Chương 1: Thư viện trường Đại học Ngoại thương Hà Nội với công tác phục vụ người dùng tin Chương 2: Thực trạng công tác phục vụ người dùng tin tại Thư viện trường Đại học Ngoại thương Hà Nội Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng công tác phục vụ người dùng tin tại Thư viện trường Đại học Ngoại thương Hà Nội. 13 Chuong 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE CONG TAC PHUC VU NGƯỜI DUNG TIN TAI THU VIEN TRUONG DAI HQC NGOAI THUONG HA NOI 1 Những vấn đề chung về công tác phục vụ người dùng tin 1. Khái niệm người dùng tin Hiện nay ở Việt Nam xuất hiện một số thuật ngữ khác nhau đề chỉ người dùng tin như: bạn đọc, độc giả, người sử dụng thư viện, người sử dụng, khách hàng, người dùng tin. Ở các nước phương Tây, người dùng tin cũng được gọi bằng một số thuật ngữ khác nhau như: Library user (người sử dụng.
thư viện), Information user (người dùng tin), Client (khách hàng), Customer (khách hàng), Patron (khách hàng), User (người sử dụng), Reader (người đọc). Các thuật ngữ trên được sử dụng trong những ngữ cảnh khác nhau và với mục đích khác nhau. Trong môn học này chúng ta thống nhất gọi những. người sử dụng dịch vụ thông tin thư viện là người dùng tin (information user).
Người dùng tin hay còn gọi là người hưởng thụ dịch vụ thông tin thư viện. Do tính chất không tách rời giữa quá trình tạo ra và cung cấp dịch vụ, nên người dùng tin là một yếu tố cấu thành của hệ thống cung cấp dịch vụ. Không có người dùng tin thì không có dịch vụ thông tin thu viện. Người dùng tin là một trong bốn yếu tố cấu thành cơ quan thông tin thư viện, là yếu tố cơ bản của mọi hệ thống thông tin thư viện.
Đó là đối tượng phục vụ của công tác thông tin thư viện. Người dùng tin vừa là khách hàng của các dịch vụ thông tin, đồng thời họ cũng là người sản sinh ra thông tin mới, như vậy NDT cũng là những đối tác của các cơ quan TT-TV. Người dùng tỉn giữ vai trò quan trọng trong các hệ thống thông tin. Họ như là yếu tố tương tác hai chiều với các cơ quan TT-TV.
Điều đó được thể hiện trên khía 14 cạnh sau : Trước tiên NDT là người tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ thông. Người dùng tin luôn là cơ sở để định hướng các hoạt động các cơ quan TT-TV sao cho hiệu quả và phù hợp nhất với nhu cầu của NDT. Trong hoạt động của các cơ quan TT-TV muốn tồn tại và phát triển phải quan tâm đến nhu cầu của NDT. Nhu cầu tin của NDT là nguồn gốc của các hoạt động của các cơ quan TT-TV.
Ta có thể thấy trong bốn yếu tố cấu thành thư viện thì NDT là yếu tố trọng tâm. So với các yếu tố còn lại đó là vốn tài liệu, cán bộ thư viện và cơ sở vật chất. Thư viện chỉ có thể trở thành thư viện khi nó bắt đầu phục vụ NDT. Người dùng tin đã đưa toàn bộ cơ chế của các mối quan hệ lẫn nhau giữa vốn tài liệu , cán bộ thư viện và cơ sở vật chất vào hoạt động.
Người dùng tin là trung gian, là cầu nối giữa các yếu tổ trên. Khái niệm nhu cầu tin Nhu cau tin (Information need” là vấn đề nghiên cứu quan trọng trong. lĩnh vực thông tin thư viện trong nhiều thập kỷ qua. Nhu cau tin rất khó dé định nghĩa, nghiên cứu, định lượng hoặc đo lường.
Nhu cầu tin thường là kết quả của những vấn đề chưa được giải quyết. Theo Case (2007), nhu cầu tin là sự nhận ra kiến thức của mình không đủ để đáp ứng một mục tiêu mà mình có. Nhu cầu có thể tăng lên khi cá nhân nhận ra rằng tình trạng hiểu biết của họ không đủ để đối phó với nhiệm vụ trong tay để giải quyết những xung đột trong lĩnh vực nào đó hoặc đề lấp đầy khoảng trống hiểu biết về vấn đề nào. Nicholas va Herman (2009) @) quan sat thay rang khi con người trải qua một vấn đề hoặc khó khăn hoặc khi chịu một áp lực nào đó mà họ được yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, giải quyết một vấn đề, đi đâu đó hoặc mua cái gì đó - nhu cầu nhận thức và cảm xúc của họ có thể được đáp ứng đầy đủ hoặc một phần qua việc có được và sử dụng thông tin.
(2007), Lo ing for information: a survey of research on information seeking, needs and behaviour, 2nd ed, Amste 2 Nicholas, D. and Herman, (2009) Assessing information needs in the age of the digital consumer, 3" edn, Routledge. 15 Theo quan điểm của tâm lý Maexit, có thể coi nhu cầu tin là đòi hỏi khách quan của con người (cá nhân, nhóm, xã hội) đối với việc tiếp nhận và sử dụng thông tin, nhằm duy trì hoạt động sống của con người. Khi đòi hỏi về thông tin con người trở nên cấp thiết thì nhu cầu tin xuất hiện.
Nhu cầu tin là một dạng của nhu cầu tỉnh thần, nhu cầu bậc cao của con người. NCT nảy sinh trong quá trình thực hiện các hoạt động khác nhau của con người. Thông tin về đối tượng hoạt động, về môi trường và phương tiện hoạt động là yếu tố quan trọng tạo nên hiệu quả hoạt động của con người. Bất kỳ hoạt động nào muốn dat được kết quả tốt đẹp cũng cần phải có thông tin đầy đủ.
