Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về tổ chức và khai thác nguồn lực thông tin 1. Tổng quan về nguồn lực thông tin * Khái niệm về nguồn lực thông tin Thông tin là thuật ngữ được sử dụng phổ biến và liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực và các hoạt động trong đời sống của con người. Đồng thời, thông tin là một trong những đối tượng nghiên cứu và khái niệm cơ bản của một số ngành khoa học.
Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam “Thông tin là một khái niệm cơ bản của khoa học hiện đại, khảo sát hoặc trao đổi giữa các đối tượng với nhau. Một thuộc tính cơ bản của thông tin là đối lập với tính bất định, ngẫu nhiên và hỗn loạn” [19, tr. Và “Thông tin là truyền tin cho nhau để biết…; điều được truyền đi cho biết, tin truyền đi” [30, tr. Trong Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5453:2009 về thông tin và tư liệu - từ vựng đã viết “Thông tin là nội dung mà con người gán cho dữ liệu với các quy ước (ký hiệu) đã biết, được sử dụng trong việc trình bày chúng”[5, tr.
Trong Luật Tiếp cận thông tin cho rằng “Thông tin là tin, dữ liệu được chứa đựng trong văn bản, hồ sơ, tài liệu có sẵn, tồn tại dưới dạng bản viết, bản in, bản điện tử, tranh, ảnh, bản vẽ, băng, đĩa, bản ghi hình, ghi âm hoặc các dạng khác do cơ quan nhà nước tạo ra.01] Khi “thông tin” là đối tượng của một số ngành khoa học thì được định nghĩa dưới nội hàm của những ngành khoa học đó. “Thông tin là tri thức vốn chưa được biết đối với người nhận trước khi nhận được nó. Thông tin chỉ có thể được suy ra từ dữ liệu vốn có là chính xác, hợp thời, thích hợp và bất ngờ” [10.655] là nội hàm của ngành công nghệ thông tin. Trong lĩnh vực kinh tế thì “thông tin là quá trình trao đổi giữa người gửi và người nhận” [18, tr.
Và “Thông tin là những dữ liệu đã xử lý, sắp xếp và diễn giải theo một cấu trúc hợp lý để nâng cao tính hiệu quả của các quyết định” [23, tr. 11 Cùng nghiên cứu về thông tin, các nhà thư viện học đưa ra định nghĩa dưới góc độ ngành để làm rõ hơn khái niệm, tính chất và đặc điểm của thông tin. “Thông tin là kết quả của sự biến đổi thông qua sự phân tích, tổng hợp và đánh giá dựa trên những dữ liệu có được để đưa ra các quyết định cần thiết” [17, tr.388] là định nghĩa do tác giả Nguyễn Hữu Hùng đưa ra. Theo tác giả Đoàn Phan Tân [25, tr.20-21]: “Thông tin là sự phản ánh về một vật, một hiện tượng, một sự kiện hay quá trình nào đó của tự nhiên và xã hội thông qua khảo sát trực tiếp hoặc lý giải gián tiếp.
Các thông tin này nếu tiếp tục xử lý sẽ tạo ra các sản phẩm thông tin có giá trị cao hơn, còn gọi là thông tin có giá trị gia tăng”. Với tác giả Lê Văn Viết [31, tr.33] thì “thông tin là tin tức, số liệu, dữ kiện, khái niệm, tri thức giúp tạo nên sự hiểu biết của con người về một đối tượng, hiện tượng, vấn đề nào đó. Các thông tin này được lưu giữ trên các vật mang tin khác nhau mà những người làm công tác thư viện vẫn quen gọi là tài liệu”. Ngoài thuật ngữ “thông tin” để làm rõ hơn nội hàm nguồn lực thông tin thì tác giả đã nghiên cứu về thuật ngữ “nguồn lực”.
