Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. CHẨN ĐOÁN THẬN MẤT CHỨC NĂNG Chẩn đoán bằng lâm sàng Triệu chứng lâm sàng thường gặp trên những bệnh nhân thận mất chức năng là đau âm ỉ vùng thắt lưng. Cơn đau quặn thận có thể xảy ra nếu thận còn một ít chức năng lọc. Đau nhiều hơn vùng thắt lưng khi viêm thận bể thận cấp, thận ứ mủ.
Các triệu chứng cơ năng khác có thể bao gồm rối loạn tiểu tiện, tiểu mủ, tiểu máu. Khám thực thể có thể thấy thận lớn, thậm chí thận lớn gồ lên vùng thắt lưng có thể thấy được bằng mắt hay rung thận đau khi thận bị viêm. Ngoài ra có thể khám phát hiện các biến chứng khác của thận mất chức năng như nhiễm khuẩn tiết niệu tái đi tái lại, sốt, tăng huyết áp hay đau dai dẳng [13]. Tuy vậy các triệu chứng này không đặc hiệu vì chúng có thể xuất hiện trên một thận bệnh lý có chức năng hoàn toàn bình thường.
Do đó, các triệu chứng lâm sàng chỉ giúp người thầy thuốc phát hiện 3 bệnh lý tại thận để kịp thời thăm dò chức năng thận và đưa ra xử trí phù hợp giúp bảo tồn chức năng thận. Chẩn đoán gợi ý thận mất chức năng bằng xét nghiệm hình ảnh và tìm nguyên nhân gây bệnh Những thận ứ nước lớn nhu mỏng trên siêu âm hay hình ảnh bóng thận lớn trên X quang bụng không chuẩn bị gợi ý đến một thận giảm hay mất chức năng. Chụp CLVT giúp tính được thể tích nhu mô thận từng bên chính là thể tích thận chức năng, từ đó tính được tỷ lệ phần trăm chức năng thận từng bên tương ứng [106, 150]. Như vậy, trên hình ảnh chụp CLVT, độ mỏng nhu mô thận càng mỏng thì thể tích nhu mô của thận đó càng giảm dẫn đến tỷ lệ phần trăm chức năng thận càng giảm [106, 150].
Chẩn đoán xác định thận giảm, mất chức năng Mặc dù cắt lớp vi tính có thể ước tính được mức lọc cầu thận từng bên nhưng phụ thuộc vào chất lượng của máy chụp cắt lớp vi tính cũng như phần mềm xử lý hình ảnh có bản quyền. Việc xác định một thận mất chức năng hoàn toàn dựa vào cắt lớp vi tính ít chính xác vì tương tự như phim niệu đồ tĩnh mạch, thuốc cản quang có thể xuất hiện trong hệ thống bài xuất vào thì muộn. Hiện nay xạ hình thận bằng đồng vị phóng xạ là phương pháp chính xác nhất giúp chẩn đoán thận mất chức năng một bên, giúp người thầy thuốc đưa ra phương án điều trị phù hợp là giải phóng tắt nghẽn hay cắt thận. CÁC PHƯƠNG PHÁP CẮT THẬN MẤT CHỨC NĂNG Phẫu thuật mở cắt bỏ thận được Simon thực hiện đầu tiên vào năm 1862.
Mãi đến năm 1990, Clayman và cộng sự mới thực hiện thành công trường hợp cắt thận bằng phẫu thuật nội soi đầu tiên. Là một phương pháp phẫu thuật ít xâm lấn, với việc giảm được kích thước vết mổ, phẫu thuật nội soi đã mang lại kết quả chu phẫu tốt hơn mổ mở như mất máu ít hơn, thời gian phục hồi nhanh hơn, ít tai biến biến chứng, bệnh nhân giảm đau sau phẫu thuật và thời gian nằm viện ngắn hơn [124]. PTNSMC là phương pháp ít xâm lấn hơn PTNS tiêu chuẩn. Qua một lỗ duy nhất trên thành bụng, các dụng cụ và ống kính nội soi được đưa vào cơ thể để thực hiện phẫu thuật và sau mổ tận dụng lỗ duy nhất này để lấy bệnh phẩm ra ngoài giúp bệnh nhân thỏa mãn được niềm đam mê thẩm mỹ, giảm đau, thời gian nằm viện ngắn [101, 124].
