Chương 1 MOT SỐ VAN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TOI PHAM CHỨC VU TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIET NAM 1. KHÁI NIỀM TỎI PHAM VỀ CHỨC VU. Khái niệm toi phạm ve chức vu. Tội phạm về chức vụ là một hiện tượng tiêu cực của xã hội, mang tinh lịch sử xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước.
Tor phạm ve chức vụ xuất hiện khi một người được giao một quyền lực nhất định và người do đã su dụng quyền lực được giao để thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xám phạm đến lợi ích của Nhà nước, của xã hội và của công dan. Tội phạm vẻ chức vụ luôn luôn gan liên với yếu tỏ quyen luc, Khong có quyền lực thi không thé có tội phạm vẻ chức vụ. Dor vor một người có quyền lực phạm tội về chức vụ. quyền lực đó được thé hiện ở việc người đỏ dược giao một chức vụ, quyền hạn nhất định.
Người được giáo chức vụ, quyền han đã lợi dụng chức vu, quyền han của mình dé thực hiện hành vi tran với các quy định của pháp luật, xâm phạm đến uy tín và hoạt dong dung dan của các cơ quan, tổ chức, xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, cua xã hor và của công dan. Tuy nhiên, không phải lúc nào người có chức vụ, quyền han cũng có the lợi dung chức vu, quyền han được giao de thực hiện hành vi xâm hai các quan hệ xã hội được Luật Hình sự bao vẻ, mà phải trong những dieu Kiến, hoàn cảnh và lý do nhất định như: Pháp luật sơ ho, che do quan lý can bo, công chức lỏng lẻo, yếu kém hoặc do thờ ơ, thiểu trách nhiệm với nhiệm vụ được giao v. Đồng thời, hành vi lợi dụng chức vụ quyền han phải gan lien với tố thi hành công vụ của người có chức vụ, quyền han, Người có chức vụ yếu quyền han lợi dung chức vụ, quyền han thực hiện hành vì trai phap luật trên có sở công vụ được giao và người đó có quyền han nhật định đổi với công vụ do Khai niệm tôi phạm về chức vụ được hiểu dưới nhiều óc độ Khác nhàu, ty vào phương pháp tiếp cân, mục dich nghiện cứu và yeu cầu phát quyết van de của việc nghiên cứu. Luật hình sự của các nước trên thé giới chi quy định một so tội phạm cụ thể như tội tham ô, nhận hối lộ, đưa hối lộ, lợi đụng chức vụ, quyền hạn v., mà không đưa ra khát niệm khái quát thế nào là tội phạm về chức vụ.
Ở Việt Nam, trước ngày 26/5/1985, khái niệm tội pham về chức vụ chưa được quy định chính thức trong bất kỳ một văn bản pháp luật nào, nhưng các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cụ thể để làm những việc sai trái đều bị xử lý bang các biện pháp ky luật của Dang, của Nhà nước hay bang các biện pháp hành chính. Mot số hành vi xâm phạm và làm thiệt hại đáng kể đến uy tín của Nhà nước như tội hối lộ (được quy định tại Điều 1 Sắc lệnh 223/SL ngày 17/11/1946; Tội làm dụng chức vụ, quyền hạn và hối lộ được quy định tại Điều 7 Sác lệnh số 03/SL/1976 ngày 15/3/1976 của Hội đồng Chính phủ cách mang lam thời. Các hành vi lạm dụng và lợi dụng chức vụ, quyền hạn cũng được quy định tại Pháp lệnh Trừng trị các tội phạm về hối lộ ngày 20/5/1981. Quá trình phát triển của xã hội đã làm nảy sinh nhu cầu phải tội phạm hóa một số hành vi vi phạm pháp luật của người có chức vụ, quyền han, nhu cầu pháp điển hoá pháp luật hình sự và điều đó dat ra yêu cầu khái quát hóa từng loại tội phạm căn cứ vào một số dấu hiệu nhất định.
