Luận án Tiến sĩ: Quản lý Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới ở Việt Nam theo Công ước

Quản lý di sản thế giới ở Việt Nam theo Công ước UNESCO. Tìm hiểu các tiêu chuẩn bảo vệ, quy trình quản lý và hiệu quả của các di sản được ghi danh tại Việt

Chuyên ngành

Quản lý văn hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

253
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam

Quản lý di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam là lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong quản lý văn hóa. Công ước Di sản Thế giới được UNESCO thông qua năm 1972 đặt nền tảng pháp lý quốc tế cho việc bảo vệ các di sản có giá trị nổi bật toàn cầu. Việt Nam là thành viên của Công ước từ năm 1987. Đến nay, Việt Nam có nhiều di sản được UNESCO công nhận, bao gồm di sản văn hóa, thiên nhiên và hỗn hợp. Các di sản này trải dài từ Bắc vào Nam, phản ánh lịch sử, văn hóa và đa dạng sinh học phong phú. Việc quản lý di sản theo Công ước đòi hỏi sự phối hợp giữa các cấp chính quyền, cơ quan chuyên môn và cộng đồng địa phương. Nghị định số 109/2017/NĐ-CP quy định rõ trách nhiệm của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND cấp tỉnh và các ban quản lý di sản. Nghiên cứu tổng quan giúp hiểu rõ khung lý luận và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.

1.1. Cơ sở lý luận về quản lý di sản theo Công ước Di sản Thế giới

Công ước Di sản Thế giới 1972 xác định ba loại di sản: di sản văn hóa, thiên nhiên và hỗn hợp. Công ước nhấn mạnh trách nhiệm quốc gia trong việc xác định, bảo vệ, bảo tồn và truyền lại di sản cho thế hệ tương lai. Điều 4 và Điều 5 của Công ước thể hiện tinh thần phát triển bền vững. UNESCO xây dựng các tiêu chí đánh giá, yêu cầu quốc gia thành viên lập kế hoạch quản lý hiệu quả. Các tổ chức tư vấn như ICOMOS, IUCN và ICCROM hỗ trợ kỹ thuật và giám sát việc thực thi. Khung lý luận này là cơ sở để Việt Nam xây dựng hệ thống quản lý phù hợp.

1.2. Khái quát về các di sản thế giới ở Việt Nam

Việt Nam hiện có nhiều di sản được UNESCO công nhận trên cả ba loại hình. Di sản văn hóa thế giới bao gồm Quần thể di tích Cố đô Huế, Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn, Hoàng thành Thăng Long, Thành nhà Hồ. Di sản thiên nhiên thế giới có Vịnh Hạ Long, Vườn quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng. Di sản văn hóa và thiên nhiên hỗn hợp là Quần thể danh thắng Tràng An. Mỗi di sản có đặc điểm riêng về vị trí, quy mô, giá trị và thách thức quản lý. Sự đa dạng này đòi hỏi cách tiếp cận quản lý linh hoạt, phù hợp với từng loại hình.

II. Thực trạng và thách thức quản lý di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới

Thực trạng quản lý di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam đạt được nhiều kết quả tích cực nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Hệ thống pháp luật về bảo vệ di sản ngày càng hoàn thiện với Luật Di sản văn hóa 2001, sửa đổi 2009 và các nghị định hướng dẫn. Tuy nhiên, công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý còn chồng chéo. Nguồn nhân lực tại các di sản thiếu về số lượng và hạn chế về chuyên môn. Kinh phí bảo tồn chủ yếu dựa vào ngân sách nhà nước, chưa huy động hiệu quả nguồn lực xã hội. Ép phát triển kinh tế-xã hội đặt áp lực lớn lên di sản. Du lịch tăng trưởng nhanh gây quá tải tại nhiều di tích. Mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển là vấn đề cốt lõi cần giải quyết. Kiểm tra, giám sát việc thực thi pháp luật chưa thường xuyên, thiếu cơ chế đánh giá hiệu quả.

