Luận án tiến sĩ: Đặc điểm tổn thương giải phẫu và kết quả điều trị gãy đầu trên xương cánh tay bằng nẹp khóa tại Học viện Quân y

Dưới đây là meta tags cho bài viết "Điều trị gãy đầu trên xương cánh tay bằng nẹp khóa - Nghiên cứu năm 2021": { "ai_description": "Tìm hiểu phương pháp

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2021

188
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về gãy đầu trên xương cánh tay và nẹp khóa

Gãy đầu trên xương cánh tay là loại chấn thương phổ biến trong ngoại khoa chấn thương chỉnh hình. Tổn thương này chiếm tỷ lệ đáng kể trong các trường hợp gãy xương chi trên. Giải phẫu vùng đầu trên xương cánh tay phức tạp. Vùng này bao gồm chỏm xương, cổ phẫu thuật, đại nhánh và tiểu nhánh. Khớp vai có biên độ vận động lớn nhất cơ thể. Điều này tạo điều kiện cho hoạt động sinh hoạt hàng ngày. Tuy nhiên cũng khiến khớp vai dễ bị tổn thương. Nẹp khóa là phương pháp kết xương hiện đại. Phương pháp này được áp dụng rộng rãi trong hai thập kỷ gần đây. Nghiên cứu của Nguyễn Đức Vương tại Học viện Quân y năm 2021 đã đánh giá đặc điểm tổn thương giải phẫu. Đồng thời nghiên cứu kết quả điều trị gãy đầu trên xương cánh tay bằng nẹp khóa. Nghiên cứu tiến cứu trên 101 bệnh nhân. Thời gian thu thập từ tháng 4/2013 đến tháng 7/2020. Kết quả cho thấy nẹp khóa có hiệu quả điều trị cao. Tỷ lệ liền xương tốt. Biến chứng thấp. Phục hồi chức năng đạt kết quả khả quan.

1.1. Đặc điểm giải phẫu vùng đầu trên xương cánh tay

Vùng đầu trên xương cánh tay có cấu trúc giải phẫu phức tạp. Chỏm xương cánh tay tiếp khớp với ổ chảo xương vai. Cổ phẫu thuật là vị trí thường xảy ra gãy. Đại nhánh và tiểu nhánh là các điểm bám cơ quan trọng. Vùng này có nhiều mạch máu nuôi dưỡng. Đám rối thần kinh cánh tay chạy qua gần vùng vai. Biên độ vận động khớp vai rất lớn. Khớp có thể thực hiện nhiều hướng di động. Cấu trúc giải phẫu phức tạp ảnh hưởng đến quá trình gãy và chữa lành. Hiểu rõ giải phẫu giúp phẫu thuật viên lập kế hoạch chính xác. Điều này giảm thiểu biến chứng trong phẫu thuật.

1.2. Phân loại gãy đầu trên xương cánh tay theo Neer

Phân loại Neer là hệ thống phân loại được sử dụng phổ biến nhất. Hệ thống này dựa trên số phần gãy và mức độ di lệch. Nhóm I gồm gãy không di lệch hoặc di lệch ít hơn 1cm. Nhóm II là gãy hai phần có di lệch. Nhóm III là gãy ba phần. Nhóm IV là gãy bốn phần. Nhóm V là gãy trật khớp kèm gãy. Nhóm VI là gãy đặc biệt hiếm gặp. Mức độ di lệch được xác định bởi góc gãy và khoảng cách giữa các mảnh. Phân loại Neer giúp đánh giá mức độ tổn thương. Đồng thời hỗ trợ chỉ định điều trị phù hợp cho từng trường hợp.