Việc giảm từ 3-4 trô-ca trong PTNS tiêu chuẩn xuống còn 1 vết rạch da nhỏ trong PTNSMC đã giảm thiểu các biến chứng gây ra bởi các lỗ 4 trô-ca (chấn thương cơ - thần kinh thành bụng, chấn thương tạng và ruột, thoát vị trô-ca, nhiễm trùng trô-ca). Chấn thương thành bụng do trô-ca được giảm thiểu sẽ tạo điều kiện giúp BN có hậu phẫu ít đau hơn, nhanh phục hồi sau mổ nên thời gian nằm viện ngắn hơn. Ngoài ra giảm được số lượng trô-ca sẽ giúp cải thiện về thẩm mỹ cho BN [21, 27, 124]. Hội tiết niệu thận học châu Âu cũng đã có hướng dẫn điều trị các bệnh lý tiết niệu bằng PTNS và lợi ích về thẩm mỹ của PTNSMC cũng được khuyến cáo sử dụng với mức độ chứng cứ cao nhất [101].
Các tiến bộ của phẫu thuật nội soi chưa dừng lại ở đó, ngày nay, với sự phát triển vượt bật của khoa học, nhiều cải tiến của dụng cụ uốn cong, công nghệ rô-bốt giúp các bác sĩ thực hiện cắt thận bằng phẫu thuật nội soi qua lỗ tự nhiên mà không còn để lại sẹo [65]. CÁCH CẢI TIẾN KỸ THUẬT KHI SỬ DỤNG BỘ DỤNG CỤ THẲNG CỦA PTNS TIÊU CHUẨN VÀO PTNSMC Khắc phục va chạm giữa các trô-ca với nhau và giữa các tay nắm dụng cụ với nhau: Vị trí của các trô-ca trong PTNS tiêu chuẩn cung cấp tam giác phẫu thuật thuận lợi và tam giác này đa phần bị mất khi sử dụng dụng cụ PTNS tiêu chuẩn ứng dụng vào PTNSMC. Nguyên nhân do các dụng cụ và ống kính nội soi ổ bụng được đặt xuyên qua một vết rạch da nên các dụng cụ gần như song song và nằm vị trí tương đối sát nhau. Chính vì vậy nhược điểm là tầm nhìn hạn chế do trục của ống kính nội soi ổ bụng không linh hoạt và bị che khuất một phần bởi dụng cụ.
Do các dụng cụ sát nhau nên sự va chạm của dụng cụ xảy ra cả bên trong cũng như bên ngoài [124]. Phía bên ngoài phẫu trường xảy ra sự va chạm của các đầu trô- ca với nhau và nếu các đầu trô-ca càng lớn thì sự va chạm càng nhiều. Khắc phục va chạm này bằng cách sử dụng các trô-ca đầu nhỏ và điều chỉnh độ nông sâu của các trô-ca để chúng nằm ở các độ cao khác nhau [162]. Ngoài ra các tay nắm dụng cụ cũng va chạm với nhau và va chạm với ống kính nội soi cũng làm cho quá trình phẫu thuật khó khăn hơn.
Nguyên nhân là do các tay nắm này nằm sát nhau ở cùng độ cao và có thể khắc phục bằng cách dùng các dụng cụ dài ngắn khác nhau. Mục đích để các tay nắm chuyển động trên các độ cao khác biệt và tránh xung đột với nhau. Một ống kính nội soi cực dài hoặc cực ngắn với thiết kế nguồn sáng thẳng hàng cũng là giải pháp để khắc phục va chạm giữa ống kính nội soi với dụng cụ nội soi [45]. Phía bên trong ổ bụng cũng xảy ra sự va chạm của các đầu dụng cụ do mất nguyên tắc tam giác đặc biệt là lúc đưa dụng cụ từ 5 ngoài vào.