2.1. Chủ thể và cơ chế quản lý di sản tại Việt Nam

Hệ thống quản lý di sản thế giới ở Việt Nam bao gồm nhiều chủ thể từ trung ương đến địa phương. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm thống nhất quản lý nhà nước. UBND cấp tỉnh tổ chức bảo vệ và quản lý di sản thuộc phạm vi địa phương. Ban quản lý di sản trực tiếp thực hiện các hoạt động bảo tồn và phát huy. Cơ chế quản lý kết hợp giữa hành chính và chuyên môn. Tuy nhiên, sự phân công trách nhiệm chưa rõ ràng dẫn đến tình trạng đùn đẩy hoặc trùng lặp. Năng lực quản lý ở cấp cơ sở còn nhiều hạn chế.

2.2. Các hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản

Các hoạt động quản lý di sản thế giới ở Việt Nam bao gồm bảo tồn, tu bổ, phát huy giá trị và giáo dục di sản. Công tác lập kế hoạch quản lý được thực hiện theo quy định của UNESCO và pháp luật Việt Nam. Hoạt động nghiên cứu khoa học, đào tạo nguồn nhân lực được đẩy mạnh. Tuy nhiên, nhiều kế hoạch quản lý còn hình thức, thiếu khả thi. Việc giám sát định kỳ chưa được thực hiện đầy đủ. Hoạt động tuyên truyền, giáo dục di sản trong cộng đồng còn hạn chế. Hợp tác quốc tế về bảo tồn di sản cần được tăng cường hơn nữa.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới

Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam cần tiếp cận toàn diện và đồng bộ. Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật, xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành rõ ràng. Thứ hai, tăng cường năng lực quản lý thông qua đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực chuyên sâu. Thứ ba, đa dạng hóa nguồn lực tài chính, huy động xã hội hóa và hợp tác quốc tế. Thứ tư, áp dụng công nghệ số trong quản lý, giám sát và phát huy giá trị di sản. Thứ năm, lồng ghép nguyên tắc phát triển bền vững vào mọi hoạt động quản lý. Kinh nghiệm quốc tế từ các nước như Italia, Nhật Bản, Australia cho thấy mô hình quản lý hiệu quả cần sự tham gia của cộng đồng và tư nhân. Giải pháp phải phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam, đảm bảo cân bằng giữa bảo tồn và phát triển kinh tế-xã hội.

3.1. Hoàn thiện cơ chế quản lý và tăng cường năng lực nguồn nhân lực

Hoàn thiện cơ chế quản lý đòi hỏi sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về di sản thế giới. Cần phân định rõ trách nhiệm giữa các cấp quản lý, tránh chồng chéo. Xây dựng quy chế phối hợp liên ngành hiệu quả. Tăng cường năng lực nguồn nhân lực thông qua đào tạo chính quy và tập huấn chuyên đề. Hợp tác với UNESCO, ICOMOS để nâng cao trình độ chuyên môn. Xây dựng chế độ đãi ngộ phù hợp thu hút nhân lực chất lượng cao. Ban hành tiêu chuẩn nghề nghiệp cho cán bộ quản lý di sản.

3.2. Đa dạng hóa nguồn lực và ứng dụng công nghệ trong quản lý di sản

Đa dạng hóa nguồn lực tài chính là giải pháp quan trọng để giảm phụ thuộc vào ngân sách nhà nước. Xây dựng cơ chế khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức xã hội đầu tư vào bảo tồn di sản. Phát triển du lịch bền vững để tạo nguồn thu cho hoạt động bảo tồn. Ứng dụng công nghệ số như GIS, hệ thống thông tin địa lý, cơ sở dữ liệu số trong quản lý di sản. Sử dụng công nghệ giám sát từ xa, camera an ninh tại các di tích. Xây dựng bản đồ số hóa di sản phục vụ nghiên cứu và giáo dục.

IV. Kết luận và ứng dụng quản lý di sản theo hướng phát triển bền vững

Kết luận nghiên cứu khẳng định quản lý di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở Việt Nam theo Công ước Di sản Thế giới là nhiệm vụ cấp thiết. Hệ thống quản lý hiện tại đã đạt được nhiều thành tựu nhưng cần tiếp tục hoàn thiện. Ứng dụng nguyên tắc phát triển bền vững là hướng đi tất yếu. Di sản phải được bảo vệ đồng thời phát huy giá trị phục vụ cộng đồng. Sự tham gia của người dân là yếu tố quyết định thành công. Quản lý di sản hiệu quả góp phần phát triển kinh tế-xã hội địa phương. Giáo dục di sản giúp nâng cao nhận thức cộng đồng, tạo thế hệ công dân có trách nhiệm. Hợp tác quốc tế mở ra cơ hội tiếp cận nguồn lực và tri thức tiên tiến. Nghiên cứu này đóng góp vào khoa học quản lý văn hóa, cở sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng chính sách di sản quốc gia.

4.1. Đóng góp khoa học và ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu đóng góp vào khoa học quản lý văn hóa bằng việc hệ thống hóa lý luận về quản lý di sản thế giới. Làm rõ cơ sở pháp lý quốc tế và quốc gia, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp. Ý nghĩa thực tiễn nằm ở việc cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách. Kết quả nghiên cứu áp dụng được cho tất cả các di sản thế giới tại Việt Nam. Góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị di sản bền vững.

4.2. Hướng phát triển và triển vọng quản lý di sản Việt Nam

Hướng phát triển quản lý di sản Việt Nam cần gắn liền với chiến lược phát triển bền vững quốc gia. Tăng cường hợp tác quốc tế, tiếp nhận hỗ trợ kỹ thuật từ UNESCO và các tổ chức liên quan. Xây dựng mô hình quản lý di sản dựa vào cộng đồng. Phát triển kinh tế di sản thông qua du lịch có trách nhiệm. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học về bảo tồn và phát huy giá trị. Ứng dụng công nghệ 4.0 trong quản lý, giám sát. Triển vọng quản lý di sản Việt Nam phụ thuộc vào cam kết chính trị và sự đồng thuận xã hội.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ quản lý di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới ở việt nam theo công ước di sản thế giới

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DI SẢN VĂN HÓA VÀ THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI THEO CÔNG ƯỚC DI SẢN THẾ GIỚI VÀ KHÁI QUÁT VỀ CÁC DI SẢN THẾ GIỚI Ở VIỆT NAM 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các nghiên cứu về chính sách, nguyên tắc, định hướng quản lý Di sản Thế giới Một trong những nội dung quan trọng của quản lý, nhất là quản lý nhà nước các ngành, lĩnh vực nói chung, lĩnh vực DSVH nói riêng là các văn bản pháp quy, hệ thống chính sách và nguyên tắc thực hiện. Các văn bản này ít tồn tại dưới dạng công trình khoa học, công trình nghiên cứu của các cá nhân, mà là những văn bản quy phạm pháp luật, quy định, tài liệu hướng dẫn… của nhà nước, các tổ chức, đơn vị, cá nhân có chức năng, nhiệm vụ phù hợp.

Điểm lại những tài liệu liên quan, ta có thể thấy rõ điều đó: Với nội dung trên, có thể kể đến những tài liệu nghiên cứu, định hướng về quản lý DSTG của các tổ chức quốc tế như UNESCO, WHC, ICOMOS, IUCN, ICCROM gồm: “Quản lý Di sản Thiên nhiên Thế giới” [136], “Quản lý Di sản Văn hóa Thế giới” [103], “Hướng dẫn đánh giá tác động di sản cho Di sản Văn hóa Thế giới” [104], “Tài liệu tư vấn Di sản Thế giới: Đánh giá môi trường” [106], “Quản lý rủi ro thiên tai cho Di sản Thế giới” [102], “Sổ tay hướng dẫn xây dựng Tuyên bố giá trị nổi bật toàn cầu đối với các Di sản Thế giới” [131], “Chuẩn bị các đề cử Di sản Thế giới” [105]. Những nghiên cứu, tài liệu trên đã thiết lập và hệ thống hóa các chính sách, nguyên tắc căn bản, định hướng hoặc đề xuất các thực hành để hỗ trợ các quốc gia thành viên quản lý DSTG theo Công ước, trong đó nhấn mạnh các nội dung liên quan đến: khuôn khổ pháp lý; kế hoạch quản lý; các nhân tố ảnh hưởng/mối đe dọa đến di sản; nguồn lực tài chính; đào tạo và phát triển nguồn nhân lực; các bên liên quan; sử dụng bền vững và chia sẻ lợi ích; hoạt động nghiên cứu, giám sát và báo cáo trong công tác quản lý DSTG. Bên cạnh những công trình nghiên cứu của các tổ chức quốc tế nêu trên, còn có các công trình nghiên cứu của một số tổ chức và cá nhân tiêu biểu như sau: Cuốn “Quản lý Du lịch tại các khu Di sản Thế giới: Sổ tay thực hành cho các nhà quản lý Di sản Thế giới” [123] của tác giả Arthur Pederson xuất bản năm 2002 đã đưa ra một số nội dung chính cho thấy du lịch có những lợi thế như: lệ phí du khách 10 vào thăm, tiền miễn giảm thuế và các khoản đóng góp cung cấp ngân quỹ cho các nỗ lực tu bổ và bảo vệ di sản. nhưng du lịch cũng đưa lại nhiều vấn đề đòi hỏi phải được thường xuyên giám sát, đánh giá tác động của nó đối với môi trường cùng những thủ tục giảm thiểu những tác động đó.

