Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Phát triển năng lực số Khái niệm năng lực Năng lực là một khái niệm được tiếp cận dưới nhiều phương diện khác nhau. Dưới góc độ tâm lý học năng lực là điều kiện tâm lí của cá nhân để hoàn thành có kết qua một hoạt động nào đó (Laytex, A.) hay năng lực là sự kết hợp hợp lý kiến thức, kỹ năng và sự sẵn sàng tham gia để cá nhân hành động có trách nhiệm và biết phê phán tích cực hướng tới giải pháp cho các vấn đề (F.
Weinert, 2001), năng lực là kha năng hành động tiến bộ dựa vào việc sử dụng hiệu quả tổng hợp các nguồn lực để giải quyết van dé tình huống trong cuộc sống. Theo Bộ Giáo dục và đảo tạo định nghĩa “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập rèn luyện cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú niềm tin ý chí.thực hiện thành công một loại hành động nhất định đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. Khái niệm năng lực số Theo Ủy ban và nghị viện châu Âu định nghĩa Năng lực số liên quan đến việc sử dụng công nghệ số một cách tự tin và có tư duy phản biện phục vụ cho học tập giải trí công tác và giao tiếp. UNESCO cũng định nghĩa năng lực số là khả năng truy cập, quản trị, thấu hiéu, kết hợp, giao tiếp, đánh giá và sáng tao thông tin một cách an toàn và phù hợp thông qua công nghệ số đề phục vụ cho thị trường lao động phé thông, các công việc cao cấp và khởi nghiệp kinh doanh.
Nó bao gồm các năng lực thường được biết đến như năng lực sử dụng máy tính, năng lực công nghệ thông tin, năng lực thông tin hay năng lực truyền thông (UNESCO, 2018). Bàn về năng lực số đã có khá nhiều khái niệm được các nhà nghiên cứu đưa ra như: Năng lực số là khả năng cần thiết để sử dụng công nghệ kĩ thuật số một cách an toàn và hiệu quả trong nhiều hoạt động khác nhau như giáo dục việc làm và cuộc sống hàng ngày các khả năng này bao gồm khả năng truy cập quản lí đánh giá kết nối và sáng tạo thông tin Ferrari (2012) hay Ala-Mutka định nghĩa “năng lực số là năng lực bao gồm hiểu 17 biết về thông tin hiểu biết về phương tiện truyền thông, hiểu biết về internet và máy tính hoặc trình độ công nghệ thông tin (tức là kiến thức kỹ năng phần cứng và phần mềm). Dự án DKAP do UNESCO Bangkok cho rằng năng lực số là khả năng sử dụng kĩ thuật số của trẻ em dé định hướng (tự điều chỉnh), tham gia và đóng góp vào môi trường kĩ thuật số trong thế ki XXI (UNESSCO, 2019). Ủy ban châu Âu định nghĩa “NLS liên quan đến việc sử dụng một cách tự tin, có phê phán, có trách nhiệm và tương tác với các công nghệ số dé học tập, làm việc và tham gia vào xã hội.
NLS bao gồm kiến thức về thông tin và dir liệu, giao tiếp và cộng tác, hiểu biết về truyền thông, sáng tạo nội dung số (bao gồm cả lập trình), an toàn (bao gồm an sinh số và các năng lực liên quan đến an ninh mạng), sở hữu trí tuệ, giải quyết van dé và tư duy phản biện” (Digcomp, 2022). Theo Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc — UNICEF đưa ra khái niệm NLS là kiến thức, kỹ năng và thái độ cho phép trẻ em phát triển trong một thế giới kỹ thuật số ngày càng toàn cầu hóa, vừa an toàn vừa được trao quyên, theo những cách phù hợp với lứa tuổi, văn hóa và bối cảnh địa phương (Tạp chí khoa học giáo dục Việt Nam, số 11, 2022). Khái niệm phát triển năng lực số Theo chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) “phát triển năng lực là quá trình mà thông qua đó các năng lực của con người được hình thành, được thích nghi và duy trì theo thời gian” Ủy ban chuyên gia về hành chính công của Liên Hợp Quốc thi cho rang “phát triển năng lực là quá trình mà thông qua đó các cá nhân, tô chức, thể chế và xã hội phát khả năng đề thực hiện các chức năng giải quyết vấn đề và đạt được mục tiêu” Như vậy phát triển năng lực số có thé hiểu là quá trình trang bị cho con người những kiến thức, kỹ năng của học sinh về công nghệ thông tin, truyền thông, thái độ trách nhiệm của học sinh và sự vận dụng các yếu tố đó sử dụng, tham gia vào môi trường số. Đồng thời, hướng đến một mục tiêu chung, đó là phát triển các kĩ năng giúp mọi người có thé tìm kiếm, đánh giá, quan lí được thông tin; có được giao tiếp hiệu qua, hợp tác, giải quyết van dé, đảm bao an toàn, từ đó giúp người đó có thể thành công trên môi trường số (Nguyễn, 2022).
