CHƯƠNG 1 TO CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN-THƯ VIỆN TẠI ĐẠI HỌC HOA LƯ TRƯỚC YÊU CÀU ĐÔI MỚI GIÁO DỤC ĐÀO TẠO. Cơ sở lý luận về tổ chức và hoạt động. Khái niệm tổ chức “Trên thực tế, hầu như mọi người đều không để ý tổ chức là gì, vì đó là một thứ vô hình. Tổ chức chỉ được đề cập đến khi chúng ta cần thiết lập một thể chế, một cơ quan (bộ phận, đơn vị) để triển khai thực hiện một hoạt động nào đó nhằm vào mục tiêu chung nhất định.
Đó là quá trình tiếp nhận và sắp. xếp nguồn lực theo những cách thức nhất định nhằm hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra theo kế hoạch. “T6 chức” gồm việc sử dụng thích hợp các nguồn lực (vật lực, tài lực, nhân lực) nhằm đạt được mục tiêu chung của một cơ quan (bộ phận, đơn vị) cụ thể. Thông thường, một tổ chức được thiết lập là để phục vụ cho một nhu.
cầu hay một mong muốn nào đó của con người đề thực hiện và quản lý các hoạt động đặt ra. Nói cách khác, “7 che" là một công cụ được sử dụng bởi con người để kết hợp các hành động lại tạo ra một giá trị, hay đúng hơn là đạt được mục tiêu của mình [12]. “?ổ chức” thường là những công việc hạt nhân khởi đầu để hình thành một thê chế, một cơ quan (bộ phận, đơn vị) và giữ vai trò cực kỳ quan trọng, quyết định sự thành công trong quản lý. Vậy khái niệm “7ổ chứ" là gì? Là một hệ thống, cơ quan (đơn vị), cộng đồng? hay một chức năng quản trị? Trả lời câu hỏi này tuỳ thuộc vào quan điểm tiếp cận vấn đề của các tác giả mà khái niệm “Tổ chức" được đưa ra với nhiều nội dung định nghĩa khác nhau.
Trong các giáo trình [6, 7] đã đưa ra một số định nghĩa của khái niệm “Tổ chức” khác nhau như: Theo Phrumin LM., chuyên gia Liên Xô, “7ổ 16 chức" là hình thức để tạo lập và duy trì trật tự của một hệ thống nảo đó. Theo Từ điển Việt Nam, *7ổ chức” là sự xếp đặt, bố trí các mối quan hệ giữa các bộ phận với nhau. Quan điểm của các giáo sư thuộc Học viện Hành chính Quốc gia Việt Nam xem xét khái niệm “7ổ chức” trên góc độ khoa học về sự thiết lập các mối quan hệ giữa con người với nhau, nhằm mục đích quản lý tốt đối tượng của mình. Theo Từ điển tiếng Việt (Viên Ngôn ngữ học, Hoàng Phê chủ biên), khái niệm tổ chức được xem xét với ba định nghĩa sau: (1) Làm cho thành một chỉnh thể, có một cấu tạo, một cấu trúc và những chức năng chung nhất định; (2) Làm những gì cần thiết đề tiến hành một hoạt động nào đó nhằm có được hiệu quả tốt nhất; (3) Tập hợp người được tổ chức lại, hoạt động vì những quyền lợi chung, nhằm mục đích chung [41, tr.
Theo Từ điển tiếng Việt do tác giả Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm chỉnh lý và bổ sung thì khái niệm tô chức được định nghĩa như sau: Sắp xếp các bộ phận cho ăn nhịp với nhau đề toàn bộ là một cơ cấu nhất định [22, tr. Như vậy, có thể nói, tuy có các biểu đạt nội dung của khái niệm “7đ. chức” khác nhau, nhưng bản chất không có sự khác nhau. Theo đó, “7 chức” được hiểu là một thực thể sống, vận động và phát triển.
Ví dụ, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước hay tổ chức chính trị - xã hội. Khái niệm “Zổ chức”, theo cách tiếp cận khác, được hiểu theo hai nghĩa: Trạng thái tĩnh và trạng thái động. ‘Theo trang thai tĩnh: Khái niệm “7 chức" được hiểu là một thể chế, một cơ quan được thiết lập nhằm một mục đích cụ thể. ‘Theo trang thai động: Khái niệm “7ổ cứe" được hiểu là quá trình tổ chức, nghiên cứu sự phân bố, phân công các thành viên của tổ chức.
Quá trình này gồm: Xác lập nhiệm vụ; phân công người thực hiện nhiệm vụ; xác định chức trách, quyền hạn của các cá nhân, các bộ phận; quy định mối liên hệ giữa các cá nhân và bộ phận khi tiến hành công việc [13]. 17 Tóm lại: Tô chức là thực hiện các công việc nhằm tạo ra một cơ cấu bộ máy thích hợp với mục tiêu, nguồn lực và môi trường vận động của một thiết chế, cơ quan (đơn vị, bộ phận) nhất định để đạt được mục tiêu chung của bản thân thiết chế, cơ quan (đơn vị, bộ phận) đó. Trên cơ sở tham khảo các nội dung định nghĩa trên, có thể xác định khai nigm “76 chitc” cho hoạt động thông tin-thư viện như sau: Tạo lập cơ cấu bộ máy theo một hệ thống (cấu trúc) thích hợp với các đơn vị (bộ phận, phòng, ban) tương ứng với chức năng và nhiệm vụ đã định, đồng thời thiết lập các mối quan hệ giữa các cá nhân trong bộ máy đó, nhằm mục đích quản lý, duy trì và phát triển cơ quan thư ên hoặc trung tâm thông tin-thư đảm bảo cho cơ quan thông tin-thư viện đó hoạt động như một hệ thống thống nhất với các mối quan hệ tương tác bên trong và bên ngoài hệ thống. Trên góc độ này, cơ cấu tổ chức bộ máy cho triển khai hoạt động thông tin-thu viện có liên quan việc xác lập chức năng nhiệm vụ; xác định chức trách, quyền hạn của mỗi cá nhân trong từng bộ phận (đơn vj); quy định mối liên hệ tương tác giữa các cá nhân và bộ phận khi tiến hành thực hiện công việc; đảm bảo đáp ứng nguồn nhân lực, tài chính và cơ sở vật chất cho thực hiện nhiệm vụ, nhằm đạt được mục tiêu của cơ quan thông tin-thư viện nói chung là: Lưu trừ và bảo quản các di sản văn hóa đã được tích lũy trong các thư viện; đáp ứng tối đa nhu cầu tin của xã hội.