Bài tham luận “Nâng cấp hoạt động Giám sát để bảo tồn Di sản Thế giới” tại Hội nghị “Giám sát Di sản Thế giới” [96] của tác giả Giovanni Boccardi đã đề cập đến cách thức giám sát DSTG trong khuôn khổ Công ước, nhấn mạnh sự cần thiết phải phân biệt giữa giám sát trong bối cảnh của cơ quan trực tiếp quản lý di sản (được thực hiện bởi nhân viên ở địa phương một cách liên tục) với giám sát như là một phần của “Báo cáo định kỳ” thực hiện theo Công ước. Theo tác giả, hoạt động giám sát nên xem xét các thay đổi ở một DSTG trong một khoảng thời gian nhất định, dựa trên các chỉ số cụ thể cho chúng ta biết mức độ di sản đã được bảo tồn những giá trị ban đầu của nó như thế nào. Bài viết “Quản lý Di sản Thế giới - Kinh nghiệm thế giới và kiến nghị đối với Việt Nam” của Li Hong [53] cho thấy, bên cạnh các tổ chức do UNESCO trực tiếp thành lập, hiện nay trên thế giới đang tồn tại 09 Trung tâm hạng hai của UNESCO do các quốc gia thành viên thành lập. Đặc biệt, tác giả cũng chỉ ra các mối đe dọa chính có ảnh hưởng tới DSTG và trách nhiệm của những người quản lý di sản là cần đảm bảo giảm thiểu được những mối đe dọa đó để DSTG được bảo vệ bền vững.

Công trình “Di sản văn hóa và các vấn đề liên quan - Thuật ngữ và định nghĩa chung” của Cục Di sản văn hóa [16] đưa ra tiêu chuẩn quy định thuật ngữ và định nghĩa trong lĩnh vực DSVH và các vấn đề liên quan giúp cho công tác quản lý DSVH được thuận tiện và theo quy chuẩn. Trong bài viết “Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long - Nhìn từ góc độ quản lý nhà nước” [3] tác giả Đặng Văn Bài đề cập tới việc với những giá trị nổi bật toàn cầu mà Vịnh Hạ Long đạt được, tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều cố gắng thực hiện các quy định của Luật DSVH và Công ước trong việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa bảo tồn và phát triển, sự phối hợp liên ngành trong quá trình giải quyết những vấn đề liên quan tới bảo tồn và phát huy giá trị Vịnh Hạ Long. Tác giả Đặng Văn Bài còn đề cập đến bản chất và những trách nhiệm mà các quốc gia thành viên có DSTG phải thực hiện các quy định của Công ước trong bài viết “Bàn luận về danh hiệu Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới của UNESCO” [4]. Tác giả Nguyễn Quốc Hùng bàn luận 11 đến các tiêu chí xác định giá trị nổi bật toàn cầu và sự thay đổi, điều chỉnh của các tiêu chí xác định từ trước đến nay trong Công ước ở bài viết “Mấy vấn đề về giá trị tổi bật toàn cầu của Di sản Văn hóa và Thiên nhiên Thế giới” [36].