II. Đặc điểm tổn thương giải phẫu trong gãy đầu trên xương cánh tay

Tổn thương giải phẫu gãy đầu trên xương cánh tay rất đa dạng. Các vị trí gãy bao gồm chỏm xương, cổ phẫu thuật, đại nhánh và tiểu nhánh. Mức độ di lệch khác nhau tùy theo cơ chế chấn thương. Gãy có thể kèm theo lún xương chỏm. Nhiều trường hợp có di lệch gập góc. Góc mở vào trong hoặc ra ngoài cũng thường gặp. Di lệch trước hoặc sau cũng được ghi nhận. Chụp X-quang là phương pháp chẩn đoán cơ bản. Tuy nhiên phim X-quang có nhiều hạn chế. Nhiều trường hợp khó đánh giá đầy đủ hình thái đường gãy. Số mảnh gãy và mức độ di lệch khó xác định chính xác. Có thể bỏ sót tổn thương. Chụp cắt lớp vi tính với dựng hình 3D cho kết quả ưu việt hơn. Kỹ thuật này đánh giá chi tiết đường gãy, vị trí gãy, số mảnh gãy. Tình trạng lún xương cũng được phát hiện rõ ràng. Nghiên cứu cho thấy CLVT giúp lập kế hoạch phẫu thuật chính xác hơn.

2.1. Vai trò của chụp cắt lớp vi tính dựng hình 3D

Chụp cắt lớp vi tính với lát cắt mỏng từ 3mm trở xuống được sử dụng rộng rãi. Kỹ thuật này đánh giá chính xác tổn thương khớp vai. CLVT dựng hình 3D cần máy xoắn ốc đa lớp cắt. Hình ảnh 3D giúp nhìn thấy rõ hình thái đường gãy. Số mảnh gãy được đếm chính xác. Mức độ di lệch từng phần được đo lường cụ thể. Tình trạng lún xương chỏm được phát hiện sớm. So với X-quang, CLVT ưu việt hơn nhiều. Nhiều tác giả khuyến cáo chụp CLVT thường quy cho gãy đầu trên xương cánh tay. Tuy nhiên một số cơ sở chưa thực hiện do giá thành hoặc thói quen lâm sàng.

2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tổn thương

Mức độ tổn thương phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Cơ chế chấn thương là yếu tố quan trọng. Chấn thương trực tiếp gây gãy tại chỗ. Chấn thương gián tiếp tạo lực xoắn hoặc lực uốn. Lực tác động lớn gây tổn thương nặng hơn. Tuổi tác ảnh hưởng đến chất lượng xương. Người cao tuổi có xương loãng dễ gãy phức tạp. Bệnh lý nền như loãng xương làm tăng mức độ tổn thương. Vị trí gãy cũng quyết định mức độ di lệch. Gãy cổ phẫu thuật thường di lệch nhiều hơn. Gãy kèm trật khớp là tổn thương nặng. Phát hiện sớm và đánh giá đầy đủ giúp điều trị hiệu quả.

III. Phương pháp phẫu thuật kết xương gãy đầu trên xương cánh tay bằng nẹp khóa

Phẫu thuật kết xương bằng nẹp khóa là phương pháp điều trị hiệu quả. Phương pháp này áp dụng cho gãy di lệch nặng. Chỉ định bao gồm gãy nhóm III, IV, V theo phân loại Neer. Di lệch gập góc trên 45 độ cần phẫu thuật. Di lệch các mảnh gãy trên 1cm cũng là chỉ định. Nẹp khóa có đặc điểm cơ học vượt trội. Đầu vít khóa cố định vững chắc vào nẹp. Không cần ép nẹp sát bề mặt xương. Đặc điểm sinh học bảo tồn mạch máu nuôi xương. Không bóc tách rộng phần mềm quanh xương. Thời gian phẫu thuật trung bình hợp lý. Mất máu ít. Bệnh nhân được tập phục hồi chức năng sớm sau phẫu thuật. Phục hồi chức năng là yếu tố then chốt. Bài tập được tiến hành theo từng giai đoạn. Từ vận động thụ động đến chủ động. Kết quả liền xương đạt tỷ lệ cao. Biến chứng thấp hơn so với phương pháp truyền thống.

3.1. Đặc điểm cơ học và sinh học của nẹp khóa

Nẹp khóa có nguyên lý hoạt động khác nẹp thường. Đầu vít được khóa cố định vào lỗ nẹp. Tạo thành hệ thống góc ổn định. Nẹp không cần ép sát bề mặt xương. Điều này bảo tồn màng xương và mạch máu nuôi. Đặc điểm sinh học rất quan trọng. Không bóc tách rộng giúp liền xương nhanh hơn. Giảm nguy cơ hoại tử vô mạch chỏm. Nẹp khóa chịu lực tốt hơn trong xương loãng. Ổn định cơ học cao ngay cả khi xương chất lượng kém. Bệnh nhân có thể vận động sớm hơn. Nguy hiểm gãy vít và mất vững thấp hơn.

