Mở đầu, Danh mục các từ viết tắt, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương: 5 z Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam Chƣơng 2: Thực trạng quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần Việt Nam. 6 z Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ BAN KIỂM SOÁT TRONG QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN VIỆT NAM 1. Khái niệm và đặc điểm của Ban kiểm soát, mối liên hệ giữa Ban kiểm soát và các thiết chế khác của công ty cổ phần 1. Khái niệm và đặc điểm Quản trị công ty nói chung và quản trị công ty cổ phần nói riêng có vai trò quan trọng đối với công ty.
Việc quản trị công ty tốt sẽ góp phần đảm bảo sự ổn định hoạt động, nâng cao hiệu quả thị trường, góp phần quan trọng phát triển công ty. Trong quản trị công ty cổ phần, việc quản trị tốt mối quan hệ giữa Ban giám đốc, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan khác giúp cho tổ chức bộ máy của công ty chặt chẽ, hoạt động hiệu quả từ đó nâng cao năng suất, hiệu quả thị trường. Trong mối quan hệ đó, Ban kiểm soát là một trong những bộ phận quan trọng trong công ty cổ phần. Vậy Ban kiểm soát là gì? Có nhiều quan điểm khác nhau về Ban kiểm soát: Có quan điểm cho rằng: Ban kiểm soát trong công ty nói chung và trong công ty cổ phần nói riêng được hiểu là một cơ quan quản trị nội bộ trong công ty [9].
Quan điểm khác cho rằng: Ban Kiểm soát (Board of Supervisors) của một công ty có nhiệm vụ giống như các cơ quan tư pháp trong mô hình tam quyền phân lập nhằm giúp các cổ đông kiểm soát hoạt động quản trị và quản lý điều hành công ty [27]. Tóm lại, có thể hiểu Ban kiểm soát của công ty như sau: Ban kiểm soát là bộ phận trong cơ cấu bộ máy quản lý của công ty, do cơ quan đại diện chủ sở hữu của công ty thành lập để giúp cơ quan này kiểm tra tính thích hợp, hợp pháp trong hoạt động quản lý, điều hành công ty; trong việc 7 z chấp hành pháp luật, điều lệ và các quyết định của cơ quan đó. Từ khái niệm nêu trên, Ban kiểm soát có các đặc điểm sau: - Thứ nhất, Ban kiểm soát là một bộ phận của công ty được thành lập bởi đại diện chủ sở hữu công ty (trong công ty cổ phần là Đại hội đồng cổ đông). Do đó, việc thành lập Ban kiểm soát phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục nhất định và thành viên Ban kiểm soát phải đáp ứng những điều kiện, tiêu chuẩn nhất định theo quy định của nhà nước, của công ty.
Do được thành lập bởi chủ sở hữu công ty nên Ban kiểm soát phải có trách nhiệm báo cáo kết quả hoạt động của mình đối với đại diện chủ sở hữu công ty (Đại hội đồng cổ đông). - Thứ hai, Ban kiểm soát hoạt động dựa trên quy định pháp luật, các văn bản hướng dẫn thi hành và các quy định nội bộ của công ty nhằm giúp công ty trong việc kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định của pháp luật, điều lệ và các quyết định khác theo sự phân công. Căn cứ theo tình hình thực tiễn tại mỗi công ty, công ty có những quy định cụ thể về hoạt động của Ban kiểm soát cho phù hợp, đảm bảo quy định pháp luật. Đây là một trong những căn cứ quan trọng trong việc quyết định hiệu quả hoạt động của Ban kiểm soát.
Mối liên hệ Trong công ty cổ phần, Ban kiểm soát có mối liên hệ với các thiết chế khác, gồm: Đại hội đồng cổ đông; Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc và các cổ đông của công ty. - Thứ nhất, trong mối liên hệ với Đại hội đồng cổ đông: Trong công ty cổ phần, có thể nói, Ban kiểm soát là cơ quan trực thuộc Đại hội đồng cổ đông, do Đại hội đồng cổ đông bầu ra nhằm giúp Đại hội đồng cổ đông trong việc kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy 8 z định của Nhà nước, quy định nội bộ, Điều lệ và Nghị quyết, quyết định của Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị. Như vậy, trong mối quan hệ với Đại hội đồng cổ đông, Ban kiểm soát được khai sinh ra bởi Đại hội đồng cổ đông. Do vậy, Ban kiểm soát chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông trong việc thực hiện các nhiệm vụ được giao.
Mối quan hệ giữa Ban kiểm soát với Đại hội đồng cổ đông là mối quan hệ cấp trên – cấp dưới hoặc đơn vị - đơn vị chủ quản. Ban kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông thành lập và kiểm soát, đồng thời Ban kiểm soát có trách nhiệm báo cáo và chịu trách nhiệm báo cáo trước Đại hội đồng cổ đông kết quả thực hiện nhiệm vụ theo thẩm quyền. - Thứ hai, trong mối quan hệ giữa Ban kiểm soát với Hội đồng quản trị, Ban giám đốc: Như đã nêu ở trên, do Ban kiểm soát được “khai sinh” bởi Đại hội đồng cổ đông nên về mặt địa vị pháp lý, Ban kiểm soát chịu sự quản lý và có trách nhiệm với Đại hội đồng cổ đông. Do vậy, Ban kiểm soát làm việc theo nguyên tắc bình đẳng và độc lập với Hội đồng quản trị và Ban giám đốc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao.
