CHƯƠNG 1 KHO MỞ VỚI CÔNG TÁC PHỤC VỤ ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ TẠI THU VIEN TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG HÀ NOI 1. Những vấn đề chung của kho mở trong hoạt động thông tin thư viện 1. Khái niệm “kho mở” Hiện nay, ở bắt kỳ cơ quan thông tin thư viện nào cũng vậy, phục vụ độc giả là nhiệm vụ hang đầu và lấy hiệu quả phục vụ là thước đo dé đánh giá khả năng hoạt động và sự phát triển của một thư viện. Việc xác định nâng cao công tác phục vụ ban đọc là mục tiêu trọng tâm của các co quan thông tin thư viện, vi thế các thư viện đã không ngừng tim tòi, đôi mới trong công tác phục vụ của bạn đọc.
Ngay từ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX phương thức tô chức kho mở đã được áp dụng đầu tiên ở Mỹ và sau đó lan truyền sang các nước như: Anh, Thuy Điển, Đan Mạch.và một số nước khác. Đầu tiên, kho mở chủ yếu chỉ được áp dung chủ yếu ở các thư viện khoa học chuyên ngành, sau đó áp dụng phổ biến ở các thư viện công cộng. Theo “Từ điển giải nghĩa thư viện học và tin học Anh - Việt” do dịch giả Phạm Thị Lệ Hương, Lâm Vĩnh Thế và Nguyễn Thị Nga biên dịch từ cuốn “The ALA Glossary of Library and Information Science” năm 1996 đã được giải nghĩa từ: Kho sách mở (Open stack) là chỉ bat cứ kệ sách nào của thư viện mà độc giả không bị giới hạn khi sw dụng tài liệu để trên kệ sách.[ 1 5] “Kho mở là kho tài liệu, nơi độc giả tự do chọn lựa và sử dụng những cuốn sách, những tải liệu mà họ cần. Họ tự phục vụ bản thân ở mọi khâu: chọn sách, báo.tha hồ đọc lướt các tên sách có cùng chủ đề được sắp xếp gần nhau, tự do lấy tài liệu xuống, rồi lại xếp lên giá, nếu thấy nội dung đó không phù hợp với nhu cầu, công bằng mà nói, độc giả có cảm giác thư viện là nhà, sách được sẵn sàng trên giá dé phuc vu ho” [18] “Kho mở thực tế có thé coi như một mục lục phân loại không lồ trong đó mỗi cuốn sách là một “tờ phiếu mục lục” sinh động mà qua đó người đọc có thể xem lướt nội dung của một sô tai liệu có cùng nội dung, xêp cạnh nhau, dé lựa chọn 13 được tải liệu thích hợp nhất, mà những thông tin thư mục trên tờ phiếu bình thường không giúp họ xác định, đánh giá rõ nội dung như vậy.” [22] Ngay từ những năm 70 đã được các nhà thư viện học khái niệm về kho mở đã được các nhà thư viện học của viện Quốc gia Liên Xô mang tên V.
Lénin định nghĩa như sau: Kho mở là phương thức phục vụ cho phép bạn đọc tiếp cận kho tàng sách báo cua thư viện, tạo diéu kiện cho họ xem và chọn sách trực tiếp trên giá. Dong thời hình thức đó tao diéu kiện thuận lợi cho thư viện tuyên truyền tích cực, giúp thông bao một cách thiết thực và có hệ thống cho các nhà chuyên môn về thành tựu mới nhất của khoa học và kỹ thuật các kinh nghiệm sản xuất tiên tiến [25] Kho mở (còn gọi là cách tiếp cận tài liệu trực tiếp) là cách thức tổ chức kho tài liệu theo kiều “mở” theo đúng nghĩa của nó. Việc sắp xếp tài liệu trong kho dựa theo nội dung chủ đề tài liệu, căn cứ vào ký hiệu xếp giá được tạo ra bằng cách sử dụng ký hiệu phân loại kết hợp với ký hiệu tên tác giả hoặc tên sách. Tùy thuộc vào vốn tài liệu của thư viện, của kho mà người ta chia kho mở thành hai loại: kho mở toàn phần và kho mở một phần.
* Kho mở toàn phần: Thường áp dụng với những kho tài liệu có số lượng tài liệu không nhiều và đối tượng phục vụ không rộng rãi. * Kho mở một phần: Thường áp dụng với kho tài liệu có số lượng lớn, đa dạng. Thư viện sẽ lấy một lượng tài liệu có trong kho đó ra làm một phần kho mở. Qua các khái niệm trên ta có thể hiểu một cách đơn giản: Kho mở là phương thức tô chức phục vụ mà ở đó bạn đọc trực tiếp vào kho lấy những tài liệu họ can, tạo điều kiện, cho phép họ xem trước và chọn tài liệu trực tiếp trên giá.
Hình thức tổ chức phục vụ bằng kho mở trong ngành TT-TV đã, đang tạo ra một xu thế chung trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam một bước đi vững chắc và đầy khởi sắc về phương thức phục vụ mới. Đặc điểm của kho mở Hình thức kho mở hiện nay có thể áp dụng cho nhiều loại hình tài liệu và loại hình thư viện. Theo loại hình tài liệu có thé chia ra các loại hình kho mở như: e Kho mở dùng cho sách 14 e Kho mở dùng cho báo, tạp chi e Kho mở dùng cho các tài liệu điện tử (CD ROM, VCD, DVD.) Theo loại hình thư viện ta có: e Kho mở của thư viện các trường đại học e Kho mở của thư viện công cộng e Kho mở của thư viện khoa hoc (đa ngành, chuyên ngành) Các đặc điểm chủ yếu của kho mở: - Về tô chức tài liệu: Toàn bộ tài liệu trong kho mở phải được sắp xếp theo một bảng phân loại nhất định, không phân biệt khổ, cỡ dé thé hiện mối quan hệ chặt chẽ về mặt nội dung, chủ yếu vốn tài liệu. - Về vốn tài liệu: Phải có những tiêu chí, phương thức lựa chọn, tài liệu đưa ra kho mở: Có thể theo thời gian, theo hình thức tài liệu, tài liệu trong kho mở phải phù hợp với đối tượng cũng nhu cầu nghiên cứu của độc giả thư viện.
- Về cơ sở vật chất: Kho mở đòi hỏi một không gian rộng vừa dé tô chức kho vừa để tổ chức phục vụ, bên cạnh đó là các trang thiết bị an ninh như: camera, công từ, chỉ từ, chip điện tử.cũng cực kỳ cần thiết dé giảm thiểu những mat mát, hỏng rách dé có thé sảy ra, đảm bảo an toàn cho kho tư liệu. - Bảo quản tài liệu: Do quá trình bạn đọc trực tiếp tiếp xúc liên tục với tài liệu trong kho mở, vì thế tài liệu trong kho mở rất dễ rách nát, hư hại và mất mát nên vấn đề bảo quản cần phải được quan tâm đặc biệt. - Bồ sung tài liệu và thanh lọc: Tài liệu trong kho mở phải thường xuyên bổ sung, đáp ứng phù hợp với nhu cầu của bạn đọc vì vậy đòi hỏi kinh phí bổ sung hàng năm lớn và ồn định. Tài liệu trong kho mở cũng cần thiết phải định kỳ thanh lọc theo năm hay theo quý.
- Hệ thống tra cứu: Phải linh hoạt và phản ánh đúng vi trí, tinh trạng của tai liệu, thường xuyên được cập nhập. - Cán bộ thư viện: Ngoài nghiệp vụ chuyên sâu, nhanh nhẹn cần có tinh thần trách nhiệm cao và đòi hỏi phải có sự bao quát trong công việc lớn để có thê giúp đỡ bạn đọc tìm và sử dụng tài liệu một cách nhanh chóng. 15 - Bạn đọc: Mục đích của hình thức phục vụ bằng kho mở chính là nâng cao ý thức sử dụng thư viện của bạn đọc, “tất cả vì bạn doc thân yêu”. Bạn đọc cũng cần phải tuân thủ theo các nội quy, quy định, hướng dẫn của TV cũng như của cán bộ TV.