Tuy vậy dụng cụ PTNS tiêu chuẩn là sẵn có, có thể ứng dụng trong PTNSMC mà không tốn chi phí lớn cũng như không cần thời gian huấn luyện làm quen dụng cụ sau khi khắc phục một số nhược điểm trên [45, 124]. Phục hồi nguyên tắc tam giác và tạo độ căng trong lúc phẫu tích: Một trong các yếu tố quan trọng khi phẫu tích chính là lực kéo phản lực với tạng đích cần bóc tách, lực kéo căng rất cần thiết và thuận lợi cho việc bộc lộ các lớp mô quanh cơ quan đích. Sử dụng các dụng cụ nội soi một cổng uốn cong hay khớp nối chuyên dụng thì việc tạo nên lực căng trở nên thuận lợi và dễ dàng hơn [45]. Tuy vậy, khi ứng dụng các dụng cụ thẳng của PTNS tiêu chuẩn để thực hiện PTNSMC, thì các dụng cụ này sẽ có hướng song song với nhau và nằm sát nhau.
Do đó nếu không có phương pháp khắc phục thì không thể tạo nên lực căng [123, 124]. Khi chưa thực hiện bắt chéo dụng cụ, hai tay phẫu thuật viên nắm hai dụng cụ, một dụng cụ tạo sức căng ở tay trái và một dụng cụ cắt đốt mô trên tay phải. Lúc này hai dụng cụ song song và sát nhau nên biên độ của dụng cụ sang hai bên rất hẹp và tất nhiên sẽ không tạo nên lực căng. Việc thực hiện bắt chéo dụng cụ để tạo được lực căng lên cơ quan đích giúp dễ dàng phẫu tích các lớp giải phẫu.
Kỹ thuật bắt chéo dụng cụ sẽ làm biên độ dụng cụ sang hai bên rộng hơn, lúc này tay trái làm căng mô cơ quan ở phía bên phải trong lúc tay phải sẽ tiến hành cắt đốt và phẫu tích mô cơ quan phía bên trái [123]. Điều chỉnh ống kính nội soi và phẫu tích chính xác mục tiêu: Dù đã thực hiện bắt chéo để phục hồi nguyên tắc tam giác và tạo lực căng nhưng dụng cụ phẫu tích vẫn va chạm với ống kính nội soi đặc biệt khi phẫu thuật viên muốn thay đổi góc phẫu tích hoặc tăng lực căng lên mô cơ quan để phẫu tích chính xác mục tiêu. Sự va chạm này càng rõ rệt khi sử dụng ống kính nội soi có dây nguồn sáng vuông góc [45]. Lúc này người cầm ống kính nội soi phải điều chỉnh liên tục trục ống kính cũng như phối hợp xoay góc nhìn 30º của ống kính nội soi liên tục để tìm được vị trí tối ưu nhất.
Tuy vậy, ngay cả khi ống kính nội soi đã ở vị trí và góc nhìn tối ưu nhất vẫn xảy va chạm với dụng cụ phẫu tích, “thả lỏng” ống kính nội soi tự do theo biên độ của dụng cụ sẽ giúp dụng cụ phẫu tích hoàn thành được bước cắt đốt mô. Như vậy việc điều chỉnh liên tục ống kính của người phụ theo thao tác của PTV rất cần thiết để hoàn thành PTNSMC bằng dụng cụ thẳng tiêu chuẩn, do đó sự phối hợp đồng bộ của kíp PTV là rất quan trọng [107, 153]. 6 Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 2.
Tiêu chuẩn chọn bệnh - Thận bệnh lý mất chức năng hoàn toàn. - Hoặc thận bệnh lý giảm chức năng nghiêm trọng có MLCT < 10ml/p (Theo Hemal và cs năm 2010) [69] hoặc tỷ lệ chức năng thận từng phần < 10% (Theo Naghiyev và cộng sự 2017 [110]) trên BN có chức năng thận đối diện còn bù trừ tốt (>60 ml/p). - Có biến chứng như đau không đáp ứng với thuốc điều trị, nhiễm khuẩn tiết niệu, tăng huyết áp. - 16 tuổi trở lên không phân biệt nam nữ - Chỉ số ASA ≤ 3 - Không có chống chỉ định của phẫu thuật nội soi sau phúc mạc - Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu 2.
Tiêu chuẩn loại trừ - Bệnh nhân có kết quả giải phẫu bệnh là ung thư - Nhiễm khuẩn tiết niệu chưa được điều trị - Viêm thận bể thận cấp có hoặc không có nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn.