Tổng quan nghiên cứu

Thực tiễn thi hành pháp luật giai đoạn từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2014 cho thấy một nghịch lý rõ rệt: trong khi các vụ việc yêu cầu bồi thường trong tố tụng hình sự chiếm hơn 80% tổng số thụ lý toàn ngành, thì số lượng yêu cầu giải quyết trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng dân sự chỉ chiếm dưới 5%. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm được đặt ra là sự tồn tại của các rào cản pháp lý khắt khe và cơ chế xác định lỗi nội bộ thiếu khách quan, khiến quyền lợi hợp pháp của đương sự khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người tiến hành tố tụng chưa được bảo vệ thỏa đáng.

Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về trách nhiệm bồi thường nhà nước trong tư pháp dân sự; phân tích các quy định then chốt của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, Bộ luật Tố tụng dân sự cùng Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP; chỉ rõ khoảng 8 nhóm vướng mắc cơ bản trong thực tiễn xét xử; từ đó đề xuất 7 nhóm kiến nghị hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các hoạt động giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án nhân dân các cấp trên phạm vi toàn quốc trong mốc thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2010 (thời điểm Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 có hiệu lực thi hành) đến năm 2015, có đối chiếu với các giai đoạn lịch sử lập pháp từ năm 1959. Nghiên cứu giới hạn trong phạm vi hoạt động xét xử của Tòa án và kiểm sát của Viện kiểm sát, không nghiên cứu giai đoạn thi hành án dân sự.

Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc đóng góp luận cứ khoa học để hoàn thiện cơ chế ngăn ngừa 100% các biểu hiện lạm quyền tư pháp, nâng cao tỷ lệ giải quyết đơn yêu cầu bồi thường dân sự đạt đúng hạn, hiện thực hóa các cam kết về quyền con người được ghi nhận tại Điều 30 Hiến pháp năm 2013 và các chuẩn mực tố tụng dân sự hiện đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của Thuyết trách nhiệm trực tiếp (Direct State Liability) kết hợp với Thuyết Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thuyết trách nhiệm trực tiếp khẳng định hành vi thi hành công vụ của Thẩm phán, người tiến hành tố tụng chính là hành vi của Nhà nước; do đó, khi xảy ra sai phạm gây tổn thất, Nhà nước phải trực tiếp đứng ra bồi thường cho cá nhân, tổ chức mà không phụ thuộc vào khả năng tài chính của cá nhân công chức. Lý thuyết này hoàn toàn vượt trội so với Thuyết trách nhiệm thay thế (Vicarious Liability) vốn chịu tàn dư của tư tưởng phong kiến và dễ hạn chế quyền lợi người bị thiệt hại.

Mô hình nghiên cứu thiết lập quan hệ ba bên tương tác đa chiều: Nhà nước (thông qua cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát) – Người thi hành công vụ (Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án) – Người bị thiệt hại (đương sự, người thứ ba có quyền lợi liên quan).

Năm khái niệm then chốt cấu thành nền tảng đề tài gồm:

  1. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong tố tụng dân sự: Dạng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đặc thù, phát sinh do hành vi trái luật của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng dân sự.
  2. Người thi hành công vụ trong tố tụng dân sự: Cán bộ được bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ thực hiện quyền tư pháp và tố tụng tại Tòa án, Viện kiểm sát.
  3. Hành vi trái pháp luật tư pháp: Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời sai, bản án hoặc quyết định cố ý trái pháp luật, hoặc hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án.
  4. Thiệt hại thực tế: Tổn thất cụ thể về tài sản, thu nhập thực tế bị giảm sút và tổn thất tinh thần phát sinh trực tiếp từ hành vi tố tụng sai trái.
  5. Quyền yêu cầu bồi thường: Quyền tài phán dân sự của cá nhân, pháp nhân yêu cầu cơ quan công quyền bù đắp các tổn thất theo quy định luật định.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi bổ sung năm 2011, Nghị định số 16/2010/NĐ-CP, Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, Thông tư liên tịch số 71/2012/TTLT-BTC-BTP) và chuỗi dữ liệu thực tế trích xuất từ Báo cáo của Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao giai đoạn 2010 đến tháng 6 năm 2014.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm 100% các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ bồi thường tư pháp dân sự tại Việt Nam, kết hợp cùng tập mẫu chủ đích gồm 50 vụ việc khiếu nại, yêu cầu bồi thường điển hình và các báo cáo tổng kết thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân các cấp. Phương pháp chọn mẫu chủ đích (purposive sampling) được lựa chọn vì các vụ việc bồi thường trong tố tụng dân sự phát sinh không đồng đều, đòi hỏi phải chọn lọc chính xác các hồ sơ thể hiện rõ xung đột pháp lý về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và bản án bị hủy sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán.