Nói cách khác, Ban kiểm soát được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tuân thủ quy định của pháp luật, Điều lệ và các quy định nội bộ của công ty cổ phần. Ban kiểm soát làm việc theo chế độ tập thể kết hợp với chế độ trách nhiệm cá nhân về phạm vi công việc được phân công của từng thành viên Ban kiểm soát. Thành viên Ban kiểm soát chịu trách nhiệm báo cáo về việc thực hiện nhiệm vụ được phân công phụ trách. Bên cạnh đó, Ban kiểm soát, Hội đồng quản trị và Ban giám đốc có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực thi nhiệm vụ.
Như vậy, có thể thấy, Ban kiểm soát có vị trí độc lập và đối trọng với 9 z Hội đồng quản trị và Ban giám đốc. Về mô hình, Ban kiểm soát có thể ngang cấp với Hội đồng quản trị và trên cả Ban giám đốc. Về chức năng nhiệm vụ, Ban kiểm soát thực hiện việc giám sát việc thực hiện các quy định của pháp luật và Điều lệ công ty. Ban kiểm soát thực hiện chức năng giám sát việc tuân thủ các quy định của pháp luật, Điều lệ, Nghị quyết và quy định của Hội đồng quản trị.
Do vậy, Hội đồng quản trị có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với Ban kiểm soát, cung cấp thông tin và các tài liệu cần thiết cho Ban kiểm soát, tạo môi trường thuận lợi cho Ban kiểm soát có điều kiện thực thi hiệu hiệu quả công tác giám sát của mình theo quy định pháp luật và Điều lệ công ty. Hơn nữa, Ban kiểm soát có quyền tham dự các cuộc họp của Hội đồng quản trị và họp giao ban để qua đó Ban kiểm soát nắm được chủ trương, định hướng phát triển, tình hình hoạt động trên mọi mặt của công ty để thuận lợi trong quá trình triển khai nhiệm vụ được giao. Trong quá trình làm việc với Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, Ban kiểm soát phải giữ vững tính độc lập, khách quan, đồng thời phối hợp chặt chẽ, không gây cản trở lẫn nhau trong khi thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình. Trong trường hợp này, cần lưu ý việc gây “cản trở” và việc gây “ảnh hưởng” là ở hai mức độ khác nhau.
Tất nhiên, trong việc thực hiện kiểm tra, giám sát Hội đồng quản trị/Ban giám đốc, Ban kiểm soát cần phải yêu cầu cung cấp tài liệu, thông tin liên quan, cần phải làm việc trực tiếp với các đối tượng liên quan nên việc gây “ảnh hưởng” tới công việc, kế hoạch làm việc của Hội đồng quản trị/ Ban giám đốc là điều không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, “mức độ cản trở” tác giả muốn nói ở đây là ở mức độ khác và cao hơn "ảnh hưởng. Tức việc làm của Ban kiểm soát sẽ gây cản trở việc thực hiện công việc của bộ phận liên quan trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình. Chẳng hạn như: Trong trường hợp Ban giám đốc đang 10 z có kế hoạch làm việc với đối tác để ký kết hợp đồng liên kết, hợp tác với nhau.
Tuy nhiên, mặc dù Ban kiểm soát đã biết trước lịch làm việc nhưng vẫn yêu cầu Ban giám đốc làm việc và cung cấp tài liệu, thông tin liên quan trong thời gian đó. Đây chính là việc gây cản trở đối với Ban giám đốc của công ty trong khi thực hiện nhiệm vụ được giao. - Thứ ba, trong mối quan hệ với các cổ đông: Các thành viên Ban kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông bầu và đại diện cho quyền lợi của cổ đông trong quá trình thực hiện trách nhiệm và nhiệm vụ của mình, do vậy, Ban kiểm soát phải thực hiện trách nhiệm và nhiệm vụ của mình, Ban kiểm soát phải thực hiện và giám sát việc tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật, Điều lệ và Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông. Đồng thời Ban kiểm soát chịu sự giám sát của Đại hội đồng cổ đông, của các cổ đông trong công ty theo sự phân công.
Ban kiểm soát có trách nhiệm bảo mật thông tin, xem xét, đánh giá tính hợp lý, hợp pháp, trung thực, khách quan trên cơ sở các tài liệu đã được kiểm tra và qua việc nắm bắt thông tin. Ban kiểm soát có trách nhiệm báo cáo các cổ đông thông qua Đại hội đồng cổ đông một cách trung thực, chính xác về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó, Ban kiểm soát có trách nhiệm tiếp nhận, xem xét giải quyết các đề xuất, kiến nghị của cổ đông theo đúng trình tự, quy định của pháp luật và Điều lệ công ty, góp phần đảm bảo quyền và lợi ích của các cổ đông trong công ty cổ phần, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty. Lý luận về quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong quản trị công ty cổ phần 1.