTg; chính thức khởi công ngày 03/10/1999.
- Ngày 19/8/2005, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin phê duyệt Đề án tổng thể giai đoạn 2006–2010 (Quyết định số 6630/QĐ-BVHTT). Từ năm 2005 đến 2007, BQL tổ chức 17 hội nghị, hội thảo xin ý kiến các cơ quan Trung ương, địa phương và nghệ nhân.
- Quyết định số 15/2006/QĐ-TTg ngày 18/01/2006 nâng BQL Làng lên cơ quan tương đương Tổng cục, đơn vị dự toán cấp I trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (hoàn thiện tiếp qua Quyết định 95/2008/QĐ-TTg và Quyết định 39/QĐ-TTg).
- Quyết định số 1668/QĐ-TTg ngày 17/11/2008 lấy ngày 19/4 hàng năm là "Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam".
- Ngày 19/9/2010, Làng chính thức khai trương hoạt động nhân dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội.
- Ngày 15/9/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1689/QĐ-TTg phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung, sáp nhập phần diện tích Nông trường Đồng Mô, nâng tổng diện tích lên 1544 ha gồm 7 khu chức năng.
| Văn bản / Mốc thời gian |
Nội dung pháp lý và sự kiện chính |
| 21/8/1997 (QĐ 667/QĐ-TTg) |
Phê duyệt Quy hoạch tổng thể Làng VHDL các DTVN (830 ha) tại Đồng Mô. |
| 16/6/1999 (QĐ 142/QĐ-TTg) |
Thành lập Ban Quản lý Làng; chính thức khởi công ngày 03/10/1999. |
| 18/01/2006 (QĐ 15/2006/QĐ-TTg) |
Quy định chức năng BQL tương đương Tổng cục, đơn vị dự toán cấp I. |
| 17/11/2008 (QĐ 1668/QĐ-TTg) |
Ban hành Ngày Văn hóa các dân tộc Việt Nam (19/4 hàng năm). |
| 19/9/2010 |
Khai trương chính thức đưa Làng VHDL các DTVN vào hoạt động. |
| 15/9/2010 (QĐ 1689/QĐ-TTg) |
Phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch chung với quy mô 1544 ha, gồm 7 khu chức năng. |
- Không gian kiến trúc Khu các làng dân tộc: Được quy hoạch thành 4 cụm làng đại diện cho các vùng miền văn hóa.
- Quy trình và tiêu chí lựa chọn: Hoạt động trình diễn được phân cấp theo quy mô: hoạt động thường nhật của nghệ nhân cư trú, hoạt động cuối tuần, hoạt động chuyên đề hàng tháng/quý và sự kiện cấp quốc gia. Tiêu chí lựa chọn dựa trên kế hoạch năm của Bộ VHTTDL và sự thương thảo giữa BQL Làng, Sở VHTTDL các địa phương và các đoàn nghệ nhân chủ thể.
Chương 3: Trình diễn văn hóa tộc người Mường, Ba Na và Khmer tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
Chương 3 phân tích chi tiết 3 trường hợp thực nghiệm đại diện cho 3 cụm không gian văn hóa tiêu biểu:
- Trình diễn văn hóa dân tộc Mường (Cụm làng I):
- Không gian kiến trúc: Phục dựng không gian nhà sàn Mường truyền thống (nhà Lang, nhà Ậu) với đầy đủ các vật dụng sinh hoạt, khung dệt, cối giã gạo, thể hiện trật tự phân tầng xã hội Mường cổ truyền.
- Hoạt động trình diễn: Diễn xướng cồng chiêng Mường, trình diễn nghệ thuật dệt thổ cẩm, chế biến ẩm thực truyền thống (cơm lam, xôi ngũ sắc, rượu cần) và tái hiện các nghi thức chu kỳ đời người, chu kỳ canh tác nông nghiệp.
