CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC QUẢN LÝ NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái quát về tổ chức quản lý nội bộ công ty cổ phần 1. Khái niệm, đặc điểm công ty cổ phần 1. Khái niệm công ty cổ phần Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp được hình thành và phát triển nhờ sự góp vốn từ nhiều cổ đông, luôn được xem như một thể chế kinh doanh phổ biến của nền kinh tế bởi loại hình kinh doanh này vẫn được đánh giá là phương thức phát triển nhất, hiệu quả nhất để huy động nguồn vốn đầu tư, từ đó thúc đẩy nền kinh tế của mỗi quốc gia tăng trưởng.
Được ra đời vào khoảng thế kỷ 17, trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài, từ phạm vi nhỏ trong một quốc gia, một khu vực hay một ngành nghề, lĩnh vực nhất định, CTCP giờ đây đã trở thành những công ty đa quốc gia, hoạt động ở nhiều thị trường khác nhau. Mặc dù vậy, khái niệm CTCP ở mỗi quốc gia trên thế giới cũng có sự khác biệt và được định nghĩa không giống nhau: Điều 1041 LCT năm 2006 của Anh định nghĩa: “Công ty cổ phần có nghĩa là một công ty có vốn điều lệ đã góp hoặc cổ phần danh nghĩa của tổng số vốn cố định được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, cũng có số vốn cố định, hoặc nắm giữ và chuyển giao như chứng khoán, hoặc được chia và nắm giữ một phần bằng cách này và một phần bằng cách khác, được thành lập trên nguyên tắc có các thành viên sở hữu cổ phiếu hoặc chứng khoán đó và không có những người khác”1. Theo Bộ luật Thương mại Đức, CTCP là mô hình công ty đối vốn, có tư cách pháp nhân sau khi tiến hành ĐKKD; vốn điều lệ khi thành lập CTCP tối thiểu là 50.000 EUR và được chia thành các cổ phần có mệnh giá thấp nhất là 1 EUR; cổ đông của CTCP có thể là cá nhân hoặc tổ chức; các cổ đông chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi giá trị cổ phần mà mình sỡ hữu; cổ phần của công ty được tự do chuyển nhượng và CTCP được phát hành các loại 1 Luật Công ty Anh năm 2006. 5 cổ phần khác nhau để huy động vốn2.
Tại Pháp, theo “Luật quy định điều kiện để công ty phát hành các loại chứng khoán” ngày 14/12/1985, CTCP hay còn gọi là công ty vô danh phải có ít nhất 7 cổ đông, vốn pháp định tối thiểu là 250.000 FF đối với các công ty không phát hành chứng khoán và 1.000 FF đối với các công ty phát hành chứng khoán, mệnh giá thống nhất của mỗi cổ phiếu là 100 FF. Các cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần. Công ty nếu đủ điều kiện có thể phát hành chứng khoán để huy động vốn. Như vậy, về bản chất, pháp luật Việt Nam và pháp luật của các nước trên thế giới có quan điểm khá đồng nhất về khái niệm CTCP.
Tương tự LDN năm 2014, LDN năm 2020 không đưa ra một khái niệm, định nghĩa cụ thể về CTCP mà chỉ liệt kê những dấu hiệu pháp lý để nhận diện CTCP, chính quy định này đã xác định tư cách pháp lý tồn tại của CTCP theo pháp luật Việt Nam, giúp phân biệt CTCP với các loại hình DN khác. LDN năm 2020 cũng không sửa đổi về khái niệm CTCP so với LDN năm 2014. Theo đó, Điều 111 LDN năm 2020 quy định CTCP là doanh nghiệp, trong đó: Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của DN trong phạm vi số vốn đã góp vào DN; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 120 và Khoản 1 Điều 127 của Luật này. CTCP có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận ĐKDN.
CTCP có quyền phát hành cổ phần, trái phiếu và các loại chứng khoán khác của công ty. Đặc điểm công ty cổ phần Từ khái niệm về công ty quy định tại Điều 111 LDN năm 2020, có thể thấy theo pháp luật Việt Nam hiện hành, công ty cổ phần có những đặc điểm sau: a) Về vốn điều lệ: Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 111 LDN năm 2020, vốn điều lệ của CTCP được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu. Một cổ phiếu có thể phản ánh 2 Luật Công ty cổ phần CHLB Đức năm 1965 (sửa đổi, bổ sung năm 2010). 6 mệnh giá của một hoặc nhiều cổ phần.
