chương 1, điều 2 có giải thích thuật ngữ “nguồn tin khoa học và công nghệ” như sau: Nguồn tin khoa học và công nghệ bao gồm sách, báo, tạp chí, CSDL; tài liệu hội nghị, hội thảo khoa học, báo cáo kết quả thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ; tài liệu về sở hữu trí tuệ, tài liệu về tiêu chuẩn, đo lường chất lượng, luận văn, luận án sau đại học và các nguồn tin khác được tổ chức, cá nhân thu thập. Hiện nay có rất nhiều người dùng “nguồn lực thông tin” để chỉ các dạng tài liệu khác nhau và đó cũng chính là “nguồn tin”. Ở đây NLTT là dạng nguồn tin được tổ chức và được xử lý, là loại tài sản cố định đặc biệt, càng được khai thác sử dùng thì càng giàu thêm mà không hề bị hao mòn mất mát đi. Trong đó việc đầu tư, bảo quản và tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác sử dụng các nguồn tin như tổ chức kho, lưu trữ, bảo quản, xây dựng các mục lục, các CSDL chính là làm tăng thêm giá trị sử dụng của vốn tài liệu cố định đó.
15 Ở dạng chung nhất, NLTT được hiểu như là tổ hợp các thông tin nhận được và tích lũy được trong quá trình phát triển khoa học và hoạt động thực tiễn của con người, để sử dụng nhiều lần trong sản xuất và quản lý xã hội. NLTT phản ánh các quá trình và hiện tượng tự nhiên được ghi nhận trong kết quả của các công trình nghiên cứu khoa học và trong các dạng tài liệu khác của hoạt động nhận thức và thực tiễn. NLTT bao gồm các dữ liệu thể hiện dưới dạng văn bản, dạng số, hình ảnh, âm thanh hoặc được ghi lại trên phương tiện theo quy ước và không theo quy ước, các sưu tập, những kiến thức của con người, những kiến thức của tổ chức và ngành công nghiệp thông tin. NLTT là một dạng sản phẩm của trí tuệ của con người, là phần tiềm lực thông tin có cấu trúc được kiểm soát và có ý nghĩa thực tiễn trong quá trình sử dụng.
Như vậy, về cơ bản các khái niệm “nguồn lực thông tin” được trình bày ở các phần trên là có cùng bản chất và đều coi NLTT là một dạng sản phẩm trí tuệ, kết quả của lao động trí óc của con người, là những thông tin được tổ chức, kiểm soát và có giá trị trong hoạt động thực tiễn của con người. NLTT được coi là phần tích cực của tiềm lực thông tin được tổ chức sao cho NDT có thể dễ dàng truy cập, tìm kiếm, khai thác và sử dụng để phục vụ cho các lợi ích khác nhau của xã hội. Trong khuôn khổ đề tài này, tác giả hiểu khái niệm NLTT theo nghĩa thường được sử dụng trong cơ quan TT - TV và trên các ấn phẩm thuộc lĩnh vực thông tin, thư viện hiện nay. Cách cụ thể: NLTT trong các cơ quan thông tin thư viện bao gồm tập hợp có tổ chức các loại nguồn tin tài liệu có giá trị sử dụng trong các tổ chức dưới mọi hình thức vật lý khác nhau.