Theo Từ điển tiếng Việt “Nguồn là là nơi bắt đầu nơi phát sinh ra hoặc nơi có thể cung cấp” [30, tr.692]; “Lực là tác dụng làm biến đổi chuyển động hoặc hình dạng của các vật” [30, tr. Như vậy, có thể hiểu rằng nguồn lực là tập hợp các nhân tố thúc đẩy cho sự phát triển, có thể thay đổi theo không gian và thời gian. Nói cách khác nguồn lực được hiểu gồm tất cả tiềm năng, lợi thế bên trong, bên ngoài về vật chất và phi vật chất để phục vụ cho mục tiêu phát triển cố định của xã hội hay tổ chức. Trong những năm gần đây thuật ngữ “nguồn lực thông tin” được các nhà thư viện học Việt Nam thường xuyên đề cập đến và xuất hiện ngày càng nhiều trên các diễn đàn nghề nghiệp.
Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau để định nghĩa về nguồn lực thông tin. Có quan điểm cho rằng nguồn lực thông tin chính là vốn tài liệu được thư viện lưu trữ và bảo quản. Bên cạnh đó, có quan điểm khác thì cho rằng nguồn lực thông tin không chỉ giới hạn bởi những nguồn thông tin được thư viện tạo lập và lưu trữ, mà còn bao gồm cả những nguồn thông tin mà thư viện có thể tiếp cận được ở các không gian lưu trữ bảo quản khác. 12 Khi xét NLTT dưới góc độ vốn tài liệu, tại mục 3 điều 2 của Pháp lệnh Thư viện “Vốn tài liệu thư viện là những tài liệu được sưu tầm, tập hợp theo nhiều chủ đề, nội dung nhất định, được xử lý theo quy tắc, quy trình khoa học của nghiệp vụ thư viện để tổ chức phục vụ người đọc đạt hiệu quả cao và được bảo quản”.01] Từ kết quả nghiên cứu về thông tin học tác giả Nguyễn Hữu Hùng cho rằng “nguồn lực thông tin bao gồm các dữ liệu thể hiện dưới dạng văn bản, số, hình ảnh, âm thanh được ghi lại trên phương tiện theo quy ước, các sưu tập, những kiến thức của con người, những kiến thức của tổ chức có thể truy cập và có giá trị cho người sử dụng” [17, tr.
Và “Nguồn lực thông tin là tập hợp các tin nhận được và tích lũy được trong quá trình phát triển khoa học và hoạt động thực tiễn của con người… được thể hiện dưới dạng tài lệu với nhiều hình thức khác nhau. Nguồn lực thông tin là tổ hợp các tài liệu phản ánh những kết quả nghiên cứu khoa học trong hoạt động nhận thức và thực tiễn”.164] Với khuôn khổ luận văn, tác giả đồng nhất với quan điểm của thầy Lê Văn Viết: “Ở dạng chung nhất, nguồn lực thông tin được hiểu như là tổ hợp các thông tin nhận được và tích hợp được trong quá trình phát triển khoa học và hoạt động thực tiễn của con người, để sử dụng nhiều lần trong sản xuất và quản lý xã hội. Nguồn lực thông tin phản ánh các quá trình và hiện tượng tự nhiên được nghi nhận trong kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học và trong các dạng tài liệu khác của hoạt động nhận thức và thực tiễn”.163-164] Như vậy, theo tác giả nguồn lực thông tin là tổ hợp tất cả những nguồn tin mà thư viện có thể xây dựng hoặc tiếp cận được để phục vụ nhu cầu tin của người sử dụng tại đơn vị. Do đó, nguồn lực thông tin được đề cập trong luận văn này bao gồm: sách, báo, tạp chí, khóa luận, đồ án tốt nghiệp, cơ sở dữ liệu….được xuất bản và lưu trữ dưới nhiều dạng thức khác nhau.
