phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án đƣợc triển khai thành 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận. Chƣơng 2: Khái quát về Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam và quá trình lựa chọn hoạt động trình diễn văn hóa tộc ngƣời. Chƣơng 3: Trình diễn văn hóa tộc ngƣời Mƣờng, Ba Na, Khmer tại Làng Văn hóa – Du lịch các dân tộc Việt Nam. Trình diễn văn hóa tộc ngƣời: “Bảo tồn có chọn lọc” và những vấn đề bàn luận 8 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về tộc người và phân loại tộc người ở Việt Nam Theo Wan và Vanderwerf [119] thuật ngữ tộc ngƣời xuất hiện phổ biến sau thập kỷ 70 của thế kỷ XX. Trƣớc đó, giới nghiên cứu chủ yếu sử dụng khái niệm “chủng tộc” (race) hay “bộ tộc” (tribe). Đến nay, việc xem xét tộc ngƣời thƣờng xuất phát từ ba lý thuyết: Khởi nguyên luận (primordialist theories) cho rằng tộc ngƣời đƣợc ấn định từ khi sinh ra và việc xác định tộc ngƣời dựa trên cơ sở mối liên hệ gốc với nhóm hoặc văn hóa; Công dụng luận (instrumental theories) lại cho rằng tộc ngƣời dựa trên cơ sở ký ức và biểu tƣợng, đôi khi bị ngƣời khác thúc đẩy, sử dụng nhằm mƣu cầu lợi ích của họ; Cấu trúc luận (constructivist theories) lại giải thích tộc ngƣời không phải là “quá trình” mà là con ngƣời đƣợc “cấu trúc” trong bối cảnh lịch sử, xã hội.
Chính sự đa dạng về cách tiếp cận và lý thuyết dẫn đến nhiều định nghĩa khác nhau về tộc ngƣời. Theo quan điểm của Weber [120] tộc ngƣời là tập đoàn ngƣời “nuôi dƣỡng niềm tin chủ quan về nòi giống chung bởi tƣơng đồng về hình thể hay tập quán hoặc cả hai; hoặc do ký ức về chủ nghĩa thực hay di cƣ”. Đồng quan điểm với Weber, Smith [101] cũng cho rằng tộc ngƣời là một cộng đồng gồm 6 thuộc tính, đó là: có tên đƣợc xác định, có huyền thoại về tổ tiên, có sự chia sẻ về ký ức lịch sử, có một hoặc nhiều yếu tố khác biệt với văn hóa chung, có sự đồng cảm về quê hƣơng, có ý thức đoàn kết trong cộng đồng. Các học giả Liên Xô (cũ) cũng thừa nhận tộc ngƣời là cộng đồng có bản sắc riêng, cùng chia sẻ những đặc điểm cơ bản nhƣ tên gọi, ngôn ngữ, lãnh thổ, những đặc điểm về văn hóa, nếp sống, tổ chức xã hội.
Theo đó, Bromley đã có định nghĩa: “Tộc ngƣời là một tập đoàn ngƣời ổn định đƣợc hình thành trong lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, có những đặc điểm văn hóa chung tƣơng đối ổn định (gồm cả ngôn ngữ) và tâm lý, đồng thời có ý thức về sự thống nhất của 9 mình và sự khác biệt với cộng đồng tƣơng tự khác (ý thức tự đánh giá) đƣợc biểu hiện ở tên tự gọi” Nhƣ vậy, xét về khái niệm tộc ngƣời, các nhà dân tộc học Xô Viết và các học giả Bắc Mỹ và Tây Âu đều có điểm chung là chú trọng đến yếu tố bản sắc văn hóa. Từ thế kỷ XIX đến trƣớc năm 1945, các nhà nghiên cứu của Pháp đã có nhiều công trình nghiên cứu về các tộc ngƣời và văn hóa tộc ngƣời Việt Nam. Theo con số thống kê chƣa đầy đủ, ngƣời Pháp đã viết 950 công trình về tộc ngƣời ở Việt Nam, chủ yếu đề cập đến phong tục, tập quán, ngôn ngữ của một số tộc ngƣời thiểu số. Trong đó phải kể đến nghiên cứu của E.