Đặc trưng của nguồn lực thông tin 16 Trong các thư viện và tại các cơ quan thông tin hiện nay, nguồn tài liệu rất đa dạng về hình thức và phong phú về nội dung. Nguồn tài liệu bao gồm cả tài liệu truyền thống (tài liệu dạng giấy) và các loại tài liệu trên phương tiện hiện đại (tài liệu điện tử) và các dữ liệu được bao gói như: Cơ sở dữ liệu trực tuyến, đĩa mềm, vi phim, vi phiếu,… Để các nguồn tài liệu đó trở thành nguồn lực thì chúng phải có đầy đủ các đặc trưng dưới đây: Tính vật lý Trước hết NLTT phải được ghi chép trên một nền tảng vật chất nhờ một hệ thống dấu hiệu để vật hóa như giấy, đĩa, băng từ, vi tính,… Những nguồn thông tin tư liệu và phi tư liệu đó là những thực thể sống tồn tại xung quanh chúng ta và ở bên trong chúng ta. Trong bối cảnh của xã hội hiện đại, một thời đại “bùng nổ thông tin” việc vật chất hóa các nguồn thông tin trở nên vô cùng khó khăn. Vì vậy, việc xử lí thông tin, ghi lại và quản trị thông tin trước một khối lượng thông tin khổng lồ như hiện nay cần phải đầu tư nhiều về nhân lực và vật lực,… Tính cấu trúc Cấu trúc tính của NLTT là một yếu tố rất cần thiết.
Bởi vì, NLTT muốn kiểm soát được thì phải có tính cấu trúc, đó là những thông tin được ghi lại theo những thể thức và tiêu chuẩn nhất quán (về nội dung và hình thức) đảm bảo cho việc bảo quản, khai thác và sử dụng cách dễ dàng, thuận lợi. Điển hình của tính cấu trúc của NLTT là tính phân cấp trong tổ chức dữ liệu: trật tự của các yếu tố dữ liệu trong kho hay các biểu ghi trong cơ sở dữ liệu đều phải dự vào nguyên lý ngôi thứ, quan hệ hay mạng dữ liệu nội dung hoặc hình thức của tài liệu Tính truy cập 17 Một đặc tính khác của thông tin là tính truy cập. Thông tin được truy cập là những thông tin cung cấp giá trị cho con người trong hoạt động thực tiễn. Thông tin chỉ có giá trị khi nó được truyền đi, phổ biến và sử dụng.
Con người luôn cần tìm kiếm thông tin, thông tin phải được truy cập, phải được chạm tới, phải phục vụ cho cuộc sống của con người. Để truy cập thông tin phải thông qua các điểm truy cập của nó được xây dựng trên bộ máy tra cứu truyền thống như: Mục lục chữ cái tên sách – tác giả, mục lục phân loại,… trên các CSDL như: thuật ngữ tìm kiếm, các từ khóa từ chuẩn… và các điểm truy cập trên cơ CSDL này phải kết nối với nhau bằng các toán tử logic. Tính chia sẻ Để thỏa mãn nhu cầu thông tin một cách cao nhất và để tiết kiệm kinh phí trong các thao tác nghiệp vụ như bổ sung, xử lí,…các Trung tâm TT-TV và trung tâm thông tin cần có khả năng sử dụng nhiều loại thông tin từ các nơi khác nhau. Thực chất đây là sự chia sẻ NLTT.
Tính chia sẻ của NLTT thể hiện ở khả năng có thể trao đổi thông tin đa chiều giữa các hệ thống thông tin với nhau. Tính chia sẻ của NLTT hiện nay đang được các Trung tâm TT-TV và trung tâm thông tin quan tâm cách đặc biệt, bởi vì nó là phương tiện để các TT-TV và trung tâm thông tin đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của NDT khi mà NLTT của mỗi Trung tâm TT-TV riêng lẻ không đáp ứng được nhu cầu truy cập, sử dụng thông tin trong một xã hội hiện đại và phát triển hiện nay. Việc chia sẻ NLTT truyền thống chủ yếu dựa vào các biểu ghi thư mục. NDT của các thư viện khác có thể tìm thấy tài liệu mà mình cần qua các biểu ghi thư mục mà thư viện bạn cung cấp nhưng phải đến thư viện đó để mượn tài liệu.