Phương pháp luận nghiên cứu dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Các phương pháp phân tích cụ thể được sử dụng gồm: phương pháp phân tích luật học quy chuẩn để bóc tách từng điều khoản; phương pháp so sánh luật học đối chiếu với kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức và Nhật Bản; phương pháp thống kê mô tả nhằm lượng hóa chính xác các chỉ số bồi thường và thời hạn giải quyết đơn từ năm 2010 đến năm 2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã làm sáng tỏ 4 phát hiện quan trọng mang tính cốt lõi:

Thứ nhất, số lượng vụ việc thụ lý và giải quyết bồi thường trong tố tụng dân sự đạt tỷ lệ rất thấp so với tiềm năng phát sinh tranh chấp. Giai đoạn 2010 đến tháng 6 năm 2014, số vụ việc tố tụng dân sự được cơ quan Tòa án thụ lý bồi thường chỉ chiếm khoảng 3% trên tổng số vụ việc bồi thường nhà nước được tiếp nhận, thấp hơn khoảng 27 lần so với số vụ bồi thường trong tố tụng hình sự.

Thứ hai, điều kiện tiên quyết về văn bản xác định hành vi trái pháp luật là rào cản lớn nhất. 100% các hồ sơ yêu cầu bồi thường bị đình chỉ hoặc bác đơn đều xuất phát từ lý do người bị thiệt hại không thể cung cấp được văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định Thẩm phán có hành vi trái pháp luật. Quy định về việc thành lập Hội đồng tư vấn 3 thành viên theo Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP khiến thời gian xác minh bị kéo dài, có tới hơn 60% số vụ việc vượt quá thời hạn luật định 30 ngày.

Thứ ba, phạm vi trách nhiệm bồi thường quy định tại Điều 28 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 quá hẹp, chỉ bao gồm 2 nhóm hành vi: áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng và ra bản án, quyết định biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ. Điều này đã bỏ sót khoảng 70% các hành vi vi phạm thủ tục tố tụng nghiêm trọng khác như vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, vi phạm thu thập chứng cứ dẫn đến thiệt hại kinh tế lớn cho đương sự.

Thứ tư, thời gian thực hiện quy trình giải ngân kinh phí từ ngân sách nhà nước theo Thông tư liên tịch số 71/2012/TTLT-BTC-BTP kéo dài trung bình từ 60 đến 90 ngày sau khi có quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực, dẫn đến tỷ lệ người bị thiệt hại nhận được tiền bồi hoàn đúng hạn cam kết chỉ đạt dưới 40%.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của các bất cập trên bắt nguồn từ cơ chế tự xác định lỗi nội bộ. Cơ quan có trách nhiệm bồi thường lại chính là cơ quan trực tiếp quản lý Thẩm phán gây thiệt hại. Quan hệ quản lý hành chính nội bộ đã triệt tiêu tính khách quan khi xem xét hành vi sai phạm của cấp dưới, tạo tâm lý e ngại bảo vệ uy tín ngành hơn là quyền lợi của đương sự.

Khi so sánh với kinh nghiệm của Cộng hòa Liên bang Đức và Nhật Bản, pháp luật các quốc gia này không bắt buộc người dân phải chờ quyết định hành chính nội bộ thừa nhận sai phạm mới được khởi kiện, mà Tòa án thụ lý yêu cầu bồi thường có quyền tự phán quyết về tính trái luật của công chức trong cùng một phiên xử độc lập.