Ý nghĩa của kho mớ trong hoạt động thông tin -thư viện Điều kiện để dao tạo theo tín chi, ngay trong QD số 31/2001 của Bộ GD&DT đã nêu, ngoài những điều kiện về chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, các cơ sở dao tạo phải có điều kiện về học liệu: “có đủ sách tham khảo, tài liệu học tập”. Các đơn vị đào tạo có nhiệm vụ cụ thể hóa điều kiện về học liệu trong các hướng dẫn về đào tạo theo tín chỉ của đơn vị mình [10]. Vì lẽ đó, việc tổ chức kho mở ngày càng trở lên quen thuộc va đang phát triển mạnh thành xu thé tat yếu trong nhiều thư viện và cơ quan thông tin thư viện trên nhiều quốc gia khác nhau. Nhờ vào xu thế chung, đã từ lâu “kho mở không còn là xa lạ với bạn đọc của thư viện.
Khi bạn đọc đến với bất kỳ hiệu sách hay một siêu thị sách tự chọn nao bạn sẽ có được cảm giác tự do chọn lựa cái mà mình muốn, đến với kho mở trong các thư viện cũng sẽ đem lại cho bạn cảm giác đó. Bạn sẽ cảm nhận được sự thoải mái và đầy hứng thú khi được tiếp xúc trực tiếp với kho tàng tri thức của nhân loại và tự thoả mãn nhu cầu đọc của mình”. [30] Nếu như với phương thức đảo tạo tín chỉ đòi hỏi nhu cầu thông tin của thầy và trò trong trường ĐHXD HN là rất lớn thì việc tổ chức kho mở đã mang lại nhiều tiện lợi không những cho NDT mà còn mang ý nghĩa lớn trong cả hoạt động thư viện nói chung. Ngoài việc giúp bạn đọc tiếp cận được với nguồn tai nguyên sách, tiết kiệm được nhiều thời gian đợi lấy tài liệu, bạn đọc được trực tiếp tìm thông tin voi từng cuốn sách, nhiều tài liệu một lúc, từ đó nảy sinh những nhu cầu đọc mới là điều tất yếu có thể sảy ra với bất kỳ người dùng tin nào.
Với cán bộ, kho mở còn giúp cho cán bộ thư viện không phải tiếp nhận các phiếu yêu cầu, không phải mat thời gian vào kho lấy sách mà vẫn đảm bảo việc phục vụ tốt cho NDT một cách nhanh chóng và chính xác. Điều này đồng nghĩa với 16 việc tổ chức kho mở sẽ giảm đi được một nguồn nhân lực đáng kể cho thư viện bởi công việc chính của cán bộ thư viện ở kho mở chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, trợ giúp và xác định nguồn tin khi độc giả cần. Chúng ta đều biết kho mở được hình thành và phát triển là do nhu cầu khách quan của sự phát triển xã hội. Nhu cầu thông tin, nhu cầu tài liệu là nhu cầu cấp thiết của con người trong hoạt động nghiên cứu khoa học, học tập va san xuất.
Trong quá tình nghiên cứu, học tập họ luôn có nhu cầu tìm kiếm thông tin và rất cần những tài liệu có liên quan đến hoạt động của họ. Kho mở là điều kiện khắc phục hàng rao thông tin ay, tạo su thuận lợi, phù hợp giữa tai liệu va NDT, rút ngắn thời gian tìm tài liệu, luôn cập nhập thông tin mới, thúc day quá trình phát triển khoa học và công nghệ, văn minh và tiến bộ loài người.