Maitre (1912) về “Các xứ Thƣợng ở miền Nam Đông Dƣơng, cao nguyên Đắc Lắc”; của P. Sau năm 1945, các nhà nghiên cứu nƣớc ngoài vẫn tiếp tục có những nghiên cứu về tộc ngƣời thiểu số ở Việt Nam. Tiêu biểu là những nghiên cứu của P. Guileminet (1952) về “Coutumiei de la tribu Bahnar, Sedang, et des Jrai de la province de Kon Tum” (Tập quán của các tộc ngƣời Bana, Xơ đăng và Giarai ở tỉnh Kontum”; nghiên cứu G.
Hickey về các tộc ngƣời ở Tây Nguyên nhƣ: “Sons of the mountains. Ethnohistory of the Vietnamese Central Higland to 1954” (Những đứa con của núi rừng. Lịch sử tộc ngƣời ở Tây Nguyên Việt Nam đến năm 1954); “Free in the Forest. Ethnohistory of the Vietnamese Central Higlands to 1954-1976” (Tự do trong rừng.
Lịch sử tộc ngƣời ở Tây Nguyên Việt Nam từ năm 1954-1976). Ở Việt Nam, vào những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ XX, nghiên cứu về tộc ngƣời và tiêu chí xác định tộc ngƣời mới đƣợc quan tâm thông qua nhiều diễn đàn, hội thảo với sự tham gia của các nhà nghiên cứu dân tộc học. Giai đoạn trƣớc năm 1975, các nhà nghiên cứu thƣờng sử dụng các thuật ngữ “sắc tộc”, “dân tộc”. Tuy nhiên đến đầu năm 1979, thuật ngữ “tộc ngƣời” đã đƣợc dùng thay thế cho thuật ngữ “sắc tộc” và tƣơng ứng với thuật ngữ “dân tộc” và dùng 10 để chỉ các dân tộc đang sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam.
Trong cuốn sách “Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam”, tác giả Phan Hữu Dật đã định nghĩa: “Tộc ngƣời là một cộng đồng ngƣời đƣợc hình thành trong lịch sử, mang ba tiêu chuẩn chủ yếu sau đây: cùng chung tiếng nói; cùng có chung một ý thức tự giác tộc ngƣời biểu hiện ở tên tự gọi chung; có những yếu tố văn hóa thống nhất” và “. Tộc ngƣời là một phạm trù lịch sử, có phát sinh, phát triển và tiêu vong” [22]. Giáo sƣ Đặng Nghiêm Vạn trong cuốn sách “Cộng đồng quốc gia dân tộc Việt Nam” cũng có cách lý giải khái niệm này: tộc ngƣời là “một cộng đồng mang tính tộc ngƣời có chung một tên gọi, một ngôn ngữ (trừ trƣờng hợp cá biệt) đƣợc liên kết với nhau bằng những giá trị sinh hoạt văn hóa, tạo thành một tính cách tộc ngƣời, có chung một ý thức tự giác tộc ngƣời, tức là có chung một khát vọng, đƣợc cùng chung sống, có chung một số phận lịch sử thể hiện ở những kí ức lịch sử. Một tộc ngƣời không nhất thiết phải có cùng lãnh thổ, cùng một cộng đồng sinh hoạt kinh tế” [95].
Cũng qua cuốn sách, tác giả đã phân biệt rõ hai khái niệm dân tộc (nation) và tộc ngƣời (ethnic). Tác giả Bế Viết Đẳng [27] chỉ ra rằng những đặc điểm văn hóa và ý thức tự giác dân tộc là những tiêu chuẩn hàng đầu để xác định thành phần dân tộc ở Việt Nam. Nhƣ vậy, các nhà nghiên cứu Việt Nam đều thống nhất tiêu chí căn bản để xác định tộc ngƣời đó là: ngôn ngữ, văn hóa và ý thức tự giác tộc ngƣời. Trong đó yếu tố văn hóa là dấu hiệu nhận diện quan trọng nhất về tộc ngƣời.
Đối với vấn đề xác định số lƣợng tộc ngƣời tại Việt Nam cũng có nhiều nghiên cứu. Trong cuốn sách “Các dân tộc thiểu số Việt Nam” (1959) của tác giả Lã Văn Lô xác định Việt Nam có 64 dân tộc [51]. Tuy nhiên, sau đó có nhiều ý kiến trái chiều về vấn đề phân loại tộc ngƣời ở nƣớc ta. Tác giả Nguyễn Dƣơng Bình đƣa ra ý kiến cần tìm hiểu và phân loại tộc ngƣời bởi tính phức tạp của mối quan hệ giữa dân tộc và nhóm địa phƣơng của dân tộc trong bài viết “Một vài suy nghĩ về công tác xác định thành phần dân tộc” [4].
