chương I: “Các loại hình gây quỹ và các nguồn tài trợ”. ? Trong tiếng Anh từ Fundraising hay Development đều có nghĩa là gây quỹ hay phát triển các nguồn quỹ, còn từ “Sponsorship” (tài trợ) là một phân loại thuộc gây quỹ chỉ tài trợ của các doanh nghiệp cho nghệ thuật, vì thế gây quỹ và tìm tài trợ là cách nói bổ sung lẫn nhau, làm rõ nghĩa từ “Gây quỹ”, vốn là một từ mới được du nhập vào Việt Nam. * Botting, N & Norton, M(4° edition),2001, The complete Fundraising Handbook (“Cim nang gây quỹ trọn ven”), Director of Social Change, London. họ được sử dụng một cách hữu ích nhất'.
Chính vì vậy, đề gây quỹ và tìm tài trợ thành công, các tô chức nghệ thuật phải quan tâm nhiều hơn đến môi trường kinh tế - xã hội cũng như kinh doanh. Họ phải chứng tỏ được hiệu quả hoạt động của tổ chức dé có thé thuyết phục được nhà tài trợ, thông qua các chỉ số và kết quả hoạt động hoặc chứng minh được vai trò và tầm quan trọng của tổ chức, Các thành tựu và mô tả về tổ chức cần được nhìn nhận như một loại “tài sản” chiến lược cho công tác gay quỹ và tìm tài trợ”. Vì vậy, gây quỹ và tìm tài trợ có mối liên hệ mật thiết đến các hoạt động khác của tô chức như lên chương trình, phát triển khán giả hay các hoạt động giáo dục nghệ thuật cho công chúng. Hơn nữa, muốn gây quỹ và tim tài trợ thành công thì tổ chức cần phải xác định được sứ mệnh” (hay tôn chí hoạt động) và mục tiêu của mình, dựa trên cơ sở phân tích tình huống một cách thấu đáo (bao gồm việc phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức hay còn gọi là phân ích SWOT').
Gây quỹ thành công cũng cần dựa trên sự phân tích về tương quan giữa quan tâm của nhà tài trợ với lĩnh vực hoạt động của tô chức định gây quỹ, sự tương ứng giữa phân khúc khán giả của doanh nghiệp tài trợ với phân khúc khán giả của tổ chức văn hoá nghệ thuật, cũng như việc quản lý nguồn ROE sau „ quỹ hiệu quả, duy trì và phát triển môi quan hệ bền vững với nhà tài trợ. Gây quỹ không chỉ đòi hỏi kiến thức và kỹ năng chuyên môn, mà hơn nữa là lòng nhiệt tình cũng như cam kết tận tụy của ban lãnh dao. Dé thu hút thêm tài trợ, tổ chức cần đảm bảo họ có khả năng tạo thu nhập từ nhiều nguồn khác nhau, ví dụ như khi tài trợ cho các dự án văn hóa nghệ thuật của các tổ chức nghệ thuật công, nhiều quỹ nước ngoài thường ° “Không ai đem tiền cho thứ mà anh ta chưa từng biết tới hoặc là chẳng hiểu gì về nó. hoặc là đem tiền cho thứ mà anh ta biết mà không thích” (Jones, M 1987 Effective Fundraising for today, M.
Consultants Pty Ltd, Sydney, Australia, trang 6). ? William Werther, 2001, Fundraising, Washington DC: Georgetown University Press, trang 190. * Sir m@nh 1a sy nhìn nhận về những mục đích quan trọng nhất của tổ chức, có tính khả thỉ đồng thời thể hiện định hướng của của tổ chức. Tuyên ngôn sứ mệnh cần truyền đạt được tính độc đáo của tổ chức so với các tổ chức khác (Theo Gerris Morris trong cuốn Án Introduction to Strategic Marketing (Giéi thiệu về marketing chiến lược).
