Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm và cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam. Khái niệm trách nhiệm hình sự Thuật ngữ “trách nhiệm” đƣợc hiểu theo hai nghĩa đó là: Thứ nhất, trách nhiệm là nghĩa vụ, bổn phận của một ngƣời đó trƣớc ngƣời khác, trƣớc xã hội hoặc Nhà nƣớc. Ví dụ nhƣ trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái là phải có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dƣỡng, giáo dục con, trách nhiệm của con ngƣời đối với môi trƣờng là phải bảo vệ môi trƣờng đƣợc trong lành, hạn chế chất thải rác thải, giữ gìn vệ sinh chung…Trách nhiệm hiểu theo nghĩa thứ hai là hậu quả pháp lý bất lợi của một ngƣời phải gánh chịu trƣớc ngƣời khác, trƣớc nhà nƣớc và trƣớc xã hội do đã thực hiện hành vi vi phạm nghĩa vụ, bổn phận nào đó [53]. Lê Cảm định nghĩa: “TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một và nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Luật hình sự quy định”.
[50] Trách nhiệm pháp lý chỉ phát sinh (xuất hiện) khi có hành vi phạm tội. Do đó, trong số các trách nhiệm pháp lý thì trách nhiệm hình sự là trách nhiệm pháp lý có tính nghiêm khắc nhất so với bất kỳ trách nhiệm nào khác. Khi nói đến trách nhiệm hình sự, ta nói đến trách nhiệm giữa ngƣời phạm tội đối với nhà nƣớc hay nói cách khác trách nhiệm hình sự tồn tại trong mối quan hệ pháp luật hình sự. Nhà nƣớc (đại diện là cơ quan tố tụng) thực hiện quyền lực Nhà nƣớc, có quyền truy cứu trách nhiệm hình sự bất kỳ cá nhân nào khi ngƣời này đã thực hiện hành vi phạm tội đƣợc quy định trong bộ luật hình sự, ngƣợc lại ngƣời phạm tội phải chịu từ bỏ hoặc hạn chế tự do, quyền của mình.
Từ các khái niệm, phân tích nêu trên có thể rút ra các đặc điểm của trách nhiệm hình sự nhƣ sau: - TNHS là hậu quả pháp lý bất lợi của việc thực hiện phạm tội. 8 - TNHS luôn đƣợc thực hiện trong phạm vi của quan hệ pháp luật hình sự giữa Nhà nƣớc và ngƣời phạm tội. - TNHS phải đƣợc thông qua một trình tự tố tụng do cơ quan tố tụng thực hiện. - TNHS đƣợc phản ánh trong một bản án đã có hiệu lực pháp luật của tòa án.
Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội Ngƣời dƣới 18 tuổi là những ngƣời chƣa hoàn toàn phát triển đầy đủ về nhận thức, vẫn chƣa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ của một công dân. Tại BLHS năm 1999 nhà làm luật đã sử dụng thuật ngữ “ngƣời chƣa thành niên” còn tại BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã sử dụng thuật ngữ “ngƣời dƣới 18 tuổi”, việc thay đổi từ ngƣời chƣa thành niên sang ngƣời dƣới 18 tuổi không có nghĩa là nghĩa của hai thuật ngữ này khác nhau. Việc thay đổi cách dùng từ để thực hiện thống nhất với quy định tại bộ luật dân sự tại Khoản 1 Điều 21 BLDS năm 2015:“ Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi”. Do đó, thuật ngữ ngƣời dƣới 18 tuổi và ngƣời chƣa thành niên đều có ý nghĩa nhƣ nhau.
Và khái niệm NCTN khác với khái niệm trẻ em, theo quy định tại Điều 1 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 thì “Trẻ em là công dân Việt Nam dƣới 16 tuổi”. Tại Điều 1 Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ em đƣợc Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi Công ƣớc này, trẻ em có nghĩa là ngƣời dƣới 18 tuổi, trừ trƣờng hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Tóm lại, ngƣời dƣới 18 tuổi, trẻ em đều đƣợc xây dựng trên sự phát triển về mặt tinh thần và thể chất của con ngƣời đƣợc cụ thể, giới hạn bởi độ tuổi. Theo đó, các nhà làm luật quy định những quyền và nghĩa vụ của ngƣời dƣới 18 tuổi.
Nhƣ vậy, khái niệm ngƣời dƣới 18 tuổi là ngƣời chƣa phát triển đầy đủ về tinh thần và thể chất, chƣa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật nhƣ là đối với ngƣời đã thành niên. Khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mỗi ngƣời là khác nhau, đƣợc hình thành từ lúc sinh ra và tích lũy dần trong cuộc sống, sinh hoạt. Lứa tuổi dƣới 9 18 là tuổi trong giai đoạn phát triển về tâm sinh lý cũng nhƣ thể chất mạnh mẽ nhất. Đây là lứa tuổi cần đƣợc sự bảo vệ và che chở đặc biệt nhất.