Nghiên cứu về bộ máy, nguồn nhân lực bảo vệ di sản Luận án tiến sĩ “Quản lý Di sản Thế giới ở Việt Nam (qua trường hợp Cố đô Huế và Đô thị cổ Hội An)” [14] của tác giả Trịnh Ngọc Chung đã đề cập đến thực trạng và những bất cập trong công tác quản lý, cơ cấu tổ chức, bộ máy, chức năng, nhiệm vụ và quá trình hoạt động của cơ quan quản lý Quần thể di tích Cố đô Huế và Khu phố cổ Hội An, đồng thời phác họa mô hình quản lý DSTG, định hướng cho việc kiện toàn, nâng cao hiệu quả quản lý DSTG ở Việt Nam thời gian tới. Luận án tiến sĩ “Quản lý khu di sản Thành Nhà Hồ, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa” [54] của tác giả Nguyễn Bá Linh đã đề cập đến thực trạng của công tác quản lý, chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao công tác quản lý tại khu di sản Thành Nhà Hồ thời gian tới. Đặc biệt, trong Luận án bàn luận sâu đến hai nội dung là hoạt động quản lý khu di sản tiếp cận từ quản lý nhà nước và quản lý khu di sản tiếp cận từ quản lý cộng đồng sau khi Thành Nhà Hồ được UNESCO công nhận là DSVHTG, việc quản lý phải tuân thủ nghiêm ngặt những hướng dẫn và khuyến nghị của UNESCO tại Công ước Di sản Thế giới và thực hiện công tác quản lý nhà nước về DSVH trên cơ sở văn bản pháp luật của Việt Nam. Trong bài “Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa” [2] tác giả Đặng Văn Bài cho rằng: Quản lý nhà nước bằng văn bản pháp quy (bao gồm các văn bản về bảo vệ, phát huy giá trị DSVH); quyết định về cơ chế, tổ chức quy hoạch và kế hoạch phát triển; quyết định phân cấp quản lý.

Việc phân cấp quản lý di tích, hệ thống tổ chức ngành bảo tồn, bảo tàng và đầu tư ngân sách cho các cơ quan quản lý di tích - là yếu tố có tính chất quyết định nhằm tăng cường hiệu quả quản lý; và bài “Quản lý vùng đệm khu Di sản Thiên nhiên Thế giới Vịnh Hạ Long trong quá trình đô thị hóa thành phố Hạ Long” [6] tác giả lưu ý rằng BQL Vịnh Hạ Long cần khắc phục tình trạng thiếu vắng bộ phận nghiên cứu khoa học chuyên sâu, cũng như khắc phục vấn đề về thực quyền hay sức mạnh quản lý. Tác giả Lưu Trần Tiêu đã đặt ra vấn đề về tổ chức bộ máy quản lý di tích nói riêng, DSTG nói chung và đề nghị Nhà nước nâng cấp Cục Di sản văn hóa thành Tổng Cục Di sản văn hóa trực thuộc Bộ VHTTDL để đảm bảo việc thường xuyên giám sát, 12 kiểm tra, thanh tra các hoạt động bảo tồn di tích, kịp thời phát hiện và có giải pháp khắc phục những sai phạm trong việc tu bổ, tôn tạo di tích trong bài “Mấy vấn đề về nguồn nhân lực trong hoạt động bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa” [76]. Tác giả Lê Thị Thu Hiền nhấn mạnh trong xu thế toàn cầu hóa với những thành tựu của cuộc cách mạng 4.0 hiện nay để thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ, phát huy giá trị DSVH dân tộc cần phải xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành DSVH. Để làm được điều đó, cần phải thực hiện các giải pháp như: Xây dựng chiến lược đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; Cập nhật khung kiến thức theo nhu cầu thực tế; Đa dạng hình thức chuyển giao kiến thức; Tăng cường hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo trong bài “Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực di sản văn hóa ở Việt Nam” [33].

Nghiên cứu về thực trạng quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị Di sản Thế giới ở Việt Nam Về nội dung này có thể kể đến các công trình tiêu biểu sau: Bài “Mấy vấn đề về hoạt động tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hóa” [75] của tác giả Lưu Trần Tiêu cho rằng hoạt động bảo tồn di tích thể hiện ở 3 mặt cụ thể là: Bảo vệ di tích về mặt pháp lý và khoa học, bảo vệ di tích về mặt vật chất, kỹ thuật; sử dụng di tích phục vụ nhu cầu của xã hội. Bài “Di sản văn hóa Hội An - Nhìn lại hơn một phần tư thế kỷ bảo tồn trong phát triển đô thị” [50] của tác giả Hoàng Đạo Kính cho thấy từ năm 1982, Tiểu ban Ba Lan - Việt Nam về trùng tu di tích kiến trúc Chăm đã tiến hành nghiên cứu sự hình thành và tiến hóa của đô thị - cảng Hội An.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