3.2. Quy trình phẫu thuật và phục hồi chức năng

Phẫu thuật được thực hiện dưới gây mê. Đường mổ trước vai theo deltopectoral. Tiếp cận đầu trên xương cánh tay. Sắp xếp lại các mảnh gãy về vị trí giải phẫu. Cố định tạm thời bằng Kirschner. Đặt nẹp khóa vào vị trí phù hợp. Bắt vít cố định từng mảnh gãy. Kiểm tra vững chắc bằng X-quang tại bàn mổ. Đóng vết mổ theo tầng. Sau phẫu thuật bệnh nhân tập vận động sớm. Giai đoạn đầu tập vận động thụ động. Sau đó chuyển sang vận động chủ động có hỗ trợ. Cuối cùng tập vận động chủ động hoàn toàn. Thời gian hồi phục trung bình từ 3 đến 6 tháng.

IV. Kết quả điều trị và ứng dụng lâm sàng của nẹp khóa

Nghiên cứu trên 101 bệnh nhân cho kết quả khả quan. Tỷ lệ liền xương đạt cao sau phẫu thuật. Thời gian liền xương trung bình từ 8 đến 12 tuần. Chức năng vai phục hồi tốt theo thang điểm Constant-Murley. Đau giảm rõ rệt sau điều trị. Biên độ vận động vai được cải thiện đáng kể. Biến chứng sau phẫu thuật thấp. Tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ rất ít. Nguy hiểm hoại tử vô mạch chỏm thấp. Không ghi nhận trường hợp mất vững nẹp. Một số biến chứng nhẹ được ghi nhận. Đau vai do phần mềm chiếm tỷ lệ nhỏ. Cứng vai do không tập phục hồi đầy đủ. Nghiên cứu khẳng định nẹp khóa là phương pháp tối ưu. Áp dụng được cho nhiều loại gãy phức tạp. Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng điều trị. Ứng dụng rộng rãi trong thực hành lâm sàng tại các bệnh viện.

4.1. Đánh giá kết quả liền xương và chức năng vai

Kết quả liền xương được đánh giá bằng X-quang và lâm sàng. X-quang cho thấy hình ảnh xương đặc tại đường gãy. Lâm sàng không còn đau tại vị trí gãy. Không di động bất thường. Chức năng vai được đánh giá bằng thang Constant-Murley. Thang điểm bao gồm đau, sinh hoạt hàng ngày, tầm vận động, lực cơ. Kết quả phân loại thành xuất sắc, tốt, trung bình, kém. Phần lớn bệnh nhân đạt kết quả tốt và xuất sắc. Vận động vai được cải thiện theo thời gian. Sau 6 tháng hầu hết bệnh nhân trở lại sinh hoạt bình thường.

4.2. Ứng dụng và hướng phát triển trong tương lai

Nẹp khóa đã được ứng dụng rộng rãi tại Việt Nam. Phương pháp này áp dụng tại nhiều bệnh viện tuyến tỉnh và trung ương. Đào tạo phẫu thuật viên cần được chú trọng. Kỹ thuật mổ cần thuần thục để đạt kết quả tốt nhất. Trong tương lai có thể kết hợp với công nghệ in 3D. Mô hình in 3D giúp lập kế hoạch phẫu thuật chính xác hơn. Nghiên cứu tiếp tục đánh giá dài hạn trên số mẫu lớn hơn. So sánh hiệu quả với các phương pháp khác như thay khớp vai. Nâng cao chất lượng điều trị cho người bệnh gãy đầu trên xương cánh tay.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ 2021 nghiên cứu đặc điểm tổn thương giải phẫu và kết quả điều trị gãy đầu trên xương cánh tay bằng nẹp khóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Đặc điểm giải phẫu vùng đầu trên xương cánh tay và vùng vai 1. Đặc điểm giải phẫu khớp vai 1. Diện khớp Khớp vai hay còn gọi là khớp ổ chảo - cánh tay là một khớp hoạt dịch có biên độ vận động linh hoạt và rộng rãi nhất so với các khớp khác trên cơ thể.

