phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được chia thành 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức hoạt động thông tin-thư viện phục vụ người khiếm thị trên địa bàn Hà Nội Chƣơng 2: Thực trạng công tác tổ chức hoạt động thông tin-thư viện phục vụ người khiếm thị trên địa bàn Hà Nội Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động thông tin-thư viện phục vụ người khiếm thị trên địa bàn Hà Nội 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN-THƢ VIỆN PHỤC VỤ NGƢỜI KHIẾM THỊ TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 1. Các khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm Tổ chức hoạt động thông tin-thư viện Khái niệm tổ chức Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam xuất bản năm 2005 “Tổ chức là hình thức tập hợp, liên kết các thành viên trong xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng lợi ích của các thành viên; cùng nhau hành động vì mục đích chung” [33]. Nguyễn Thị Lan Thanh hiểu theo nghĩa danh từ: “Tổ chức là tập hợp có nhiều người, có chủ đích nhằm thực hiện mục tiêu nhất định” [13]. Hiểu theo nghĩa động từ: “Tổ chức là sự sắp đặt, bố trí các bộ phận có mối quan hệ chặt chẽ với nhau để cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặc cùng một chức năng chung. Sắp xếp, bố trí các bộ phận để tiến hành công việc theo một cách thức, trình độ nhất định”[13] PGS.TS Đoàn Phan Tân cho rằng:“Tổ chức là một tổ hợp các thành phần có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng hỗ trợ và thúc đẩy lẫn nhau nhằm thực hiện nhiệm vụ chung.
Tổ chức bao giờ cũng hoạt động trong một môi trường nhất định và chịu tác động của môi trường đó. Tổ chức được tạo thành bởi một số yếu tố sau: Con người làm việc ở đó; Các phương thức và chất liệu mà họ sử dụng; Các thiết bị mà họ vận hành; Ngân sách cần thiết để chi phí cho các hoạt động”. Nguyễn Tiến Hiển & PGS. Nguyễn Thị Lan Thanh trong giáo trình “Tổ chức và quản lý công tác thông tin – thư viện cho rằng: “Tổ chức là một tập hợp người được tổ chức lại, hoạt động vì những quyền lợi chung, nhằm một mục đích chung, có kỷ luật chặt chẽ trong quan hệ với các thành viên của nó” Từ các quan điểm trên có thể thấy, “tổ chức” đóng vai trò vô cùng quan trọng trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Nếu công tác tổ chức tốt sẽ mang lại hiệu quả lao động cao. Chính vì vậy, tổ chức trở thành yếu tố then chốt làm nên thành công trong các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, quốc phòng, văn hoá, đối ngoại, giáo 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dục, thương mại, v.Tổ chức được cấu thành bởi các yếu tố: Mô hình cơ cấu tổ chức; Nhân lực làm việc trong môi trường đó; Các phương thức mà họ sử dụng, trang thiết bị phục vụ cho công việc và cuối cùng là ngân sách cần thiết để chi phí cho các hoạt động. Tổ chức trong lĩnh vực thông tin – thư viện cũng không ngoại lệ. Nó cũng được cấu thành bởi 4 yếu tố trên Tổ chức thông tin – thư viện Theo tác giả Âu Thị Cẩm Linh, trong cuốn “Tổ chức và quản lý công tác thư viện” thì “Tổ chức thông tin thư viện là thiết lập một cơ cấu tổ chức thích hợp cho thư viện hoặc trung tâm thông tin đó tồn tại và phát triển, là bố trí, sắp xếp nguồn lực gồm: tài liệu, máy móc, trang thiết bị, con người,.
của thư viện hoặc trung tâm thông tin một cách hợp lý nhất để thư viện và trung tâm thông tin hoạt động có hiệu quả cao nhất. Nguyễn Thị Lan Thanh, hiểu theo nghĩa danh từ: “Tổ chức cơ quan thông tin – thư viện là thiết chế văn hóa - một chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động, nguồn kinh phí. Tổ chức cơ quan thông tin – thư viện là một chỉnh thể (khối thống nhất) trong đó có đầy đủ các bộ phận có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ với nhau, có một mục đích riêng và bao gồm nhiều thành viên cùng nhau hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu chung”.[13] Hiểu theo nghĩa động từ: “Tổ chức thông tin – thư viện là tổng thể các biện pháp thực hiện (quy tắc mà theo đó các biện pháp thực hiện) nhằm đảm bảo cho hoạt động thông tin – thư viện đạt kết quả tốt nhất bằng cách chấn chỉnh các hoạt động, tổ chức quy định cơ cấu thư viện (xây dựng bộ máy) để hoạt động theo hướng phù hợp với điều lệ, quyết định của các cơ quan cấp trên phù hợp với yêu cầu, nhu cầu của người dùng tin” [13] Khái niệm hoạt động Theo “Đại từ điển Tiếng Việt”,“Hoạt động là làm những việc khác nhau với mục đích nhất định trong đời sống xã hội”[8,tr. Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam” “Hoạt động của con người là một chuỗi các hoạt động tác động vào một đối tượng nhất định nhằm vào mục đích 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhất định và có ý nghĩa xã hội”[tr.“Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể) để tạo thành sản phẩm cả về phía thế giới và về phía con người (chủ thể)”[33] Trong hoạt động có hai quá trình diễn biến: Thứ nhất: quá trình đối tượng hóa (xuất tâm): Chủ thể chuyển năng lực của mình thành sản phẩm hoạt động; tâm lý của con người được bộc lộ, được khách quan hóa trong quá trình làm ra sản phẩm Thứ hai: quá trình chủ thể hóa (nhập tâm): chủ thể chuyển nội dung khách thể (quy luật, bản chất của sự vật) vào bản thân mình tạo nên tâm lý, ý thức, nhân cách của bản thân; đây cũng là quá trình con người chiếm lĩnh (lĩnh hội) thế giới.