Trong quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động Thư viện đại học (ban hành kèm theo quyết định số 13/2008/QD - BVHTTDL ngày 10 tháng 3 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) xác định thư viện các trường đại học là một đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của trường đại học với các bộ phận (phòng, ban) tương ứng với chức năng và nhiệm vụ về nghiệp vụ chuyên môn [19]. Khái niệm hoạt động Trên quan điểm triết học, khái niệm “ðoạr động” được hiểu là một phương pháp đặc thù của con người trong mối quan hệ với thế giới xung. quanh nhằm cải tạo thế giới theo hướng phục vụ tốt hơn cho cuộc sống của. Trong mối quan hệ ấy, chủ thể của hoạt động là con người, khách thể của hoạt động là tất cả những gì mà hoạt động tác động vào, qua đó tạo ra được sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể.
Mục đích trên đây thể hiện trong nhiều lĩnh vực và trên nhiều dạng hoạt động khác nhau: Kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, giáo dục,. Hoạt động bao giờ cũng mang tính lịch sử qua các thời đại khác nhau [9, tr. Trong mồi quan hệ với tổ chức, khái niệm “oqr động” được các tác giả 'Văn Tân và Nguyễn Văn Đạm đưa ra là toàn bộ những việc làm của một tổ chức, có liên quan với nhau để qui vào một mục đích chung, thường trong một lĩnh vực nhất định [22, tr. 780] Theo Từ điển tiếng Việt của Viên Ngôn ngữ học, do Hoàng Phê chủ biên, khái niệm “ðoạr động” được hiểu là tiến hành các việc làm có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm đạt được một mục đích nhất định trong đời sống xã hội [41, tr.
1007] Theo dé, có thể hiểu khái niệm “hoạ động” là tiến hành thực hiện các nhiệm vụ có liên quan mật thiết với nhau theo chức năng để đạt được mục tiêu chung của một tổ chức (cơ quan, đơn vị) nhất định. Như vậy, là một thiết chế văn hóa, giáo dục và thông tin, Thư viện có chức năng lưu giữ và phổ biến giá trị vốn tài liệu đến với công chúng nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin, học tập, nghiên cứu và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân, góp phần quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đảo tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [18] 19 Trên cơ sở này, có thể xác định khái niệm “hoạ động” trong lĩnh vực thông tin-thư viện là tiến hành toàn bộ các công việc thuộc chức năng và nhiệm vụ có liên quan mật thiết với nhau về chuyên môn nghiệp vụ thông tin- thư viện của một thư viện hay trung tâm thông tin-thư viện. Bao gồm: Xây dựng và phát triển vốn tài liệu; tổ chức xử lý nghiệp vụ; tổ chức và bảo quản vốn tài liệu; xây dựng bộ máy tra cứu tin; tổ chức phục vụ bạn đọc. Nếu tiếp cận từ góc độ dây chuyền thông tin tư liệu, thì hoạt động thông tin-thư viện chính là khái niệm hoạt động thông tin khoa học, được trình bày trong Nghị định số 159/2004/NĐ-CP của Chính phủ, ngay 31-8- 2004 về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ [14].
Đó là hoạt động nghiệp vụ về tìm kiếm, thu thập, xử lý, lưu trữ và phô biến thông tin. hoạt động này chính là sự cụ thể hóa chức năng và nhiệm vụ về chuyên môn nghiệp vụ được giao cho cơ quan thư viện hoặc trung tâm thông tin-thư viện. Từ thập kỷ 70 đến nay do tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, đặc biệt là công nghệ thông tin, truyền thông, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới. đã làm thay đổi sâu sắc toàn cảnh nền kinh tế thế giới về cơ cấu tổ chức, chức năng và phương thức hoạt động.
Đây là bước ngoặt mang tính lịch sử, trọng đại của nhân loại Chuyển từ nền văn minh công nghiệp sang nền văn minh thông tin. Trong đó, nền kinh tế tri thức đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp hàng đầu. Trên tư cách là một phân ngành kinh tế trí thức quan trọng, tổ chức hoạt động thông tin-thư viện đã có những chuyền biến căn bản, phù hợp với bối cảnh hiện tại và xu thế toàn cầu hoá trên thế giới. Thuộc thành phần trong.
kết cấu hạ tầng thông tin của xã hội, hoạt động thông tin-thư viện đã và đang định hướng tích cực vào xã hội thông tỉn và tri thức, trợ giúp đắc lực cho sự phát triển kinh tế xã hội của mọi quốc gia.