- Trình diễn văn hóa dân tộc Ba Na (Cụm làng II):
- Không gian kiến trúc: Xây dựng Nhà Rông cao vút làm trung tâm sinh hoạt cộng đồng cùng hệ thống nhà sàn đặc trưng của cư dân vùng Bắc Tây Nguyên.
- Trình diễn nghi lễ: Phục dựng lễ "Cúng bến nước" của người Ba Na. Luận án phân tích việc chuyển đổi không gian nghi lễ từ bến nước tự nhiên ở buôn làng Tây Nguyên sang môi trường hồ nước nhân tạo tại Làng; sự điều chỉnh quy trình cúng tế, lời khấn và đạo cụ để phù hợp với thời lượng phục vụ du khách nhưng vẫn giữ được tính thiêng cốt lõi.
- Trình diễn văn hóa dân tộc Khmer (Cụm làng III):
- Không gian kiến trúc: Phục dựng quần thể Chùa Khmer Nam Bộ hoàn chỉnh với Chính điện, Tháp Sala, Tháp để tro cốt, vườn cây thốt nốt, chuẩn xác về mặt mỹ thuật Phật giáo Nam tông.
- Trình diễn nghi lễ Sen Dolta: Phân tích quá trình tổ chức lễ Sen Dolta (lễ cúng ông bà/báo hiếu tổ tiên) tại quần thể chùa. Nghệ nhân và sư sãi Khmer từ Nam Bộ trực tiếp thực hiện các nghi thức đặt cơm vắt (Bay Ben), rước kiệu, tụng kinh cầu siêu và biểu diễn dàn nhạc ngũ âm, múa Rô-băm.
Chương 4: Trình diễn văn hóa tộc người: “Bảo tồn có chọn lọc” và những vấn đề bàn luận
Chương 4 đúc kết các luận điểm lý luận chuyên sâu từ thực tiễn khảo sát:
- Sự thay đổi trong quan điểm bảo tồn của Nhà nước: Chuyển dịch từ phương thức "bảo tồn tĩnh" (trưng bày hiện vật bất động trong tủ kính bảo tàng) sang "bảo tồn động" (di sản sống do chính chủ thể văn hóa thực hành và tương tác trực tiếp với công chúng).
- "Bảo tồn có chọn lọc": Hoạt động trình diễn tại Làng luôn trải qua một bộ lọc: chỉ những yếu tố tiêu biểu, hấp dẫn về mặt thị giác, thính giác, phù hợp thuần phong mỹ tục và khả thi trong không gian du lịch mới được chọn. Những hủ tục, yếu tố kéo dài thời gian hoặc nghi thức bí truyền bị giản lược hoặc loại bỏ.
- Phân loại tộc người và sự "đóng khung" bản sắc: Phân tích nguy cơ bản sắc của 54 dân tộc bị chuẩn hóa thành các "khuôn mẫu biểu trưng cố định" (mỗi dân tộc gắn liền với một kiểu nhà sàn, một bộ trang phục, một điệu múa mẫu), vô tình làm lu mờ sự đa dạng của các nhóm địa phương trong cùng một tộc người.
- "Sân khấu hóa" và "Sáng tạo truyền thống": Các nghi lễ nguyên bản kéo dài nhiều ngày đêm được cô đọng thành các tiết mục diễn xướng từ 30 đến 45 phút trên sân khấu hoặc khoảng sân làng. Nghệ nhân và nhà quản lý đã chủ động "sáng tạo truyền thống mới" thông qua việc biên đạo lại động tác múa, rút gọn lời khấn, bổ sung lời thuyết minh nhằm đáp ứng nhu cầu nghe - nhìn của du khách đương đại.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về hoạt động trình diễn văn hóa tộc người tại Làng VHDL các DTVN dưới góc độ chuyên ngành Văn hóa học.
- Bổ sung cứ liệu thực chứng khẳng định bản sắc văn hóa tộc người không phải là thực thể bất biến mà là một quá trình liên tục được kiến tạo, tái cấu trúc và bổ sung ngữ nghĩa mới thông qua các thực hành trình diễn.