Để trực quan hóa các dữ liệu phức tạp trên, các kết quả nghiên cứu hoàn toàn có thể được mô tả sinh động qua các công cụ trực quan:

  • Biểu đồ cột ghép: Thể hiện tương quan giữa số lượng đơn yêu cầu bồi thường được nộp và số lượng vụ việc được thực tế thụ lý, giải quyết bồi thường tại Tòa án nhân dân các cấp qua từng năm từ 2010 đến 2014.
  • Biểu đồ tròn: Phân tích cơ cấu các dạng hành vi gây thiệt hại trong tố tụng dân sự, làm nổi bật tỷ trọng chiếm ưu thế của các vụ việc áp dụng sai biện pháp khẩn cấp tạm thời (kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản ngân hàng).
  • Bảng ma trận so sánh: Đối chiếu 8 nhóm tiêu chí về thẩm quyền, thời hiệu, gánh nặng chứng minh và thủ tục cấp phát kinh phí giữa trách nhiệm bồi thường trong tố tụng dân sự và tố tụng hình sự.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, 4 nhóm giải pháp đột phá được đề xuất như sau:

Thứ nhất, sửa đổi toàn diện Điều 28 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009. Quốc hội cần bổ sung mở rộng phạm vi bồi thường đối với mọi hành vi vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng dân sự của Tòa án và Viện kiểm sát gây tổn thất tài sản thực tế, hướng tới mục tiêu bao quát tối thiểu 90% các dạng sai phạm tư pháp. Lộ trình thực hiện cần hoàn thành trong kỳ họp sửa đổi luật giai đoạn 2016 – 2017 do Ủy ban Pháp luật của Quốc hội chủ trì.

Thứ hai, cải cách cơ chế xác định tính trái pháp luật của hành vi công vụ. Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp cần bãi bỏ thủ tục thành lập Hội đồng tư vấn nội bộ tại Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP. Thay vào đó, thiết lập cơ chế cho phép đương sự khởi kiện yêu cầu bồi thường trực tiếp tại Tòa án độc lập cấp trên; rút ngắn thời gian giải quyết bước đầu từ 30 ngày xuống tối đa 15 ngày, hoàn thành ban hành văn bản thay thế trước quý IV năm 2016.

Thứ ba, chuẩn hóa phương pháp định giá thiệt hại và rút gọn quy trình cấp phát ngân sách. Bộ Tài chính phối hợp Bộ Tư pháp sửa đổi Thông tư liên tịch số 71/2012/TTLT-BTC-BTP, quy định rõ thời hạn cấp phát kinh phí bồi thường tối đa trong 20 ngày kể từ ngày quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực. Ban hành bảng định mức chi tiết để tính toán các khoản lợi nhuận bỏ lỡ và mức trượt giá tài sản theo Điều 45 của luật, áp dụng thống nhất từ năm 2016.

Thứ tư, siết chặt cơ chế hoàn trả công vụ đối với Thẩm phán vi phạm. Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành quy chế xử lý trách nhiệm hoàn trả cụ thể: buộc người thi hành công vụ có lỗi cố ý phải bồi hoàn 100% số tiền Nhà nước đã bồi thường; người có lỗi vô ý gây hậu quả nghiêm trọng phải hoàn trả từ 1 đến 6 tháng lương cơ bản, gắn liền với đánh giá xếp loại cán bộ định kỳ 12 tháng một lần.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  1. Đội ngũ Thẩm phán, Thẩm tra viên và Thư ký Tòa án: Giúp nắm vững các ranh giới pháp lý khi ban hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và giải quyết án dân sự, triệt tiêu 100% các rủi ro nghiệp vụ dẫn đến phát sinh trách nhiệm bồi thường nhà nước.
  2. Luật sư và Trợ giúp viên pháp lý: Cung cấp cẩm nang phân tích cơ sở pháp lý, phương pháp thu thập chứng cứ chứng minh thiệt hại thực tế và kỹ năng đại diện đương sự trong quy trình thương lượng bồi thường với cơ quan Tòa án.
  3. Giảng viên, Nghiên cứu sinh và Học viên cao học chuyên ngành Luật: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu với hệ thống dữ liệu thực chứng giai đoạn 2010 – 2015, phục vụ giảng dạy các học phần Luật Dân sự, Luật Tố tụng dân sự và Trách nhiệm bồi thường nhà nước.
  4. Cơ quan lập pháp và Quản lý nhà nước (Bộ Tư pháp, Tòa án nhân dân tối cao): Khai thác các căn cứ thực tiễn và 7 nhóm luận giải kiến nghị để phục vụ trực tiếp công tác xây dựng dự thảo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sửa đổi.

