Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Những vấn đề lý luận về quản trị công ty cổ phần 1. Khái niệm, đặc điểm và sự hình thành, phát triển của công ty cổ phần 1. Khái niệm và đặc điểm của công ty cổ phần Hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế thị trường vô cùng phong phú đa dạng.
Vì vậy có rất nhiều loại hình liên kết thành lập công ty. Người ta có thể phân loại công ty theo nhiều tiêu chí khác nhau nhưng nói chung xét theo tiêu chí về tính chất của sự liên kết, công ty thường được chia thành hai nhóm cơ bản là các công ty đối nhân và các công ty đối vốn. Khái niệm đối nhân hay đối vốn là tiền đề để xác định tính chất của các quan hệ giữa các thành viên trong công ty về tổ chức quản lý công ty. Công ty đối nhân là những công ty mà mối quan hệ giữa thành viên trong công ty với nhau cũng như nguyên tắc tổ chức, quản lý công ty được thiết lập hoàn toàn dựa trên cơ sở độ tin cậy về nhân thân của các cá nhân tham gia, sự hùn vốn là yếu tố thứ yếu.
Công ty đối nhân có đặc trưng là không có sự tách bạch tài sản thành viên công ty và tài sản công ty. Ngược lại, ở công ty đối vốn nguyên tắc chủ đạo để xây dựng quan hệ giữa các thành viên công ty và cơ sở để xác định quyền, nghĩa vụ của mỗi thành viên là tỷ lệ vốn góp vào công ty. Với các công ty đối vốn, yếu tố vốn luôn được đặt lên hàng đầu, lấy nó làm nền tảng để hình thành nên nguyên tắc tổ chức quản lý công ty. Đặc điểm quan trọng của loại hình công ty này là công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty.
Các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn trong phần vốn góp của mình đã tham gia vào công ty. Thông thường, theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa có hai loại công ty đối vốn là CTCP và công ty trách nhiệm hữu hạn, hai loại hình công ty này tồn tại phổ biến ở Châu Âu lục địa và có quy chế pháp lý khác nhau tạo điều kiện dễ dàng hơn cho công chúng phân biệt giữa từng loại, tránh được nhầm lẫn nhưng ngược lại cũng có nhược điểm là không thuận lợi khi cần chuyển đổi hình thức 6 hoạt động. Trong khi đó hệ thống luật Anh - Mỹ, luật công ty chia công ty đối vốn thành công ty mở (Public Corporation) phát hành cổ phiếu rộng rãi trong công chúng và công ty đóng (Close Corporation) không phát hành cổ phiếu ra công chúng, cổ phần được chuyển nhượng hoặc huy động trong nội bộ thành viên. Công ty mở gần giống với CTCP, còn công ty đóng có đặc điểm gần giống với công ty trách nhiệm hữu hạn trong hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa.
Như vậy, tuy tên gọi hay cách thức tổ chức hoạt động của CTCP giữa các hệ thống pháp luật có sự khác nhau nhất định nhưng về bản chất thì CTCP ở hầu hết các quốc gia đều có những điểm chung như sau: (i) CTCP là một tổ chức có tư cách pháp nhân độc lập. (ii) CTCP chỉ chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ bằng tài sản riêng của công ty. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty. (iii) Vốn Điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau được gọi là các cổ phần.
Các cổ phần của cổ đông trong công ty có thể được tự do chuyển nhượng (trừ một số hạn chế theo quy định của Luật doanh nghiệp). (iv) Trong quá trình hoạt động công ty được phát hành các loại chứng khoán để huy động vốn. (v) CTCP có số lượng thành viên rất đông. Ở Việt Nam, Luật Công ty 1990 định nghĩa về CTCP như sau: “Công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn, gọi chung là công ty, là doanh nghiệp trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia nhau lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty” (Điều 2).
Đây là định nghĩa chung về công ty, còn để xác định thế nào là công ty cổ phần, chúng ta phải căn cứ vào cơ sở pháp lý là điều 30 Luật Công ty. Cách định nghĩa này tạo cho người đọc một cách hiểu không chính xác về mặt khái niệm và không toàn diện về bản chất của CTCP. Khắc phục những nhược điểm trên của Luật Công ty 1990, trên cơ sở kế thừa những quy định về CTCP trong LDN 1999, LDN 2005 (Điều 77), tại Điều 110 LDN 2014 nhà làm luật đã đưa ra khái niệm về CTCP như sau: 7 “1. Công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó: a) Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; b) Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa; c) Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; d) Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và khoản 1 Điều 126 của luật này (LDN 2014).
Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Công ty cổ phần có quyền phát hành cổ phần các loại để huy động vốn” Như vậy, việc định nghĩa CTCP của LDN 2014 là khá đầy đủ và rõ ràng cả về mặt hình thức và nội dung. Từ khái niệm này theo pháp luật Việt Nam, ta có thể hiểu CTCP có những đặc điểm sau: Thứ nhất, công ty cổ phần là công ty có tính chất đối vốn. CTCP thường có số lượng thành viên đông, với nhiều bộ phận dân cư, tầng lớp xã hội, trình độ hiểu biết khác nhau trong xã hội.
Các yếu tố thuộc về nhân thân của người góp vốn không phải là điều kiện để trở thành cổ đông của công ty. Điều mà công ty quan tâm hơn cả là số vốn họ góp vào công ty là bao nhiêu, góp với tư cách gì và góp bằng tài sản như thế nào. Với sự thể hiện tính chất đối vốn rõ rệt như vậy, CTCP thường được tham gia của rất nhiều cá nhân, tổ chức trong xã hội với số vốn huy động hiệu quả hơn so với các mô hình công ty khác. Thứ hai, công ty cổ phần là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân.
Tư cách pháp nhân của công ty được bắt đầu từ thời điểm công ty được đăng ký doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký doanh nghiệp có thẩm quyền. Là tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân nên CTCP nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập, có nghĩa là công ty có thể trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn, thiết lập những quan hệ khác nhân danh chính bản thân công ty. 8 Và điều quan trọng hơn cả là công ty có tài sản độc lập với tài sản của cá nhân, tổ chức khác và độc lập, tách bạch với tài sản của mọi thành viên trong công ty. Công ty chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác bằng tài sản của công ty.
Chế độ trách nhiệm hữu hạn cũng được áp dụng đối với thành viên của công ty, họ chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản của công ty trong phạm vi giá trị phần vốn đã góp vào công ty. Thứ ba, công ty cổ phần phải có ít nhất 03 thành viên tham gia trong suốt quá trình hoạt động. Là loại hình công ty đặc trưng cho công ty đối vốn cho nên phải có sự liên kết của nhiều thành viên. Vì vậy việc quy định số thành viên tối thiểu phải có đã trở thành thông lệ quốc tế trong lịch sử tồn tại và phát triển của CTCP.
Hơn nữa, pháp luật không hạn chế số lượng thành viên tối đa, thông thường công ty có số lượng cổ đông rất lớn, điều này giúp cho CTCP phát huy khả năng huy động được nguồn vốn đầu tư rộng rãi trong xã hội. Thứ tư, vốn Điều lệ công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Đây là đặc trưng rất cơ bản của CTCP. Trong quá trình hoạt động công ty có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng để công khai huy động vốn.
Thứ năm, tính tự do chuyển nhượng cổ phần là một đặc trưng chủ yếu của CTCP so với các loại công ty đối vốn khác. Phần vốn góp của cổ đông công ty được thể hiện dưới hình thức cổ phiếu. Cổ đông công ty không được trực tiếp rút ra phần vốn đã góp của mình trong công ty. Vì vậy khi muốn thu hồi phần vốn đó cổ đông có thể chuyển nhượng cổ phiếu cho người khác.
Các cổ phiếu do công ty phát hành được coi là một loại hàng hoá, tài sản nên việc chuyển nhượng cổ phiếu được thực hiện theo quy định pháp luật liên quan. Việc chuyển nhượng cổ phiếu trong CTCP được thực hiện tương đối dễ dàng, sự linh hoạt này tạo điều kiện thuận lợi cho người mua cổ phần và khuyến khích việc đầu tư vào công ty. Có thể nói, CTCP là một hình thức tập trung vốn mới nhanh chóng và hiệu qủa hơn nhiều so với các mô hình tổ chức kinh doanh khác. Tại Việt Nam, CTCP là loại hình doanh nghiệp đã và đang ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế, góp phần hoàn thiện cơ chế thị trường có sự 9 quản lý Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Sự hình thành và phát triển của công ty cổ phần Như bất kỳ một hiện tượng kinh tế nào khác, công ty ra đời, tồn tại và phát triển trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Các công ty với tư cách pháp nhân độc lập cùng với các thành viên có chế độ trách nhiệm hữu hạn xuất hiện với số lượng lớn từ năm 1870. Nhưng những mầm mống của một công ty hiện đại có thể nhận thấy trong việc thừa nhận trách nhiệm hữu hạn ở Luật La mã, các công ty thương mại và ngân hàng ở thế kỷ XIV, các công ty ở Anh thế kỷ XVII.