Khớp vai được cấu tạo bởi đầu trên xương cánh tay (ĐTXCT), ổ chảo xương bả vai và đầu ngoài xương đòn. ĐTXCT gồm có chỏm xương, cổ giải phẫu, mấu động lớn (MĐL), mấu động bé (MĐB) và cổ phẫu thuật [11], [12]. - Chỏm xương cánh tay có hình dạng như 1/3 khối cầu ngửa lên trên, hướng vào trong và ngả ra sau khoảng 30°. Cấu tạo của chỏm xương cánh tay là xương xốp, mặt khớp được bọc bằng một lớp sụn đến tận cổ giải phẫu.

- Cổ giải phẫu (Anatomical neck) là phần tiếp giáp giữa chỏm xương với vùng liên mấu động và thân xương. Chỏm và thân xương tạo với nhau một góc khoảng 130°. - Mấu động lớn (MĐL) là nơi bám tận của các cơ trên gai, cơ dưới gai và cơ tròn bé. MĐB có thể gãy dưới tác động của lực chấn thương trực tiếp, hoặc do sự co rút đột ngột của các cơ.

- Mấu động bé (MĐB) nằm phía trong mấu động lớn, là nơi bám tận của cơ dưới vai. - Cổ phẫu thuật (surgical neck) tiếp nối giữa chỏm xương, các mấu động và thân xương cánh tay. Cổ phẫu thuật là điểm uốn giữa thân xương cánh tay và chỏm nên là điểm yếu dễ gãy. Ở những người cao tuổi đây là vị trí xuất hiện thưa loãng xương sớm.

Cũng vì thế mà tỷ lệ gãy cổ phẫu thuật ở người cao tuổi khá cao. 4 Ổ chảo xương bả vai có hình bầu dục, hơi lõm lòng chảo, cao khoảng 35mm, rộng khoảng 25mm, chỉ bằng 1/4 - 1/3 diện tích của chỏm xương cánh tay. Giải phẫu xương vùng khớp vai * Nguồn: Theo Netter F. (2007) [13] Giải phẫu đầu trên xương cánh tay nhìn phía trước: 1: Chỏm xương cánh tay 2: Cổ giải phẫu 3: Mấu động bé 4: Rãnh gian mấu 5: Mấu động lớn 6: Cổ phẫu thuật Hình 1.

Đầu trên xương cánh tay nhìn từ phía trước * Nguồn: Theo Ragavanandam R. (2016) [14] 5 Giải phẫu đầu trên xương cánh tay nhìn phía sau: 1: Chỏm xương cánh tay 2: Cổ giải phẫu 3: Mấu động lớn 4: Cổ phẫu thuật Hình 1. Đầu trên xương cánh tay nhìn từ phía sau * Nguồn: Theo Ragavanandam R. Các yếu tố giữ vững khớp vai Các yếu tố giữ vững khớp vai được chia thành hai nhóm là nhóm các yếu tố tĩnh và nhóm các yếu tố động.

- Các yếu tố tĩnh: Bao gồm sụn viền, bao khớp và các dây chằng. Sụn viền là một cấu trúc dạng sợi được dính với sụn khớp ổ chảo bằng vùng sụn sợi. Chức năng của sụn viền là cấu trúc mà các dây chằng bao khớp neo bám vào ổ chảo. Làm sâu thêm ổ chảo và tăng diện tích tiếp xúc giữa chỏm và ổ chảo.

Dây chằng ổ chảo - cánh tay là sự dày lên của bao khớp, có ba dây chằng ổ chảo - cánh tay [15]. Dây chằng trên bám vào vùng trước trên của ổ chảo và phần trên của MĐB. Dây chằng giữa bám vào vùng sát dưới chỗ bám của dây chằng trên và bám vào MĐB. Dây chằng dưới bám vào vùng sát dưới chỗ bám của dây chằng giữa (5 giờ -7 giờ) và bám vào cổ tiếp xương bả vai.

Dây chằng ổ chảo cánh tay có vai trò giữ vững phía trước khớp vai. Các bó của dây chằng này kết hợp với các yếu khác giúp giữ chỏm nằm trọng tâm ổ chảo. Điểm yếu của khớp vai phía trước chính là khe giữa bó giữa và bó dưới của dây chằng này. 6 - Dây chằng quạ cánh tay: Gồm hai bó bắt đầu từ mỏm quạ bám riêng rẽ vào MĐL và MĐB [15].