Giới thiệu một số khung năng lực số Các quốc gia trên thế giới đều nhận thức được tầm quan trọng của nâng cao năng lực số cho công dân điều đó được thé hiện băng sự nỗ lực nghiên cứu phát triển ra đời của các khung năng lực số. Các khung năng lực số được xây dựng trên cơ sở các khung năng lực số đã có trước đó và được điều chỉnh dé phù hợp với điều kiện từng quốc gia, vùng lãnh thổ cũng như phù hợp với chính sách và định hướng của nền giáo dục của quốc gia mình. Một số khung năng lực số trên thế giới tiêu biểu như khung năng lực số của Ủy ban Châu Âu (DigComp 2.0), khung năng lực số của UNESCO (UNESSCO, 2018), khung năng lực của Ủy ban Hệ thống thông tin liên kết (JISC-Join Information Systems committee) (Jisc 2019), Khung năng lực số của hiệp hội truyền thông mới (Alexander 2016), Khung năng lực số của British Columbia (British Columbia Ministry of Education 2013), Mô hình BC’s cua Belshaw (Belshaw 2014). Khung năng lực số UNESSCO và khung NLS dành cho HS tiểu học của Việt Nam Khung năng lực số UNESCO Khung năng lực số được UNESCO xây dựng dựa trên cơ sở tham khảo khung năng lực số của châu Âu năm 2018 nhưng UNESCO đã mở rộng thêm 2 nội dung là vận hành các thiết bị số/Devices and software operations và nội dung năng lực số 6 liên quan đến nghề nghiệp là năng lực định hướng nghề nghiệp liên quan/devices and Software operations.
7 lĩnh vực năng lực số của khung năng lực này cũng được chia thành các năng lực thành phần bao gồm: 0. NL vận hành thiết bi và phần mềm 1. NL thông tin và dữ liệu 2. Giao tiếp và hợp tác 3.
NL sáng tạo nội dung số 4. NL giải quyết van đề 6. NL giải quyết liên quan nghề nghiệp Khung năng lực số của học sinh phổ thông Việt Nam 19 Khung năng lực số do Lê Anh Vinh và cộng sự phát triển dựa trên khung năng lực số của UNESCO và tham khảo khung năng lực số dành cho học sinh của một số quốc gia kết hợp chương trình giáo dục phổ thông môn Tin học của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2018. Nhóm nghiên cứu đã xây dựng khung năng lực số dành cho học sinh phố thông Việt Nam bao gồm 7 lĩnh vực trong mỗi lĩnh vực các thành phần năng lực được mô tả chỉ tiết.
Khung năng lực số được đảm bảo xuyên suốt từ cấp độ mầm non tiểu học tới THPT. Với cấp tiểu học khung năng lực sé được mô ta cu thé dé đánh giá kiến thức ki năng của hoc sinh và có thé do lường. KNLS dành cho học sinh tiểu học chỉ lựa chọn 6 lĩnh vực năng lực bỏ qua lĩnh vực năng lực nghề nghiệp bao gồm: 0 Vận hành thiết bị kỹ thuật 1. Xử lý thông tin dữ liệu 2.
Giao tiếp và hợp tác 3. Tạo lập nội dung số 4. An toàn kỹ thuật số 5. Giải quyết vấn dé Nhận xét về các khung năng lực số Dựa vào bảng tóm tắt 3 khung năng lực số trên ta thấy các khung năng lực đều đã có sự phân chia rõ ràng các lĩnh vực cụ thé các miền năng lực.
Về cơ bản các nhóm năng lực đều có chung đặc điểm là 3 khía cạnh: hiểu biết về kiến thức kỹ thuật số, áp dụng kiến thức kỹ thuật số vào trong học tập, cuộc sống và khả năng sáng tạo nội dung mới. Đối với khung năng lực số dành cho học sinh tiểu học do các em còn nhỏ nên khả năng tiếp cận các phương tiện kĩ thuật số còn hạn chế nên yêu cau đối với khung năng lực mô ta cụ thé chi tiết. Đồng thời yêu cầu đối với các kĩ năng ở mức độ cơ bản phù hợp với học sinh tiểu học. Khung năng lực số dành cho học tiêu học là sự kết hợp giữa khung NLS và chương trình giáo dục phổ thông môn Tin học 2018 tích hợp chương trình giảng dạy vào xây dựng một khung NLS phù hợp với độ tuổi, tâm lí.
Khung NLS đảm bảo cấu trúc logic và phù hợp với yêu cầu sư 20 phạm. Có khả năng ứng dụng rộng rãi trên toàn quốc, không phân biệt vùng miền, dân tộc hay giới tính. Day là cơ sở dé tác giả có xây dựng nội dung, câu hỏi và là tiêu chí đánh giá năng lực số của học sinh tiểu học, cũng như phát triển nội dung giảng day năng lực số cho học sinh tiêu học trường quốc tế Westlink. Những tác động của thiết bị số trong giáo dục Ứng dụng tiễn bộ của công nghệ cho phép người học có thể học tập mọi lúc mọi nơi, sắp xếp thời điểm phù hợp với lịch trình cá nhân, các chương trình học thiết kế đa dạng về nội dung hình thức, thời lượng.
Một chương trình dạy học chữ được Unessco triển khai tai Pakistan có sự kết hợp giữa phương thức học tập trực tuyến và truyền thống đã mang lại kết quả tốt hơn với 60% học sinh tốt nghiệp (Unessco, 2013, tr15). Ngày nay học sinh có thé xem lại bài giảng, hoặc video bài giảng khi ở nhà, hay các khóa học online trên thiết bị số, nếu người học chủ động và có ý thức học tập liên tục có thể khai thác tối đa các tiện ích của việc học tập trên thiết bị công nghệ. Lựa chọn trình độ phù hợp với khả năng cua bản thân, người học lựa các bài học phù hợp với trình độ của mình rồi nâng dần lên cao, thiết bị số đa dang loại hình cho phép người đọc lựa chọn dang tài liệu phù hợp như video, tai liệu văn ban.