Tài liệu bài giảng trong Dự án: “Xây dựng giáo trình văn hóa nghệ thuật trong cơ chế thị trường ở Việt Nam (2002-2004)”, Hà Nội, 3/2004, 59 trang).§WOT là viết tắt chữ cái đầu tiên của các từ tiếng Anh: Strengths (Điểm mạnh), _ Weaknesses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ hội), Threats (thách thức). ä muốn có vốn đối ứng từ đơn vị Việt Nam, chứ không muốn tài trợ toàn bộ. Họ coi vốn đôi ứng của cơ quan chủ quản hoặc ngân sách bô sung từ nguồn khác của tô chức thể hiện tỉnh thần tham dự và trách nhiệm của đơn vị được nhận tài trợ. Trong một số trường hợp, các tổ chức đã xin được tài trợ càng có cơ hội tìm thêm các nguồn tài trợ khác, vì các nhà tài trợ thường đặt niềm tin nhiều hơn vào họ.
Gây quỹ và tìm tài trợ còn góp phân tích cực phát triển các đối tác, các liên minh có lợi hay những người ủng hộ cho tổ chức. Các hoạt động đóng Bóp, hỗ trợ, biếu tặng, tài trợ hay bảo trợ. của các đối tượng sẽ làm tăng cơ hội hợp tác và gắn kết giữa tổ chức nghệ thuật với các cá nhân và cộng đồng'. Thông qua gây quỹ và tìm tài trợ, tổ chức có thể mở rộng phạm vi và mạng lưới làm việc của mình.
Gây quỹ cũng góp phần đây mạnh giao tiếp và trao đổi thông tin bên trong cũng như bên ngoài tổ chức, kích thích sự chia sẻ các nguồn lực, cũng như các kiến thức, kỹ năng, nhằm đạt được sự hiều biết và ủng hộ của các cá nhân và cộng đồng với tổ chức. Ở nhiều nước trên thế giới, gây quỹ và tìm tai tro da bd sung nguồn thu nhập đáng kề cho các tô chức văn hóa nghệ thuật. Tại Úc, nghiên cứu cho thấy vào năm 2002, 25% thu nhập của các tổ chức nghệ thuật lớn có được từ tài trợ của các cá nhân và doanh nghiệp, trong khi tỷ lệ này thấp hơn đối với các tô chức nghệ thuật nhỏ. Ở Mỹ, 30% tổng thu nhập cho lĩnh vực nghệ thuật là do các quỹ, doanh nghiệp và cá nhân làm từ thiện đóng góp, trong khi đó ở Anh lĩnh vực nghệ thuật nhận được 10% trong tông thu nhập từ gây quỹ”.
Ở Canada vào năm 2002, 15,3% thu nhập của các tô chức nghệ thuật biểu diễn có được từ tài trợ và biếu tặng, còn đối với bảo tàng con số này là 9,6%. Riêng tại Mỹ, gây quỹ và tài trợ đã trở. thành một hiện tượng, theo William Werther, 36% thu nhập của các tổ chức nghệ thuật biểu diễn có được là từ tài trợ, trong đó 80% nguồn thu này do tư nhân biếu tặng. Ở Anh, phần lớn thu nhập từ gây quỹ của tổ ° Khái niệm cộng đồng được xem là một tập hợp xã hội cùng chỉa sẻ văn hoá giống nhau như cách sống, các giá trị, các hoạt động và mục tiêu, quyền lợi và mối quan tâm chung.
Cộng đồng được hình thành trên cơ sở tương tác của một nhóm người. Bản chất của cộng đồng luôn tái định hình và biển đổi, với mức độ cố kết khác nhau. Thành viên của một nhóm này có thể cũng đồng thời là thành viên của nhóm khác, ví dụ một thành viên của cộng đồng các doanh nhân có thể cũng thuộc về cộng đồng những người yêu mến nghệ thuật. Z ? The Arts Council of England, 1997 New and alternative mechanisms for financing the arts, The Arts Council of England, London, trang vii.
1A chức nghệ thuật là do các doanh nghiệp và các quỹ tài trợ. Nghiên cứu ở Mỹ cho thấy vào năm 1998 các hộ gia đình có thu nhập thấp, trung bình và khá đóng góp từ 1,5% đến 2,0% thu nhập cá nhân cho từ thiện, trong khi các hộ gia đình giàu đóng góp nhiều hơn, từ 3% đến 5% tổng thu nhap!. Theo Té chtrc Giving USA 2007, 6 Mỹ. các lĩnh vực nhận được biếu tặng và tài trợ nhiều nhất gồm có: Tôn giáo (32,8%), giáo dục (13,9%), Dịch vụ phúc lợi xã hội (10%), văn hóa nghệ thuật (4,2%).