Giữa hai bó có đầu dài gân nhị đầu cánh tay đi qua. Chức năng là giữ cho chỏm xương cánh tay nằm đúng ở trọng tâm của ổ chảo xương bả vai. Ngoài ra, dây chằng này cùng với dây chằng ổ chảo - cánh tay trên giữ cho chỏm xương cánh tay không bị trật xuống dưới khi khép vai và trật ra sau trong các động tác gấp ra trước, khép và xoay ngoài khớp vai. Dây chằng khớp vai * Nguồn: Mitchell A.

Gân cơ chóp xoay từ trước ra sau bao gồm gân cơ dưới vai, gân cơ trên gai, gân cơ dưới gai và gân cơ tròn bé (hình 1. Gân cơ chóp xoay tham gia các hoạt động co cơ, làm chắc thêm cho các cấu trúc dây chằng. Yếu tố này phối hợp làm tăng cơ chế ép chỏm xương cánh tay vào ổ chảo. Đầu dài gân nhị đầu bám vào đỉnh sụn viền trên ổ chảo có chức năng là giữ ép chỏm xương cánh tay vào ổ chảo khi gấp khuỷu và ngửa cẳng tay và chống lại sự trật của chỏm xương cánh tay ra trước và lên trên.

Đầu dài gân nhị đầu cánh tay * Nguồn: Mitchell A. (2014) [16] Ngoài ra, khớp vai còn được giữ vững nhờ các cơ bao quanh khớp vai như cơ Delta, cơ ngực lớn, cơ tam đầu, cơ lưng to. Hai yếu tố này phối hợp với nhau chặt chẽ trong việc giữ vững khớp ổ chảo - cánh tay. Hệ thống mạch máu nuôi dưỡng đầu trên xương cánh tay Đầu trên xương cánh tay (ĐTXCT) được cấp máu từ một nguồn mạch máu phong phú.

Động mạch cấp máu cho ĐTXCT bắt nguồn từ động mạch nách. Động mạch nuôi vùng vai * Nguồn: Twiss T. (2015) [18] 8 * Động mạch cùng vai ngực Động mạch cùng vai ngực là một nhánh của động mạch nách, gồm các nhánh nhỏ là nhánh đòn cấp máu cho cơ dưới đòn và xương đòn, các nhánh ngực cấp máu cơ ngực lớn, cơ ngực bé; nhánh Delta cấp máu cho cơ ngực lớn và cơ Delta, nhánh cùng vai ra sau chi phối cơ lưng to, cơ răng to, cơ gian sườn. * Động mạch mũ cánh tay trước Động mạch mũ cánh tay trước là một nhánh nhỏ, xuất phát ở phía bên ngoài của động mạch nách hoặc có thể chung thân với động mạch mũ cánh tay sau.

Động mạch này cho hai nhánh nhỏ là nhánh nhị đầu và nhánh ngực. Các nhánh bên của động mạch mũ cánh tay trước là các nhánh khớp thâm nhập vào phần dưới bao khớp ổ chảo cánh tay, các nhánh cơ cho cơ dưới vai và các nhánh gân, nhánh cho MĐB và một nhánh đi lên bên trong nhỏ tiếp cận mép trong rãnh nhị đầu xương cánh tay, thâm nhập vào xương ở giữa của rãnh [19]. Các nhánh tận cùng của động mạch mũ cánh tay trước là một nhánh đi lên bên ngoài dọc theo mép ngoài của rãnh nhị đầu xương cánh tay và một nhánh thông chạy quanh cổ phẫu thuật, tiếp cận với nhánh tương ứng từ động mạch mũ cánh tay sau [19]. * Động mạch mũ cánh tay sau Động mạch mũ cánh tay sau xuất phát ở mặt sau đoạn thứ ba của động mạch nách ngay phía dưới cơ dưới vai [20].

