CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THƯ VIỆN 1. Một số khái niệm: 1. Quản lý Hiện nay có rất nhiều khái niệm về quản lý. Mỗi khái niệm về quản lý là một cách nhận biết, một cách hiểu, một cách nhận thức về bản chất của quản lý theo một quan điểm, theo một phương pháp tiếp cận.
Do đó, chúng ta có một số khái niệm về quản lý như sau: - Theo quan điểm dân gian của người Việt Nam Quản lý là lo liệu: từ xưa tổ tiên của chúng ta đã nhận biết được bản chất của quản lý, đánh giá cao vai trò của công việc quản lý trong việc tổ chức, giao nhiệm vụ cho một số người thực hiện. Tục ngữ Việt Nam có câu ”Một người lo hơn kho người làm”. Hiểu theo theo tục ngữ này, trong quá trình giải quyết một việc chung thì sự lo liệu, tính toán, sắp xếp còn quan trọng hơn nhiều so với việc so với việc dùng sức của nhiều người mà lại không biết tính toán sắp xếp hợp lý. Lo để có việc làm trong điều kiện cạnh tranh, người khôn của khó; lo đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất để thực hiện; lo điều hành phối hợp các hoạt động để hoàn thành sản phẩm chất lượng và đúng thời hạn theo yêu cầu; lo phân chia và sử dụng hợp lý thành quả thu được thành của ăn, của để một cách hợp lý.
Đối với công việc chung, người biết tính toán, lo toan, có tầm nhìn,.v… giữ vai trò đặc biệt quan trọng. - Theo quan điểm hiện đại Quản lý về cơ bản và ưu tiên là tác động đến con người (tập thể con người) để hoàn thành nhiệm vụ chung. Quản lý là ràng buộc (đưa ra phương án 10 và thực thi) một cách thông minh, tế nhị việc thỏa mãn nhu cầu cho con người với việc con người đem năng lực thực hiện công việc được giao. Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết phối hợp các hoạt động của cấp dưới.
Quản lý là thiết lập, khai thông các quan hệ cụ thể để hoạt động chung được hình thành, tiến hành thuận lợi, đạt hiệu quả cao và không ngừng phát triển. Quản lý là chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý một cách gián tiếp và trực tiếp nhằm thu được những diễn biến thay đổi tích cực. Chủ thể quản lý có thể tác động lên đối tượng quản lý theo nhiều cách thức, biện pháp khác nhau như: đưa ra mục tiêu, động cơ phấn đấu, hướng hoạt động để con người thực hiện; đưa ra những ràng buộc giữa làm và lợi ích để con người lựa chọn, cân nhắc, quyết định tham gia; kiểm tra và giám sát để giúp con người làm việc nghiêm túc, kỷ cương; thực hiện chế độ khen thưởng thỏa đáng để con người phát huy sáng kiến, xử phạt nghiêm minh để con người không vi phạm; con người luôn có mong muốn, hướng tới hoạt động để có nguồn sống và các điều kiện phát triển; tác động của chủ thể quản lý hợp lý, đúng đắn thì ở đối tượng quản lý có một số diễn biến thay đổi tích cực. Quản lý được Các Mác coi như là chức năng đặc biệt, sinh ra từ tính chất xã hội hóa hoạt động.
Các Mác viết về sự cần thiết của quản lý như sau:”Bất kỳ một lao động xã hội hay cộng đồng nào, được tiến hành trên qui mô tương đối lớn cũng đều có cần sự quản lý, nó xác lập mối quan hệ hài hòa giữa các công việc riêng rẽ và thực hiện chức năng chung nhất, xuất phát từ sự vận động của toàn bộ cơ cấu sản xuất (khác với sự vận động của từng bộ phận độc lập trong 11 nền sản xuất ấy). Một nghệ sĩ chơi đàn, chỉ phải điều khiển chính mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [21, tr. Thế kỷ 21, quan niệm về quản lý lại càng phong phú hơn, các học giả phương Tây đã đưa ra những quan niệm về quản lý như sau: - Tailor: "Làm quản lý là bạn phải biết rõ: muốn người khác làm việc gì và hãy chú ý đến cách tốt nhất, kinh tế nhất mà họ làm" - Fayel: "Quản lý là một hoạt động mà mọi tổ chức (gia đình, doanh nghiệp, chính phủ) đều có, nó gồm 5 yếu tố tạo thành là: kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, điều chỉnh và kiểm soát. Quản lý chính là thực hiện kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát ấy”.
- Hard Koont: "Quản lý là xây dựng và duy trì một môi trường tốt giúp con người hoàn thành một cách hiệu quả mục tiêu đã định". - Peter F Druker: "Suy cho cùng, quản lý là thực tiễn. Bản chất của nó không nằm ở nhận thức mà là ở hành động; kiểm chứng nó không nằm ở sự logic mà ở thành quả; quyền uy duy nhất của nó là thành tích". Dalark: "Định nghĩa quản lý phải được giới hạn bởi môi trường bên ngoài nó.