- Làm rõ mối quan hệ tương tác phức hợp giữa định hướng chính trị của Nhà nước (tính chính trị của sự tái hiện) và tính chủ thể tự quyết (agency) của cộng đồng nghệ nhân trong không gian du lịch.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và kiến nghị
- Cung cấp nguồn tư liệu thực địa chi tiết về quy trình quản lý, lựa chọn và phục dựng không gian văn hóa của 3 tộc người tiêu biểu (Mường, Ba Na, Khmer) tại Làng từ năm 2010 đến 2023.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Làng VHDL các DTVN:
- Tăng cường quyền tự chủ và tôn trọng sự sáng tạo của cộng đồng nghệ nhân cư trú thường nhật.
- Tránh việc "đóng khung" bản sắc văn hóa một cách xơ cứng; cần luân phiên giới thiệu các sắc thái văn hóa địa phương phong phú của cùng một tộc người.
- Hoàn thiện cơ chế phối hợp ba bên giữa Ban Quản lý Làng, chính quyền địa phương gửi đoàn và cộng đồng nghệ nhân; cải thiện chính sách đãi ngộ vật chất và tinh thần cho các nghệ nhân sinh sống tại Làng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu:
- Quá trình điền dã thực địa bị gián đoạn đáng kể trong giai đoạn cuối năm 2019 đến cuối năm 2021 do đại dịch Covid-19 bùng phát khiến Làng dừng toàn bộ hoạt động trình diễn.
- Do hạn chế về thời gian và nguồn lực, luận án mới tập trung khảo sát sâu tại 3 không gian đại diện (Mường, Ba Na, Khmer thuộc 3 cụm làng I, II, III), chưa thể bao quát toàn bộ 54 tộc người trong cả 4 cụm làng.
- Kinh nghiệm điền dã ban đầu của nghiên cứu sinh cần nhiều thời gian để xây dựng mạng lưới quan hệ tin cậy với nghệ nhân và các cấp quản lý.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các tộc người thuộc Cụm làng IV và các nhóm dân tộc có số dân rất ít (dưới 1.000 người như Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm, Pu Péo, Si La).
- Nghiên cứu sâu hơn về sự chuyển đổi sinh kế, tâm lý xã hội và sự biến đổi văn hóa dài hạn của cộng đồng nghệ nhân cư trú dài hạn tại Làng.
- Đo lường và đánh giá hiệu quả tiếp nhận di sản của du khách quốc tế đối với các sản phẩm du lịch trình diễn tại Làng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Văn hóa học, Dân tộc học/Nhân học, Quản lý văn hóa, Du lịch học; đặc biệt là khung lý thuyết trình diễn văn hóa của Richard Bauman, lý thuyết chủ thể tự quyết và phương pháp điền dã quan sát tham dự.
- Nhà quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách: Cán bộ Cục Di sản văn hóa, Vụ Văn hóa dân tộc (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Ban Quản lý Làng VHDL các DTVN, các Sở VHTTDL địa phương trong việc xây dựng cơ chế phối hợp, thiết kế chương trình lễ hội và bảo tồn di sản gắn với phát triển kinh tế du lịch bền vững.
- Các phần đáng tham khảo nhất:
- Chương 2: Toàn bộ lịch sử pháp lý quy hoạch, cơ chế tổ chức sự kiện từ cấp quốc gia đến thường nhật tại Làng VHDL các DTVN.
- Chương 3: Hồ sơ tư liệu thực chứng về kiến trúc và nghi lễ của người Mường, Ba Na, Khmer.
- Chương 4: Các thảo luận học thuật về "bảo tồn có chọn lọc", "đóng khung bản sắc" và "sân khấu hóa truyền thống".
Câu hỏi thường gặp
1. Dự án Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam được phê duyệt quy hoạch tổng thể vào năm nào và có quy mô diện tích ra sao?