Như vậy, trong quá trình con người tham gia, thực hiện hoạt động con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lý của mình, hay nói cách khác tâm lý, ý thức, nhân cách được bộc lộ, hình thành trong hoạt động. Do vậy, hoạt động mang một số đặc điểm sau: Tính chủ thể: Họat động do cá nhân hoặc tổ chức tiến hành một cách chủ động, tự giác, tích cực trong quá trình tác động vào khách thể. Tính đối tƣợng: Đối tượng là tất cả những yếu tố tự nhiên, xã hội mà con người hướng tới nhằm nhận thức, cải tạo. Đối tượng của hoạt động là cái mà con người cần làm ra, cần chiếm lĩnh – đó là động cơ.
Tính mục đích: là làm biến đổi thế giới và biến đổi bản thân, nó gắn liền với tính đối tượng và bị chế ước bởi nội dung xã hội phụ thuộc vào nhận thức và sự phát triển nhân cách cá nhân. Tính gián tiếp: Con người sử dụng công cụ lao động, ngôn ngữ, hình ảnh tâm lý trong đầu tác động vào khách thể trong quá trình hoạt động của bản thân. Khái niệm hoạt động thông tin – thư viện: Hoạt động thông tin-thư viện là một loại hoạt động đặc thù của con người nên nó mang những đặc điểm của hoạt động nói chung. Đặc điểm của hoạt động thông tin-thư viện: Tính chủ thể: Chủ thể của hoạt động thông tin-thư viện là người tiến hành hoạt động thông tin/tài liệu, kết quả cuối cùng là tạo ra các sản phẩm thông tin-thư viện đáp ứng nhu cầu tra cứu của con người.
Chủ thể của hoạt động thông tin-thư 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com viện là cá nhân, nhóm, xã hội… Tính đối tƣợng: đối tượng của hoạt động thông tin-thư viện là thông tin/tài liệu xã hội/thông tin/tài liệu dùng cho đại chúng và thông tin khoa học dùng cho lãnh đạo, quản lý, cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và những ai quan tâm… Tính mục đích: Mục đích của hoạt động thông tin/tài liệu là tạo ra các sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện thích hợp với nhu cầu tin và đặc điểm tâm lý của người dùng tin/bạn đọc nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu tin của họ. Tính gián tiếp: hoạt động thông tin – thư viện nhằm thỏa mãn nội dung nhu cầu thông tin/tài liệu cho người dùng tin/bạn đọc thông qua việc sử dụng sản phẩm và dịch vụ thông tin-thư viện khác nhau. Thông tin muốn đến được người dùng tin/bạn đọc trước hết phải trải qua một loạt các công đoạn từ thu thập, xử lý, tổ chức lưu giữ, bảo quản, cuối cùng là phục vụ người dùng tin. Các công đoạn này gắn kết mật thiết với nhau trong mối quan hệ tương hỗ, thúc đẩy nhau cùng phát triển.
Các hoạt động của cơ quan TT- TV đạt hiệu quả tốt sẽ thu hút người dùng tin đến với cơ quan đó ngày một đông đảo hơn. Người dùng tin là yếu tố cơ bản của hoạt động TT-TV. Động lực để hoạt động TT-TV phát triển chính là xuất phát từ nhu cầu tin của người dùng tin. “Nhu cầu tin là đòi hỏi khách quan của con người đối với việc tiếp nhận và sử dụng thông tin, nhằm duy trì hoạt động sống của con người” [27].
Như vậy, để thực hiện hoàn chỉnh, thoả mãn một nhu cầu tin, cần có một chu trình với hàng loạt công đoạn quan trọng, đồng thời có sự trao đổi, điều chỉnh qua lại giữa người dùng tin và cơ quan thông tin – thư viện. Đồng quan điểm với “Từ điển Bách khoa Việt Nam” đã định nghĩa về “hoạt động”, tiếp cận từ lĩnh vực TT-TV, PGS. Trần Thị Quý cho rằng: “hoạt động thông tin – thư viện” là một dạng hoạt động của con người với một chuỗi các hoạt động tác động vào đối tượng là thông tin/tài liệu nhằm mục đích thu thập, xử lý, lưu trữ, bảo quản và phổ biến thông tin/tài liệu cho người dùng tin/bạn đọc đảm bảo các chức năng thông tin, văn hóa, giáo dục, khoa học với mục đích phát triển 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cộng đồng/phát triển kinh tế-xã hội”[28, tr. Trong phạm vi luận văn này, tác giả đồng quan điểm với PGS.
Trần Thị Quý về nội hàm khái niệm “hoạt động TT-TV”. Nội dung của hoạt động trong cơ quan TT-TV gồm các công đoạn sau: Hoạt động phát triển tài nguyên thông tin/tài liệu. Hoạt động xử lý thông tin/tài liệu. Hoạt động tổ chức lưu trữ và bảo quản thông tin/tài liệu.
Hoạt động tìm tin và phổ biến thông tin/tài liệu.