Theo đó, quản lý bao gồm 3 chức năng chính là: Quản lý doanh nghiệp, quản lý giám đốc, quản lý công việc và nhân công". Qua phân tích và tìm hiểu khái niệm quản lý đã chỉ rõ cho chúng ta thấy mọi hoạt động quản lý đều phải do năm yếu tố cơ bản sau cấu thành: Chủ thể quản lý: do ai quản lý? Khách thể quản lý: quản lý cái gì? Mục đích quản lý: quản lý vì cái gì? Môi trường và điều kiện tổ chức: quản lý trong hoàn cảnh nào? 12 Biện pháp quản lý: quản lý bằng cách nào? [29, tr. Tóm lại, quản lý là một hoạt động thiết yếu; nó đảm bảo phối hợp những nổ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất, và sự bất mãn cá nhân ít nhất.
Với tư cách thực hành thì cách quản lý là một nghệ thuật; còn kiến thức tổ chức về quản lý là một khoa học. Quản lý là một hệ thống mở hoạt động bên trong môi trường và tác động qua lại với nó. Khi áp dụng lý thuyết vào quản lý, những người quản lý luôn luôn xử lý những tình huống thực tế. Điều này đôi khi được gọi là sự quản lý theo điều kiện hoặc theo tình huống [38, tr.
Thư viện và Hoạt động thư viện Thư viện Có nhiều khái niệm về thuật ngữ thư viện, theo tác giả có hai định nghĩa được nêu dưới đây là phù hợp nhất với quốc tế và Việt Nam: - Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO) định nghĩa: “Thư viện không phụ thuộc vào tên gọi của nó, là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ hoặc các tài liệu khác, kể cả đồ họa, nghe nhìn và nhân viên phục vụ có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng các tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu khoa học giáo dục hoặc giải trí” [65, tr. - Pháp lệnh thư viện năm 2001 trong điều 1, qui định về chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu của thư viện nêu rõ: “Thư viện là nơi giữ gìn di sản thư tịch của dân tộc, thu thập, tàng trữ, tổ chức việc khai thác và sử dụng chung vốn tài liệu trong xã hội nhằm truyền bá tri thức, cung cấp thông tin phục vụ cho nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giả trí của mọi tầng lớp nhân dân; góp phần 13 nâng cao dân trí, đào tạo nhân sự, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học công nghệ, kinh tế, văn hóa, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [18]. Hoạt động thư viện Trong phạm vi hoạt động của một thư viện bao gồm nhiều khâu công việc khác nhau. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thư viện Quốc Gia Việt Nam; thư viện tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; thư viện huyện, quận, thị xã trực thuộc tỉnh [40, tr.157-184] sẽ có các phòng có phương thức hoạt động khác nhau, có các nhân viên thực hiện những nhiệm vụ khác nhau.
Nhưng giữa các bộ phận và giữa các nhân viên có mối quan hệ lẫn nhau. Căn cứ vào pháp lệnh Thư viện, Chương III Tổ chức và hoạt động của Thư viện, điều 9, điều 13 đến điều 16 và Chương IV Đầu tư phát triển thư viện [40, tr.26-29, 32-34], đã nêu ra mối quan hệ của mọi hoạt động thư viện thể hiện ở nội dung sau: - Xây dựng vốn tài liệu: Xây dựng vốn tài liệu nhằm tạo lập, tăng cường và nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin của thư viện đáp ứng nhu cầu đa dạng và luôn thay đổi của người sử dụng. Việc xây dựng vốn tài liệu thư viện phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quy mô, loại hình thư viện và nhu cầu của đối tượng người sử dụng mà thư viện có trách nhiệm phục vụ. - Xử lý tài liệu: Tài liệu bổ sung vào thư viện được xử lý theo quy tắc, quy trình của nghiệp vụ thư viện để phục vụ cho việc quản lý, tra cứu và sử dụng.
Việc xử lý tài liệu phải tuân thủ theo các quy tắc, quy chuẩn của nghiệp vụ thư viện Việt Nam và quốc tế; tận dụng kết quả xử lý nội dung tài liệu của các 14 thư viện lớn, đầu ngành để bảo đảm tính chính xác, thống nhất và tiết kiệm thời gian, công sức và kinh phí của thư viện. - Tổ chức bộ máy tra cứu: Bộ máy tra cứu của thư viện giúp người sử dụng tra cứu, tìm thông tin, tài liệu có ở trong hoặc ngoài thư viện. Bộ máy tra cứu phải được tổ chức khoa học, chính xác, thống nhất, phản ánh đầy đủ các tài liệu có trong thư viện, cập nhật kịp thời các tài liệu mới bổ sung vào thư viện; tiếp cận được với nguồn thông tin, tài liệu bên ngoài thư viện; đồng thời dễ tra cứu đối với người sử dụng. - Tổ chức tài liệu: Tổ chức tài liệu để xác định vị trí của tài liệu trong thư viện giúp cho công tác quản lý, bảo quản và phục vụ người sử dụng được nhanh chóng, dễ dàng, thuận tiện.
Bảo đảm thuận lợi cho việc phục vụ người sử dụng và bảo quản, giữ gìn an toàn cho tài liệu. - Bảo quản tài liệu: Thực hiện việc bảo quản tài liệu để có thể sử dụng được lâu dài, góp phần tiết kiệm ngân sách nhà nước.