Tâm lý ngƣời chƣa đủ 18 tuổi nói chung và ngƣời dƣới 18 tuổi phạm tội nói riêng có sự khác biệt đáng kể, những ngƣời đã đủ hoặc trên 18 tuổi thƣờng có nhận thức và trƣởng thành hơn ngƣời dƣới 18 tuổi. Trong một số văn kiện quốc tế đƣa ra những quy định đặc biệt bảo vệ họ trong lĩnh vực tƣ pháp hình sự nhƣ Công ƣớc của Liên hợp quốc về các quyền trẻ em năm 1989; Những quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật đối với ngƣời dƣới 18 tuổi năm 1985 (Quy tắc Bắc Kinh); Quy tắc về bảo vệ ngƣời dƣới 18 tuổi bị tƣớc tự do năm 1990. Tại Công ƣớc Liên hợp quốc về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 khẳng định mọi trẻ em trên thế giới, không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, tài sản hoặc dòng dõi đều có quyền đƣợc hƣởng những biện pháp bảo hộ cần thiết của ngƣời dƣới 18 tuổi, đây là những tƣ tƣởng định hƣớng, chi phối toàn bộ quá trình xử lý, biện pháp xử lý ngƣời dƣới 18 tuổi tại quy tắc Bắc Kinh và Quy tắc về bảo vệ ngƣời dƣới 18 tuổi bị tƣớc tự do là quan tâm hàng đầu đến lợi ích tốt nhất của họ. Nƣớc ta đã gia nhập Công ƣớc về quyền trẻ em, cam kết thực hiện việc áp dụng mọi biện pháp bao gồm cả biện pháp lập pháp để bảo đảm các quyền của trẻ em.
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự Tuổi chịu TNHS là một vấn đề không thể thiếu trong pháp luật hình sự của mỗi nƣớc, thể hiện quan điểm của Nhà nƣớc về cách thức xử lý ngƣời dƣới 18 tuổi phạm tội, vừa phải bảo đảm giữ gìn trật tự an toàn xã hội vừa phải đảm bảo quyền và lợi ích của con ngƣời, đặc biệt là ngƣời dƣới 18 tuổi, ngay cả khi họ đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật hình sự. Ở nƣớc ta, việc xác định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đƣợc căn cứ vào: Một là, những đặc điểm về thể chất và tâm – sinh lý khả năng nhận thức của lứa tuổi dƣới 18 tuổi. 10 Hai là, căn cứ vào điều kiện văn hóa – xã hội, kinh tế, chính trị và chính sách, đƣờng lối xử lý tội phạm do ngƣời dƣới 18 tuổi thực hiện. Ba là, căn cứ trên cơ sở tổng kết thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và phòng, chống tội phạm do ngƣời dƣới 18 tuổi thực hiện ở nƣớc ta nói riêng.
Bốn là, tham khảo các quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của các nƣớc trên thể giới. [52] Tại BLHS năm 1999 đƣợc chia thành 04 loại tội phạm: tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng và tội đặc biệt nghiêm trọng, tại Khoản 1 Điều 12 thì ngƣời từ đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi loại tội phạm, còn tại Khoản 2 cùng Điều luật quy định ngƣời từ đủ 14 tuổi đến trở lên, nhƣng chƣa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Kế thừa theo quy định của BLHS năm 1999 về giới hạn độ tuổi BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 hiện nay vẫn quy định ngƣời dƣới 18 tuổi phạm tội chỉ bao gồm những ngƣời đã đủ 14 tuổi nhƣng chƣa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đƣợc Bộ luật hình sự quy định là tội phạm. Điều 12 BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định: “Điều 12.
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự 1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này”. Nhƣ vậy, theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật hình sự Việt Nam là từ đủ 14 tuổi.
Trên cơ sở khái niệm về ngƣời dƣới 18 tuổi và độ tuổi bắt đầu 11 chịu trách nhiệm hình sự, chúng ta có thể rút ra kết luận ngƣời dƣới 18 tuổi phạm tội là ngƣời từ đủ 14 đến dƣới 18 tuổi khi thực hiện tội phạm. Tuy nhiên tại giới hạn về số lƣợng tội phạm tại BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 thu hẹp hơn so với BLHS năm 1999, bởi ngƣời từ đủ 14 tuổi đến dƣới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự tại các tội theo nhƣ liệt kê bên trên. Qua đó cho thấy, BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung năm 2017 mang tính nhân đạo sâu sắc và phù hợp với đƣờng lối xử lý ngƣời dƣới 18 tuổi phạm tội hơn so với BLHS năm 1999. Ở độ tuổi này năng lực nhận thức và điều khiển hành vi còn hạn chế, họ có thể thực hiện tội do chƣa ý thức đƣợc tính nguy hiểm xã hội của hành vi, đánh giá sai các tình huống đặt ra trong cuốc sống.
Do đó cần có những chính sách, nguyên tắc giải quyết đảm bảo lợi ích cho ngƣời dƣới 18 tuổi.