Dự án được Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt phê duyệt Quy hoạch tổng thể tại Quyết định số 667/QĐ-TTg ngày 21/8/1997 với diện tích ban đầu khoảng 830 ha (385 ha đất, 445 ha nước) tại Đồng Mô - Ngải Sơn, Sơn Tây. Đến ngày 15/9/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1689/QĐ-TTg điều chỉnh Quy hoạch chung, nâng tổng diện tích lên 1544 ha gồm 7 khu chức năng.
2. Ba tộc người được tác giả lựa chọn làm trường hợp nghiên cứu điển hình trong Chương 3 là những dân tộc nào và vì sao được chọn?
Ba tộc người được lựa chọn là Mường (Cụm làng I), Ba Na (Cụm làng II) và Khmer (Cụm làng III). Lý do lựa chọn là vì văn hóa của 3 tộc người này đại diện cho 3 vùng không gian văn hóa lớn tại Làng; không gian kiến trúc được chăm chút tỉ mỉ, tạo dấu ấn riêng; đồng thời đây là những điểm có nghệ nhân về sinh hoạt thường nhật lâu năm và thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa ở nhiều quy mô trong năm.
3. Khung lý thuyết trọng tâm nào được luận án vận dụng để lý giải hoạt động trình diễn văn hóa?
Luận án sử dụng Lý thuyết Trình diễn văn hóa (Performance Theory) của Richard Bauman trong tác phẩm Verbal Art as Performance (1977), kết hợp với lý thuyết về Tính chủ thể tự quyết (Agency) và quan niệm về Tính chính trị của sự tái hiện văn hóa (Stuart Hall, Michel Foucault, Eric Hobsbawm).
4. Tác giả đã phỏng vấn sâu những nhóm đối tượng nào trong quá trình điền dã?
Nghiên cứu sinh đã tiến hành phỏng vấn sâu 3 nhóm đối tượng:
- Nhóm Nhà nước: Ban Giám đốc, cán bộ BQL dự án Làng, chuyên gia tư vấn, cán bộ các tiểu ban cụm làng, lãnh đạo Sở/Phòng Văn hóa các tỉnh (Hòa Bình, Thanh Hóa, Sơn La, Thái Nguyên...).
- Nhóm Nghệ nhân: Trưởng làng, nghệ nhân sinh hoạt thường nhật lâu năm và nghệ nhân hoạt động thời vụ.
- Nhóm Khách du lịch: Du khách tham quan thuộc các lứa tuổi, nghề nghiệp và thành phần xã hội.
5. Những vấn đề lý luận cốt lõi nào được luận án đúc kết và bàn luận trong Chương 4?
Chương 4 luận bàn 4 vấn đề chính: sự thay đổi trong quan điểm bảo tồn di sản của Nhà nước (từ bảo tồn tĩnh sang bảo tồn động); hiện tượng "bảo tồn có chọn lọc" qua việc thanh lọc di sản phục vụ du lịch; nguy cơ phân loại tộc người dẫn đến "đóng khung" bản sắc văn hóa; và cơ chế "sân khấu hóa" gắn liền với "sáng tạo truyền thống" trong bối cảnh đương đại.
Kết luận
Luận án tiến sĩ “Trình diễn văn hóa tộc người tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam” của tác giả Phạm Bích Ngọc là công trình nghiên cứu định tính công phu, giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa chính sách văn hóa của Nhà nước và thực tiễn thực hành di sản của cộng đồng dân tộc. Bằng việc vận dụng sắc bén lý thuyết trình diễn văn hóa và góc nhìn kiến tạo bản sắc, luận án đã làm rõ quy trình chuyển giao, phục dựng và tái cấu trúc không gian văn hóa Mường, Ba Na, Khmer tại thiết chế Làng VHDL các DTVN. Công trình khẳng định hoạt động trình diễn không chỉ đơn thuần là sự tái hiện quá khứ mà là một quá trình liên tục thương thảo, bảo tồn có chọn lọc và sáng tạo truyền thống trong đời sống đương đại. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng phục vụ công tác quản lý di sản, tổ chức du lịch văn hóa và hoạch định chính sách dân tộc tại Việt Nam.