Việc góp vốn vào công ty được thực hiện bằng cách mua cổ phần, mỗi cổ đông có thể sở hữu một hoặc nhiều cổ phần. LDN không hạn chế mỗi thành viên được mua tối đa bao nhiêu % vốn điều lệ nhưng các thành viên có thể thỏa thuận trong điều lệ giới hạn tối đa số cổ phần mà mỗi thành viên có thể mua, nhằm hạn chế việc một thành viên nào đó có thể nắm quyền kiểm soát công ty. b) Về tư cách pháp lý: Công ty cổ phần là doanh nghiệp – là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh (Khoản 10 Điều 4 LDN năm 2020). CTCP có đủ điều kiện của một pháp nhân và được công nhận có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận ĐKDN (Khoản 2 Điều 111 LDN năm 2020).
Do đó, trong quá trình hoạt động, CTCP chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản bằng chính tài sản của mình, với tư cách chủ thể là pháp nhân thông qua người đại diện của mình theo quy định của pháp luật, công ty có thể trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn dân sự trong các quan hệ tranh tụng tại tòa án. c) Về cổ đông công ty: Điểm b Khoản 1 Điều 111 LDN năm 2020 quy định: “Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa”. CTCP là loại hình công ty đặc trưng cho công ty đối vốn nên chắc chắn phải có sự liên kết của nhiều thành viên trong công ty, vì thế mà việc quy định số cổ đông tối thiểu trong CTCP đã trở thành thông lệ quốc tế tồn tại hàng trăm năm nay. d) Về chế độ trách nhiệm: Cổ đông công ty cổ phần chịu trách nhiệm hữu hạn về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty, tức là chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.
CTCP chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty. Tính chất phân định tách biệt giữa tài sản của công ty và tài sản của thành viên công ty chính là ưu điểm giúp các cổ đông hạn chế rủi ro trong kinh doanh cũng như tự tin hơn khi đưa ra các quyết định đầu tư góp vốn vào CTCP. Từ đó, giúp các CTCP có khả năng huy động vốn linh hoạt, phục vụ kịp thời cho hoạt động SXKD. 7 Đây cũng là lợi thế để CTCP thu hút nguồn đầu tư lớn hơn so với các loại hình DN khác.
e) Về chuyển nhượng cổ phần: Căn cứ Khoản 1 Điều 127 LDN năm 2020, cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 120 của Luật này và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần. Trong CTCP phần vốn góp (cổ phần) của các thành viên được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu. Các cổ phiếu do công ty phát hành là một loại hàng hóa dân sự nên người sở hữu cổ phiếu có thể tự do chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Một số trường hợp bị cấm chuyển nhượng hoặc bị hạn chế mua bán, tặng cho, thừa kế hay thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán.
Cụ thể, LDN năm 2020 quy định cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần mà mình sở hữu, trừ trường hợp cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập (Khoản 3 Điều 120) và cổ phần ưu đãi biểu quyết (Khoản 3 Điều 116) trong 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận ĐKKD. f) Đặc điểm về huy động vốn: Theo Khoản 3 Điều 111 LDN năm 2020, công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần, trái phiếu và các loại chứng khoán khác của công ty ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán nhằm huy động vốn. Điều này thể hiện khả năng huy động vốn lớn và rộng rãi ra công chúng của CTCP. Nhờ quyền được phát hành chứng khoán này mà CTCP có khả năng chủ động vốn một cách tương đối linh hoạt khi cần nguồn vốn lớn để tham gia vào các dự án đầu tư.
Sự chủ động về vốn cũng chính là một yếu tố then chốt và đặc biệt quan trọng góp phần vào thành công cũng như giá trị của doanh nghiệp. Hơn nữa, đây cũng là một cơ hội đầu tư tương đối hiệu quả và an toàn đối với những nhà đầu tư cá nhân không chuyên nghiệp muốn gia tăng thu nhập. Không chỉ được hưởng lợi tức từ số cổ phần đã mua, các cá nhân còn có khả năng nhận được mức lợi nhuận đáng kể từ sự tăng giá cổ phiếu khi công ty kinh doanh hiệu quả, làm ăn phát đạt. Mua cổ phiếu của CTCP là hình thức đầu tư giúp các nhà đầu tư hạn chế rủi ro bằng cách cùng lúc đầu tư vào nhiều công ty, hay nói cách khác là “bỏ trứng vào nhiều giỏ”.
8 Tuy nhiên, khả năng huy động vốn lớn và rộng rãi của CTCP cũng kéo theo nguy cơ mang lại rủi ro rất cao trong công chúng. Do đó, CTCP cũng phải chịu nhiều quy chế pháp lý khắt khe hơn so với các loại hình DN khác. Khái niệm, đặc điểm về tổ chức quản lý nội bộ công ty cổ phần 1.