Hoạt động càng phức tạp nhu cầu được cung cấp thông tin (về đối tượng hoạt động, về môi trường hoạt động. Như vậy NCT của mỗi cá nhân không giống nhau, càng tham gia nhiều hoạt động khác nhau, NCT cảng đa dạng, phức tạp, đòi hỏi được đáp ứng tin ở mức độ cao hơn. Đồng thời, NCT phát triển cao lại tác động trở lại tới sự phát triển các hoạt động sản xuất, góp phần phát triển xã hội. Nhu cau tin 14 yéu tố quan trọng tạo nên động cơ hoạt động thông tin, vì vậy có thể coi là nguồn gốc tạo ra hoạt động théng tin.
Khái niệm công tác phục vụ người dùng tin Trong cơ quan thông tỉn thư viện có nhiều khâu công tác khác nhau như: bổ sung tài „ xử lí t tổ chức thông tin, tổ chức kho sách và tô chức phục vụ người dùng tỉn, trong đó công tác phục vụ người dùng tin luôn được xem là khâu “trung tâm” bởi vì tắt cả các khâu công tác khác đều nhằm. đến mục đích cuối cùng là thỏa mãn tối đa nhu cầu đọc, nhu cầu tin của người dùng tin. Công tác này có nhiệm vụ tìm hiểu nhu cầu đọc, nhu cầu tin của người dùng tin, tổ chức các dịch vụ thông tin thư viện, thực hiện tuyên truyền hướng dẫn người dùng tin. Trong hoạt động thông tin - thư viện, nâng cao chất lượng phục vụ người dùng tin luôn là nhiệm vụ trọng tâm đảm bảo cho 16 cơ quan thông tin thư viện trở thành một môi trường thật sự thân thiện phục.
vụ các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học và giải trí cho người dùng tin. Đây là khâu cuối cùng nhưng đồng thời là khâu then chốt. Kết quả của hoạt động phục vụ người dùng tin chính là thước đo hiệu quả hoạt động của các thư viện. Công tác phục vụ NDT là tổng thể các biện pháp về tổ chức, các quá trình tâm lí sư phạm, đây là công việc khoa học liên quan đến giáo dục, xã hội học và tâm lí học cá nhân.
Trong quá trình phát triển những mối liên hệ đó đã hình thành những phương hướng mới trong lí luận của về công tác phục vụ người dùng tin. Tác giả Lê Văn Viết trong cuốn “Cẩm nang nghề thư viện” [23, Tr 370] cũng đã định nghĩa hoạt động phục vụ người dùng tin như sau “Phục vụ NDT là hoạt động của thư viện nhằm tuyên truyền và đưa ra các dạng tài liệu hoặc là bản sao của chúng, giúp đỡ người đến thư viện trong quá trình lựa chọn và sử dụng tài liệu đó. Công tác này được xây dựng trên sự kết hợp các quá trình liên quan chặt chẽ với nhau của việc phục vụ thư viện, phục vụ thông tin tra cứu”. Trong thực tiễn hiện nay quá trình hoạt động của các cơ quan TT-TV thì đối tượng và mục tiêu phục vụ chính là NDT.
Công tác phục vụ NDT không chỉ giới hạn ở việc đưa tài liệu, thông tin cho họ, mà công tác phục vụ đó còn có những múi liên t chẽ với các nhiệm vụ chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế của đất nước, với hệ thống giáo dục quốc dân. Nhiệm vụ của công tác phục vụ là tạo mọi điều kiện giúp cho NDT có thẻ tiếp cận và khai thác nguồn thông tin đa dạng và phong phú không chỉ của chính cơ quan thong tin thư viện đó mà còn của các cơ quan TT-TV khác. Như vậy theo ý kiến của cá nhân trong luận văn ta có thể sử dụng định nghĩa về công tác phục vụ người dùng tin một cách thống nhất và đầy đủ như sau: “Công tác phục vụ người dùng tin là một hoạt động của cơ quan thông tin 17 thư viện nhằm thúc đây, phát triển và thỏa mãn tối đa nhu cầu sử dụng thông. tin tai liệu của người dùng tỉn, thông qua việc tuyên truyền, hướng dẫn và cung cấp tài liệu dưới các hình thức khác nhau.
Công tác phục vụ người dùng. tin có thể bao gồm các hình thức tô chức, phục vụ ở trong hoặc ngoài cơ quan thông tin thư viện. Công tác phục vụ người dùng tin chính là thước đo hiệu quả hoạt động của mọi cơ quan thông tỉn thư viện”. Các yếu tố tác động tới công tác phục vụ người dùng tin tại Thư viện Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội Trong hoạt động thông tỉn - thư viện, công tác phục vụ NDT chịu sự tác động của nhiều yếu tố: ~ Tài nguyên thông tin Trong cuốn “Thông tin: Từ lý luận tới thực tiễn”, tác giả Nguyễn Hữu Hùng đã đưa ra khái niệm nguồn lực thông tin như sau: “Nguồn lực thông tin là các dữ liệu thể hiện dưới dạng văn bản, số, hình ảnh, âm thanh được ghi lại trên phương tiện theo quy ước, các sưu tập, những kiến thức của con người, những kiến thức của tổ chức có thể truy cập và có giá trị cho người sử dụng”.
Theo định nghĩa này, tài nguyên thông tin được hiểu là những thông tin được. tổ chức có cấu trúc, có khả năng truy cập, khai thác và có giá trị sử dụng trong. hoạt động thực tiễn của con người [10, tr. Tài nguyên thông tin có ý nghĩa hết sức quan trọng, được coi là yếu tố đầu tiên để cầu thành thư viện.