Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI MUA DÂM NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI 1. Các khái niệm chung 1. Khái niệm mua dâm Theo Từ điển bách khoa toàn thư Wikipedia: “Mua (mua bán) là: “hành vi trao đổi giữa hai bên, trong đó người mua hàng hay dịch vụ nhận được quyền sở hữu hàng hoá (hay dịch vụ) từ người bán hay người làm dịch vụ bằng cách trả một số tiền theo giá cả hai bên thoả thuận, hoặc giá cả hợp pháp do nhà nước định chính thức. Mua bán là sự thoả thuận của bên mua và bên bán, theo đó bên bán có nghĩa vụ chuyển giao đối tượng mua bán cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có quyền nhận đối tượng mua bán và có nghĩa vụ trả tiền cho bên bán.
Đối tượng của mua bán có thể là vật, quyền tài sản hoặc nhu cầu, lợi ích, dịch vụ mà các bên tham gia nhằm đạt được.” [61] Theo Công ước về loại trừ các hình thức bóc lột tình dục (Bankok – Thái Lan năm 1992): “Mãi dâm là việc coi thân thể người khác như một món đồ vật có thể mua bán, đổi chác với mục đích không phải luôn luôn là vì tiền”. Theo Từ điển pháp luật hình sự, mua dâm là hành vi “dùng tiền hoặc lợi ích vật chất trả tiền cho người khác để thực hiện hành vi giao cấu với họ”, mua dâm là hành vi không tách rời tệ nạn mại dâm. Theo Điều 3 Pháp lệnh phòng, chống mại dâm ngày 14/03/2003, “Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu” Như vậy, bản chất của hành vi “mua dâm” là sự thỏa thuận giữa bên mua – người mua dâm và bên bán – người bán dâm như trong các hoạt động mua bán thông thường. Tuy nhiên, đối tượng để mua ở đây không phải là hàng hóa, dịch vụ thông thường mà là hoạt động tình dục.
Người mua dâm sẽ trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác cho người bán dâm để được giao cấu. Hiện nay, hành vi mua dâm được thực hiện bằng rất nhiều hình thức thanh toán 9 khác nhau chứ không chỉ tồn tại dưới các hình thức thanh toán bằng tiền và các giá trị vật chất như trước. Xét theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, hình thức thanh toán cho hành vi bán dâm là tài sản. Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”. Từ các khái niệm, phân tích trên, theo quan điểm người viết, có thể hiểu: “Mua dâm là hành vi của người dùng tài sản thỏa thuận trả trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua trung gian, kẻ môi giới để được giao cấu với người bán dâm” 1. Khái niệm tội mua dâm người dưới 18 tuổi Điều 8 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đã đưa ra khái niệm chung về tội phạm làm cơ sở khoa học cho việc xác định các tội phạm cụ thể trong BLHS.
Tội mua dâm người dưới 18 tuổi được quy định tại Điều 329 BLHS: 1. Người nào đủ 18 tuổi trở lên mua dâm người dưới 18 tuổi trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 142 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm: a) Mua dâm 02 lần trở lên; b) Mua dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; c) Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Phạm tội 02 lần trở lên đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi; b) Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
Người phạm tội còn bị phạt tiền từ 10. Về khái niệm tội mua dâm người dưới 18 tuổi (trước đây là tội mua dâm người chưa thành niên) có nhiều quan điểm của các tác giả như: Quan điểm 1: “Tội mua dâm người chưa thành niên là hành vi mua dâm dưới bất kỳ hình thức nào đối với người chưa thành niên”. [55, 72] Quan điểm 2: “Tội mua dâm người chưa thành niên là hành vi của người phạm tội dùng tiền hoặc vật chất mua chuộc người chưa thành niên để người chưa thành niên đồng ý cho giao cấu”. [3, 45] Quan điểm 3: “Tội mua dâm người chưa thành niên là hành vi thỏa thuận tiền hoặc lợi ích vật chất khác cho người chưa thành niên và thực hiện hành vi giao cấu với người chưa thành niên nhằm thỏa mãn dục vọng của mình”.