* Đặc trưng của nguồn lực thông tin [31, tr.120] - Tính vật lý: Tính vật lý của nguồn lực thông tin được thể hiện ở vật chất chứa thông tin và cách thức ghi nhận thông tin trong đó. Trong quá trình phát triển lịch 13 sử ghi nhận con người đã sáng tạo ra nhiều loại hình mang tin khác nhau như đất, đá, tre, nứa, giấy…. đến vật mang tin có tính công nghệ như đĩa quang, đĩa từ, vi phim…. Dù bất kỳ hình thức mang tin nào thì cũng nhằm mục đích phản ánh, lưu trữ và truyền tải tri thức của con người về thế giới quan trong từng phân kỳ của lịch sử.
- Tính cấu trúc: Cấu trúc của NLTT được thể hiện qua những quy chuẩn nhất định tùy thuộc vào điều kiện của thư viện và đặc điểm người sử dụng; nhằm giúp cho người sử dụng có thể tiếp cận dễ dàng, nhanh chóng; đồng thời vẫn đảm bảo vấn đề bảo mật, an toàn thông tin phản ánh trong NLTT. Nguồn lực thông tin tuy được cập nhập vào thư viện khác nhau về thời gian và số lượng, nhưng vẫn có thể phản ánh mối liên hệ với nhau. Mối liên hệ của nguồn lực thông tin được xây dựng nhờ quá trình xử lý thông tin. Tính cấu trúc của nguồn lực thông tin thể hiện trong quá trình thu thập, chọn lọc và xử lý thông tin.
Cấu trúc của nguồn lực thông tin sẽ phản ánh cấu trúc nhu cầu tin của người sử dụng tại mỗi thư viện. - Tính truy cập: Tính truy cập của nguồn lực thông tin được thể hiện ở giá trị mà chúng mang lại cho người sử dụng trong hoạt động thực tiễn. Trước khi đưa vào quảng bá và khai thác, nguồn lực thông tin tại mỗi đơn vị sẽ được xử lý và tổ chức phù hợp với nhu cầu tin của người sử dụng. Trong quá trình xử lý thông tin các thư viện xây dựng hệ thống các điểm truy cập cho nguồn lực thông tin bao gồm: nhan đề, tác giả, từ khóa, chủ đề….
Người sử dụng thông qua hệ thống tra cứu để truy cập đến nguồn lực thông tin bằng các phương tiện như máy tính, điện thoại… nhờ vậy người sử dụng có thể xác định vị trí hoặc đọc toàn văn của nguồn lực thông tin. - Tính có thể chia sẻ và lan truyền: Phần lớn nguồn lực thông tin của thư viện chỉ phản ánh hệ thống tri thức của một ngành hoặc lĩnh vực nhất định, ít có tính bao quát hết nguồn tri thức của nhân loại. Trong khi đó, nhu cầu tin ngày càng đa dạng, phong phú cả về nội dung và hình thức. Do đó, để cùng phát triển tiến đến hội nhập thì các thư viện cần quan tâm chú trọng đến tính có thể chia sẻ của nguồn lực thông tin để nâng cao khả năng sử dụng và tái sinh nguồn lực thông tin.
Đây chính là tính có thể chia sẻ và lan truyền của nguồn lực thông tin. 14 - Tính giá trị: Tính giá trị của nguồn lực thông tin thể hiện ở giá trị thông tin được phản ánh trong nó. Nguồn lực thông tin của các thư viện phản ánh nhận thức của con người về một chủ đề, sự vật, hiện tượng hoặc khía cạnh diễn ra trong thế giới khách quan. Là sản phẩm trí tuệ, lưu trữ tinh hoa của nhân loại trong suốt chiều dài lịch sử của loài người.
Do đó, tính giá trị của nguồn lực thông tin được đảm bảo khi nó được đưa vào sử dụng trong hoạt động thực tiễn của con người. - Tính thời sự: Tính thời sự của nguồn lực thông tin thể hiện ở tính mới của thông tin được phản ánh trong vật mang tin.