Hầu hết các nhánh của động mạch này cung cấp máu cho cơ Delta và có các nhánh cơ chạy ra ngoài để cung cấp cho các cơ ở lân cận. Ngoài ra còn có các nhánh dinh dưỡng đến MĐL của xương cánh tay, các nhánh khớp vào phía sau của khớp vai, các nhánh cùng vai nối với mạng lưới động mạch mỏm cùng vai và nhánh vào cấp máu cho cơ tam đầu [19]. Động mạch mũ cánh tay sau cung cấp 64% lượng máu tới chỏm xương cánh tay [21]. 9 * Mạch máu nuôi đầu trên xương cánh tay Động mạch nuôi ĐTXCT bắt nguồn từ nhánh nuôi xương (từ động mạch cánh tay sâu) và nhánh trước bên của động mạch mũ trước và động mạch mũ sau.

Động mạch mũ cấp máu cho một phần nhỏ phía sau của ĐTXCT và phần nửa sau của MĐL. Vùng cổ giải phẫu và chỏm xương cánh tay ít mạch máu nuôi dưỡng, vì vậy khi gãy xương vùng này khó liền xương và có thể bị hoại tử chỏm xương cánh tay. Có sự nối thông phong phú của mạng mạch ĐTXCT nhưng đều thông qua nhánh trước bên của động mạch mũ trước. * Các tĩnh mạch đầu trên xương cánh tay Các động mạch nuôi xương cánh tay đều có các tĩnh mạch cùng tên đi cùng.

Có một tĩnh mạch nách đi cùng động mạch nách. Tĩnh mạch nách do hai tĩnh mạch cánh tay tạo nên. Một số trường hợp, lại có một tĩnh mạch nữa từ dưới cánh tay đi lên, chạy ngoài động mạch rồi bắt chéo động mạch để đổ vào tĩnh mạch nách. Tĩnh mạch nền trong nhiều trường hợp rất to như là một mạch nối tiếp của tĩnh mạch nách.

Tĩnh mạch đầu chạy vào tĩnh mạch nách gần xương đòn trong rãnh Delta ngực. Trong phẫu thuật kết hợp xương vùng ĐTXCT sử dụng đường mổ qua rãnh Delta ngực dễ làm tổn thương tĩnh mạch này. Biên độ vận động khớp vai Khớp vai là khớp có biên độ vận động rộng nhất [22]. Khi cố định xương bả thì khớp vai có biên độ vận động là: + Dạng: 0 độ đến 90 độ.

+ Đưa ra trước: 0 độ đến 90 độ. + Đưa ra sau: 0 độ đến 40 độ. + Xoay trong: 0 độ đến 90 độ. 10 + Xoay ngoài: 0 độ đến 60 độ.

- Khi không cố định xương bả vai thì khớp vai có biên độ vận động rộng hơn [22]. + Đưa ra sau: 0 độ đến 40 độ. + Xoay trong: 0 độ đến 90 độ. + Đưa ra trước: 0 độ đến 180 độ.

+ Xoay ngoài: 0 độ đến 60 độ. + Quay cánh tay: 0 độ đến 360 độ. Phân loại gãy đầu trên xương cánh tay Có nhiều cách phân loại gãy ĐTXCT như cách phân loại theo Kocher, Bohler, Codman, phân loại theo Neer, phân loại theo AO, phân loại theo Duparc và Huten [23]. Phân loại theo Kocher T.

là tác giả đưa ra cách phân loại này. Đây là cách phân loại theo vị trí của đường gãy. Gãy từng phần mấu động, gãy ngang mấu động (CD). Gãy cổ phẫu thuật (EF).

Gãy cổ giải phẫu (AB). Phân loại theo Kocher T. Phân loại theo Bohler J. Cách phân loại của Bohler J.

dựa vào góc của đầu trung tâm và ngoại vi. + Gãy thể khép: góc Bohler mở vào trong (hình A) + Gãy thể dạng: góc Bohler mở ra ngoài (hình B) 11 A. Gãy thể dạng Hình 1. Phân loại theo Bohler J.

Phân loại theo AO Các tác giả của AO đưa ra hệ thống phân loại dựa trên phân bố mạch máu nuôi dưỡng phần chỏm của ĐTXCT. Qua đó nhấn mạnh vai trò cấp máu nuôi các mảnh xương có mặt khớp, nhằm đưa ra tiên lượng và dự đoán nguy cơ hoại tử chỏm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