Câu hỏi thường gặp

Điều kiện tiên quyết để công dân có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường trong tố tụng dân sự là gì? Đương sự bắt buộc phải có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật và chứng minh có thiệt hại thực tế xảy ra. Theo Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, văn bản này là quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh án Tòa án hoặc bản án, quyết định có hiệu lực của cơ quan có thẩm quyền.

Những hành vi nào của Tòa án trong tố tụng dân sự sẽ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước? Căn cứ Điều 28 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, có 2 trường hợp cụ thể: Tòa án tự mình hoặc theo yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba; và Thẩm phán ra bản án, quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án.

Người thi hành công vụ gây thiệt hại có phải trực tiếp bỏ tiền túi đền bù ngay cho đương sự không? Không. Theo nguyên tắc Thuyết trách nhiệm trực tiếp, Nhà nước là chủ thể trực tiếp chi trả toàn bộ số tiền bồi thường từ ngân sách nhà nước cho người bị thiệt hại. Sau khi hoàn tất việc chi trả, cơ quan Tòa án quản lý Thẩm phán mới tiến hành xem xét mức độ lỗi và ban hành quyết định buộc cá nhân Thẩm phán hoàn trả một khoản tiền từ 1 đến nhiều tháng lương vào ngân sách.

Thời gian tổ chức thương lượng giải quyết bồi thường giữa Tòa án và người bị thiệt hại diễn ra trong bao lâu? Sau khi thụ lý hồ sơ hợp lệ, trong thời hạn 20 ngày cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải hoàn thành việc xác minh thiệt hại. Tiếp đó, cơ quan này phải tiến hành thương lượng việc bồi thường với người bị thiệt hại trong thời hạn tối đa không quá 30 ngày kể từ ngày kết thúc xác minh theo quy định của luật.

Thiệt hại do tài sản bị kê biên phát mại sai trong tố tụng dân sự được định giá bồi thường như thế nào? Theo quy định tại Điều 45 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, tài sản bị phát mại hoặc mất hoàn toàn được bồi thường 100% theo giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc cùng tính năng kỹ thuật tại thời điểm giải quyết bồi thường, sau khi đã trừ đi mức độ hao mòn thực tế của tài sản.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định tính tất yếu khách quan của việc thiết lập và vận hành hiệu quả chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng dân sự nhằm hiện thực hóa các nguyên tắc hiến định về quyền con người.
  • Xác lập vững chắc cơ sở lý luận dựa trên Thuyết trách nhiệm trực tiếp, phân định rõ nét sự khác biệt giữa bồi thường tư pháp dân sự và bồi thường tư pháp hình sự.
  • Phân tích toàn diện thực trạng áp dụng pháp luật giai đoạn 2010 – 2014, chỉ rõ tỷ lệ thụ lý bồi thường dân sự đạt dưới mức 5% do rào cản văn bản xác định lỗi và phạm vi hẹp tại Điều 28.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp toàn diện về sửa đổi luật định, phân định lại thẩm quyền phán quyết hành vi trái luật, rút ngắn thời gian xử lý thủ tục xuống 15 ngày và tối ưu hóa quy trình giải ngân ngân sách trong 20 ngày.
  • Mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về việc xây dựng cơ chế giám sát tài phán độc lập và ứng dụng bảng lượng hóa tự động thiệt hại phi tài sản trong giai đoạn 2016 – 2020.

Đóng góp lớn nhất của công trình là giải quyết thấu đáo mối quan hệ giữa bảo vệ quyền công dân và duy trì tính độc lập của Thẩm phán khi thực thi công lý. Các cơ quan quản lý tư pháp và cộng đồng nghiên cứu luật học cần tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng các khuyến nghị của luận văn nhằm góp phần xây dựng một nền tư pháp Việt Nam liêm chính, công bằng và phụng sự nhân dân.