Sự tồn tại của các nguồn quỹ và các nhà tài trợ khác nhau cũng thúc day tính đa dạng trong văn hóa nghệ thuật, vì các mục tiêu, yêu cầu khác nhau của các nhà tài trợ. Ở Việt Nam trong những năm gần đây, sự phát triển nghệ thuật đương đại phần nào gắn với sự đóng góp và bảo trợ của các trung tâm văn hóa nước ngoài như Viện Goethe (Goethe Institut), Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội (LEspace ), Quỹ Phát triển và Trao đổi Văn hóa (The Culture Development and Exchange Fund) thuộc Đại sứ quán Đan Mạch, quỹ Ford (Ford Foundation) cũng như sự đóng góp của các cá nhân nghệ sỹ, các tô chức của Việt Nam có nguồn lực và tâm huyết với loại hình nghệ thuật này”. Tóm lại, gây quỹ và tìm tài trợ góp phần giúp các tô chức văn hóa nghệ thuật có thể huy động các nguồn lực khác nhau và đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Hơn nữa, thông qua các hoạt động gây quỹ và tìm tài — trợ, tổ chức có thê mở rộng mạng lưới làm việc, cải tiễn hiệu quả hoạt động và xây dựng một tô chức vững mạnh và năng động hơn.
VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ GÂY QUY VA TIM TAI TRG Ở MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THE GIGI VA VIET NAM TRCN Gây quỹ và tìm tài trợ không phải là một hoạt động mới xuất hiện mà đã có từ lâu trong lịch sử loài người. Vào thời Hy Lạp cổ đại, Pisistratus ‘Werther, William, 2001, Fundraising, Washington DC: Georgetown University Press, iene trang 186. 2 Bymes, William, 2009, Management and the Arts, Focal Press, Burlington, USA, trang 397. ? Tham khảo: (1) Đào Mai Trang, 2006, “Mỹ (huật đương đại Việt Nam liên ứng với thé giới - Nhìn từ Hà Nội” [http://nguhu.com/media/02/02/ 7cfcf9d21 e42b44076108044b386685b.doc]; (2) Như Huy, 2007.
“Nghệ thuật đương đại thành phd Hồ Chí Minh” [http:/www.com/htmls/weblogs detail vn.php? logid=140&f =lê&mon=0&ye=2007]; (3) Bùi Như Hương, 2008 “10 năm nghệ thuật đương đại Việt Nam” [http://viettems.php?option=com_content&view =article&id= 1241: xem-mi-kenh-truyn-hinh-th-gii-min-phi-tren-pc&catid=169: bai-nghieng-cuu& Itemid =196] (605? - 527 trước Công nguyên) đã chào đón các nghệ sỹ đến với cung điện của mình, khuyến khích nghệ thuật, âm nhạc, lễ hội, sân kháu, văn học cũng như thương mại và sản xuất. Pisistratus được biết đến trong sử sách như một nhà tài trợ đầu tiên cho nghệ thuật". Vào thời trung cổ, những người thợ thủ công và các nghệ sỹ đã nhận được sự bảo trợ của các vị vua chúa, tẦng lớp quý tộc hay các thầy tu đề sáng tạo nên các tác phẩm nghệ thuật mang màu sắc tôn giáo hoặc thể hiện uy quyền của đế chế. Các bức họa trên tường đã ra đời dưới sự bảo trợ của các nhà thờ Cơ đốc giáo.
Khi âm nhạc và kịch bị nhà thờ cắm vào thé ky thir tu, những người nghệ sỹ hát rong vần tiếp tục bảo tồn và phát triển các loại hình nghệ thuật này. Các ký hiệu âm nhạc đã được gìn giữ nhờ những tu sĩ vào thời đó và nhiều thế kỷ tiếp theo. Nhờ sự tận tuy và trung thành của các tu sĩ và những người hát rong, kịch và âm nhạc đã phát triển và hồi sinh vào cuối thế kỷ XVI như một loại hình nhạc kịch (tiếng Anh là “opera”).