Tác giả Lâm Thanh Tòng [86] cũng cho rằng trong mỗi dân tộc thƣờng có nhiều nhóm địa phƣơng. Có những nhóm địa phƣơng tự nhận mình là một tộc ngƣời riêng biệt nên cần nghiên cứu thấu đáo để tránh nhầm lẫn. Ngoài ra cũng có nhiều ý kiến đƣa ra để 11 xác định thành phần tộc ngƣời nhƣ: xác định thành phần tộc ngƣời kết hợp với điều tra dân số [Hoàng Thị Châu]; bổ sung tiêu chí nguồn gốc tộc nguyên [Triệu Hữu Lý]… Cuối cùng, theo Quyết định 121-TCTK/PPCĐ ngày 2/3/1979 của Tổng cục Thống kê ban hành “Danh mục thành phần các dân tộc Việt Nam” thì Việt Nam có 54 dân tộc, trong đó 53 dân tộc thiểu số và 1 dân tộc đa số. Từ năm 2001 đến năm 2013, Viện Dân tộc học và Ủy ban Dân tộc tiếp tục có những nghiên cứu nhằm xác định lại thành phần đối với một số tộc ngƣời/ nhóm trong một tộc ngƣời dựa trên nguyên vọng của một số ngƣời dân và nhà dân tộc học.
Trong hai lần xác định lại thành phần tộc ngƣời, các nhà nghiên cứu và cán bộ quản lý Nhà nƣớc đều áp dụng ba tiêu chí chung nhƣ các nghiên cứu đi trƣớc là ngôn ngữ, đặc điểm văn hóa và ý thức tự giác tộc ngƣời. Vì vậy, qua hai lần xác định lại thành phần tộc ngƣời, đến nay, Việt Nam vẫn giữ nguyên danh mục 54 tộc ngƣời. Trong các tài liệu nghiên cứu, các văn bản chính sách và tài liệu truyền thông thƣờng phân chia các dân tộc ở nƣớc ta thành dân tộc đa số (dân tộc Kinh- chiếm 85,3% tổng dân số (Theo số liệu thống kê dân số năm 2019) và dân tộc thiểu số (53 dân tộc còn lại chiếm 14,7% tổng dân số). Trong 53 dân tộc thiểu số có 16 dân tộc có số dân dƣới 10.
Bài viết “Tiến tới việc hình thành một quan điểm mới về nhóm tộc ngƣời” của tác giả Charles Keyes trong cuốn sách “Văn hóa tộc ngƣời và tôn giáo ở Đông Nam Á” đã chỉ ra: “Ba yếu tố khác đƣợc trao khi sinh là đặc điểm sinh học, nơi sinh và nguồn gốc làm thành cơ sở cho việc phân biệt giữa các nhóm xã hội. Trong đó, nguồn gốc quan trọng hơn cả khi mà trong nhiều trƣờng hợp ngƣời ta không tính toán tới các đặc điểm sinh học và nơi sinh trùng hợp với nguồn gốc” [106]. Theo quan điểm của tác giả, không có các thuộc tính văn hóa nào là phổ biến để phân biệt nhóm tộc ngƣời này với nhóm tộc ngƣời khác. Từ đó đã phát triển công thức mới về khái niệm tộc ngƣời có đặc tính là “nguồn gốc đƣợc trao khi sinh”.
Tiếp tục nghiên cứu về tộc ngƣời ở Việt Nam, bài viết “Tộc ngƣời với các quốc gia – dân tộc Thái Lan và Việt Nam”, tác giả Charles Keyes cho rằng: “tộc ngƣời và quan hệ giữa các nhóm tộc ngƣời là kết quả của những quá trình 12 đƣợc bắt đầu ở thời hiện đại khi các nhà nƣớc đƣợc lập ra để liên kết các tộc ngƣời với các di sản văn hóa và lịch sử chính trị khác nhau” và “các dân tộc đƣợc “xây dựng” (Francis 1968, Bell và Freeman 1974), đƣợc “sáng tạo” (Hobsbawm và Ranger 1983), đƣợc “tƣởng tƣợng” (Anderson 1991) trên cơ sở những quan điểm riêng đƣợc khuyến khích bởi các nhà lãnh đạo”.