Quan điểm 5: “Tội mua dâm người chưa thành niên là hành vi dùng tài sản để người từ 13 đến dưới 18 tuổi cho giao cấu, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 18 tuổi trở lên cố ý thực hiện, xâm phạm trật tự công cộng” [12, 7] Quan điểm 6: “Tội mua dâm người dưới 18 tuổi là hành vi dùng tiền bạc hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người dưới 18 tuổi và thực hiện hành vi giao cấu với họ” [14, 27]. Quan điểm 7: “Mua dâm người chưa thành niên được hiểu là hành vi dùng tiền, của… để đổi lấy việc giao cấu với người bán dâm nhưng chưa đến tuổi thành niên” [64, 134]. Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tội mua dâm người chưa thành niên (nay là mua dâm người dưới 18 tuổi) nhưng có thể nhận thấy 11 giữa các quan điểm này vẫn có các điểm chung: thứ nhất đều là hành vi của người đủ 18 tuổi; thứ hai người thực hiện hành vi phạm tội đều dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác để người chưa thành niên từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi cho giao cấu. Quy định tại Điều 329 BLHS năm 2015 đã xác định rõ chủ thể, đối tượng tác động của tội phạm thay vì quy định chung chung như quy định tại Điều 256 BLHS năm 1999.
Cụ thể như sau: Bộ luật Hình sự 2015 đã xác định rõ chủ thể của tội mua dâm người dưới 18 tuổi là người tử đủ 18 tuổi trở lên (không phân biệt giới tính nam, nữ); đối tượng của tội phạm là người dưới 18 tuổi. Mặc dù đã có nhiều thay đổi, quy định cụ thể hơn, tuy nhiên BLHS năm 2015 vẫn chưa đưa ra khái niệm chính thức tội mua dâm người dưới 18 tuổi, đã xác định rõ về giới hạn tuổi trên của người bán dâm (dưới 18 tuổi) nhưng vẫn chưa xác định cụ thể giới hạn độ tuổi dưới, việc xác định giới hạn độ tuổi dưới (từ đủ 13 tuổi) vẫn phải dựa vào cấu thành tăng nặng của tội phạm và được xác định dựa vào quy định của nhóm tội xâm phạm tình dục tại chương XIV các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Để xác định chính sách hình sự và yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm này, việc tìm ra khái niệm tội mua dâm người dưới 18 tuổi là rất cần thiết. Quy định tại Điều 329 BLHS năm 2015 tuy chưa đưa ra khái niệm chính thức về tội mua dâm người dưới 18 tuổi tuy nhiên đã bổ sung thêm trường hợp loại trừ về tội phạm: “trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 142 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm” theo quy định này, đối với người giao cấu, thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi dù có thỏa thuận về việc mua – bán, việc trao – nhận tài sản giữa hai bên có diễn ra trên thực tế nhưng tội phạm được thực hiện ở đây là tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi.
Trên cơ sở quy định của BLHS về tội phạm (Điều 8), tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12), những trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự 12 (Chương IV), thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, miễn trách nhiệm hình sự (chương V), hình phạt (Chương VI), và các nội dung có liên quan với các phân tích ở mục 1.2 chương này, các quy định của BLDS và các quan điểm nêu ở trên, ta có thể hiểu: “Tội mua dâm người dưới 18 tuổi là hành vi của người từ đủ 18 tuổi trở lên thỏa thuận dùng tài sản trả trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua trung gian, kẻ môi giới để được giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người bán dâm từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi, xâm phạm đến trật tự công cộng”. Khái quát quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội mua dâm người dưới 18 tuổi 1. Giai đoạn trước khi được pháp điển hóa Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Nhà nước Việt Nam cộng hòa chính thức ra đời. Ngay sau những ngày đầu mới thành lập, Nhà nước ta vừa phải đối phó với nạn thù trong giặc ngoài, xây dựng lại nền kinh tế bị chiến tranh tàn phá, vừa phải từng bước tổ chức, củng cố, xây dựng chính quyền nhân dân.
Do mới được giải phóng khỏi ách xâm lược, vừa được thành lập, lại có xuất phát điểm từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, Nhà nước ta chưa thể xây dựng được một hệ thống pháp luật nói chung, và những quy định về Luật hình sự nói riêng một cách hoàn thiện. Ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 47- SL quy định tạm thời giữ các luật lệ cũ: “Cho đến khi ban hành những bộ pháp luật duy nhất cho toàn cõi nước Việt Nam, các luật lệ hiện hành ở Bắc, Trung và Nam bộ vẫn tạm thời giữ nguyên như cũ, nếu những luật lệ ấy không trái với những điều thay đổi ấn định trong sắc lệnh này” (Điều 1 Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945 của Chủ tịch chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hoà). Những luật lệ được nhắc tới trong Sắc lệnh 47/SL ở trên gồm: “Luật hình An Nam”, Bộ “Hoàng Việt hình luật”, Bộ “ Hình luật pháp 13 tu chính”, được ghi nhận tại Chương 4 Luật Hình từ Điều 8 đến Điều 10 Sắc lệnh số 47/SL ngày 10/10/1945: “ Điều 8.