Trên cơ sở đó, khái niệm tội phạm về chức vụ được hình thành và ngày càng hoàn chỉnh. Ngày 21/12/1999 Quốc hội khoá X đã thông qua BLHS mới, có hiệu lực từ ngày 01/7/2000 thay thế cho BLHS năm 1985, các tội phạm về chức vụ được quy định trong Chương XXI, bao gồm các tội sau: Tội tham ô tài sản (điều 278); Tội nhận hối lộ (điều 279); Tội lạm đụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (điều 280); Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (điều 281); Tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ (282); Tội giả mao trong công tác (điều 284); Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (điều 285); Tội cô ý làm lộ bí mậi công tác; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu huỷ tài liệu bí mật công tác (điều 286); Tội v6 ý làm lộ bí mật công tác; tội làm mất tài liệu bí mật công tác (điều 287); Tội đào nhiệm (điều 288); Tội đưa hối lộ (điều 289); Tội làm môi giới hồi lộ (điều 290); Tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ quyền hạn để trục lợi (điều 291). Có nhiều ý kiến khác nhau khi đưa ra các khái niệm tội phạm vẻ chức vụ, tuy nhiên tất cá những quan điểm đều thể hiện được những dấu hiệu đạc trưng chung, chủ yếu của tội phạm về chức vụ như sau: - Chủ thể của các tội phạm về chức vụ là người có chức vụ, quyên hạn: - Người có chức vụ, quyền hạn lợi đụng chức vụ, quyền hạn được giao để thực hiện hành vi trái với công vụ. - Xam pham uy tin và hoạt động đúng dan của cơ quan, tô chức, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
Nghiên cứu các tài liệu PLHS của nước ta và các tội phạm vẻ chức vụ được quy định trong BLHS năm 1999, có thể đưa ra khái niệm tội phạm về chức vụ như sau: Tội phạm về chức vụ là hành vi nguy hiểm cho xã hội vảm phạm hoạt động đúng ddan và uy tín cua cơ quan, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân do người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn cua mình thực hiện trong khi thi hành công vụ. Đặc điểm chung của các tội phạm về chức vụ. Tội phạm về chức vụ là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm hoại động đúng đắn và uy tín của cơ quan, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân do người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền han của mình thực hiện trong khi thi hành công vu. Từ khái niệm tội phạm về chức vu và trên cơ sở nghiên cứu, xem xét các tội phạm về chức vụ được quy định trong BLHS Việt nam năm 1990, chúng tôi thấy rằng mỗi tội phạm về chức vụ cụ thể đều có những đặc điểm riêng, tuy nhiên tất cả các tội phạm về chức vụ đều có một số đạc điểm chung như sau: - Về chủ thể: Chủ thể của các tội phạm về chức vụ là người có chức vụ.
quyền hạn; - Về mặt khách quan: Người có chức vụ lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để thực hiện hành vi trái với công vụ. - Về khách thé: Các tội pham về chức vụ đều xam hai đến uy tín và hoại động đúng dan của các cơ quan, tổ chức, lợi ích của Nhà nước. lợi ích hợp pháp của công dân. Chủ thể cúa toi phạm về chức vụ là người có chức vụ, quyền hạn.
Chức vụ và quyền hạn là hai dấu hiệu quan hệ chặt chẽ với nhau nhưng không đồng nhất. Một người có chức vụ thì đương nhiên người đó có quyên hạn nhất định, nhưng một người có quyền hạn không nhất thiết người đó phải là người có chức vụ. Có nhiều quan điểm về các dấu hiệu, điều kiện của người có chức vụ. theo chúng tôi, người có chức vụ là người thỏa mãn các điều kiện sau: - Do bổ nhiệm, do dân cu, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác; - Đang làm việc trong một cơ quan hoặc tổ chức; - Có hưởng lương hoặc không hướng lương; - Được cơ quan, tổ chức giao cho một công vụ nhất định; - Theo nhiệm vụ được giao, khi thực hiện công vụ, người đó có quyền hạn nhất định.
Như vay, người có chức vụ quyền hạn là người được giao một công vụ nhất định, có hưởng lương hoặc không hưởng lương và có quyền hạn nhàt định đối với công vụ đó. Đây là những người mà quyền hạn của họ có được do bổ nhiệm, do bầu cử, đo hợp đồng hoặc đo một hình thúc khác. Đối với hầu hết tất cả các tội phạm về chức vụ được quy định trong BLHS năm 1999 đều có chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn. Tuy nhiên, trong BLHS năm 1999 có một số tội độc lập không phải do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện mà chủ thể của các tội này là bất kỳ ai có đủ năng lực TNHS và đạt độ tuổi theo quy định tại Điều 12 BLHS, đó là các tội: Tội dua hối lộ (điều 289); Tội làm môi giới hối lộ (điều 290); Tội lợi dụng ảnh hưởng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi (điều 291).
Chính vì vậy. trong lý luận và thực tiễn, có một số quan điềm cho rang chủ thé của các tội phạm về chức vụ không nhất thiết phải là người có chức vụ, quyền hạn bởi vì một số tội kể trên cũng được coi là các tội phạm về chức vụ. Theo chúng tôi, quan điểm néu trên không chính xác, vì không giống như bat kỳ một tội phạm nào. các tội phạm nói trên có liền quan chat chẽ với người có 9 chức vụ, quyền han, các tội phạm nay chi hoàn thành khi có sự tham gia cua người có chức vụ, quyền han.
Do đó, có thể khang định rang chủ thé của các tội phạm về chức vụ là người có chức vụ, quyền han. Như vậy, nói một cách chính xác hơn, tất cả các tội phạm về chức vụ đều có sự tham gia của người có chức vu, quyền hạn. Nếu không có sự tham gia của người có chức vụ, quyền hạn thì không có bat kỳ một tội phạm vẻ chức vụ nào. Người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dung chúc vụ, quyên hạn duoc giao để thực hiện hành vi trái với công vu.
Trên cơ sở quyền hạn được giao, trong khi thi hành công vụ, người có chức vụ, quyền hạn đã có hành vi (hành động hoạc không hành động) trái với công vụ được giao, trái với các quy định của pháp luật. Tức là các tội phạm về chức vụ bao giờ cũng được thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ với chức năng, quyền hạn của người có chức vụ, quyền hạn.