So với việc chia sẻ NLTT truyền thống thì NLTT điện tử thì đơn giản và thuận lợi hơn nhiều. Nếu các CSDL trực tuyến thì NDT có thể đọc được 18 trên mạng mà không cần phải đến tận nơi lưu trữ tài liệu đó. Việc chia sẻ chỉ là cách thức truy cập tới nguồn thông tin đó mà thôi. Tính giá trị Thông tin chỉ có giá trị khi nó được sử dụng.
Thông tin có giá trị là những thông tin phục vụ cho mọi hoạt động trong cuộc sống của con người. Tuy nhiên, để xác định được chất lượng và giá trị của thông tin, thông tin phải có 4 yếu tố sau đây: Phạm vi bao quát nội dung, tính chính xác, tính cập nhật và tần suất sử dụng, trong đó quan trọng nhất là nội dung thông tin và tính chính xác. Để thông tin thật sự trở thành nguồn lực, chúng ta cần chăm lo sao cho thông tin phải tốt. Chúng ta phải đưa thông tin vào cuộc sống con người, để thông tin trở nên gần gũi với con người trong việc giải quyết, quản lí của con người.
Thông tin có giá trị là kết quả của một quá trình lao động sáng tạo của con người. Vai trò và yêu cầu đối với nguồn lực thông tin Vai trò của nguồn lực thông tin NLTT có vai trò quan trọng trong công tác quản lí và nghiên cứu khoa học. Ngày nay tri thức của nhân loại phát triển theo cấp số nhân và ngày càng được ứng dụng vào thực tiễn với tốc độ nhanh hơn. Mọi lĩnh vực hoạt động của con người, đặc biệt là trong lĩnh vực quản lí và nghiên cứu khoa học sẽ không thực hiện được hoặc thực hiện không có hiệu quả nếu thiếu thông tin và tri thức.
Chính vì vậy, việc tạo lập NLTT đầy đủ và trang bị thông tin hiện đại sẽ giúp các nhà nghiên cứu rất nhiều. NLTT là tài sản quý giá, là tiềm năng, là sức mạnh, là thước đo khả năng đổi mới và sáng tạo của mỗi cơ quan, tổ chức. NLTT càng phong phú thì khả năng đáp ứng nhu cầu tin càng lớn do vậy càng có sức lôi cuốn đối với NDT, đồng thời nó cũng có một sức hút khá lớn trong thị trường tin học hóa tư liệu, 19 nhằm tạo ra giá trị của thông tin. Nhà thông tin học người Mỹ Moore đã tổng kết: “Thông tin chỉ có giá trị khi bản thân nó có giá trị và nó được sử dụng” .[16, tr 23-29] Yêu cầu đối với nguồn lực thông tin Thông tin chỉ có thể trở thành NLTT khi nó được tổ chức để thỏa mãn nhu cầu tin của NDT.
Nguồn tin phải đảm bảo các yêu cầu về mặt định lượng, định tính, và có giá trị cho NDT, đảm bảo mức độ bao quát hoặc phản ánh đầy đủ các nguồn tin tiềm năng. Ngoài ra, NLTT phải đáp ứng khả năng truy cập nhiều chiều, khả năng cập nhật và tìm kiếm thông tin một cách nhanh chóng và chính xác. NLTT có chất lượng là nguồn lực đảm bảo các tiêu chí sau: Mức độ bao quát nguồn tin (Profile): Thông tin phải phù hợp với diện bao quát chủ để, có nội dung phù hợp với phạm vi hoạt động của tổ chức, cơ quan. Chất lượng trong các đơn vị cấu thành sản phẩm: Thông tin phải đảm bảo độ tin cậy, không trùng lặp, không bị lỗi thời.
Khả năng cập nhật và tìm kiếm thông tin cần thiết: NLTT phải được đảm bảo khi thông tin đễ dàng được cập nhật trong quá trình sử dụng và dễ dàng truy cập, tìm kiếm khi cần thiết. Từ các tiêu chí này, chúng ta có thể tổng kết, rút kinh nghiệm để hoàn thiện và nâng cao chất lượng NLTT được tạo lập.