phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận án gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về ngƣời dùng tin, nhu cầu tin và đặc điểm ngƣời khiếm thị ở Việt Nam Chƣơng 2: Thực trạng nhu cầu tin của ngƣời dùng tin khiếm thị tại Việt Nam Chƣơng 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả đáp ứng và kích thích nhu cầu tin cho ngƣời dùng tin khiếm thị tại Việt Nam 19 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƢỜI DÙNG TIN, NHU CẦU TIN VÀ ĐẶC ĐIỂM NGƢỜI KHIẾM THỊ Ở VIỆT NAM 1. Những vấn đề chung về ngƣời dùng tin và nhu cầu tin 1. Người dùng tin 1. Khái niệm người dùng tin Theo nghĩa rộng đƣợc sử dụng phổ biến trong xã hội, NDT là con ngƣời cụ thể trong xã hội, có nhu cầu tìm kiếm, khai thác, sử dụng TT để đáp ứng, thỏa mãn các NCT của mình bằng các phƣơng tiện khác nhau.
Trong hoạt động TT-TV, NDT đƣợc hiểu là ngƣời sử dụng các SP&DVTT của cơ quan TT-TV để đáp ứng NCT của mình. Trong tiếng Việt, NDT đƣợc biểu thị bằng những thuật nhữ khác nhau nhƣ: bạn đọc, độc giả, ngƣời đọc. Trong tiếng Anh cũng có nhiều từ khác nhau để chỉ NDT của cơ quan TT-TV nhƣ “user” (ngƣời sử dụng), “reader” (ngƣời đọc), “customer” (khách hàng). Nwalo (2003) [87] xác định“user” - ngƣời sử dụng là bất cứ ai truy cập vào cơ quan TT-TV với mục đích khai thác tài nguyên của đơn vị đó để đáp ứng NCT của mình.
Từ "truy cập" đƣợc nhấn mạnh nhƣ đƣợc sử dụng trong thế kỷ XXI, bao gồm truy cập từ xa vào cổng TT-TV hoặc trang web. Aina (2004) [87] cho rằng thuật ngữ “user” -"ngƣời dùng" bao gồm tất cả những ngƣời tận dụng các DV đƣợc cung cấp bởi một cơ quan TT-TV. Thuật ngữ này bao gồm các thuật ngữ khác nhau nhƣ: khách hàng, ngƣời sử dụng TT, ngƣời tìm kiếm TT, ngƣời tiêu dùng, độc giả. những thuật ngữ này có thể đƣợc sử dụng hoán đổi cho nhau, bởi vì tất cả đều sử dụng cho những ngƣời tìm kiếm DV của cơ quan TT-TV.
Có thể nhận thấy, trong các khái niệm trên, thuật ngữ “người dùng” đƣợc hiểu với ý nghĩa rộng, là ngƣời sử dụng các nguồn và DV của một cơ quan TT-TV nói chung chứ không phải chỉ là ngƣời có nhu cầu về TT và sử dụng các DV TT-TV chỉ để đáp ứng nhu cầu TT của mình. 20 Nhƣ vậy, có thể coi NDT là một người (cá nhân) hoặc nhiều người (nhóm, tập thể, cơ quan, tổ chức) sử dụng TT thông qua các SP&DV của các cơ quan TT- TV nhằm mục đích thoả mãn NCT của mình. Với cách hiểu đó, NDT là đối tƣợng phục vụ của hoạt động TT-TV. Mục đích cuối cùng của hoạt động TT-TV là thoả mãn đầy đủ nhất NCT của NDT, vì thế có thể coi NDT là khách hàng của các cơ quan TT-TV, là yếu tố không thể thiếu đƣợc trong hoạt động TT-TV.
Mặt khác, khi sử dụng TT, họ có thể sáng tạo ra TT mới, góp phần làm cho nguồn tin phát triển. Phân loại người dùng tin Căn cƣ́ vào các tiêu chí, dấ u hiê ̣u khác nhau, ta có thể phân nhóm NDT. Việc phân nhóm là cơ sở giúp cho các cơ quan TT-TV tổ chức hoạt động, xây dựng các SP và tiến hành các DV hiệu quả, chính xác và kịp thời. Căn cứ vào nghề nghiệp của NDT, ta có thể đƣợc chia thành nhóm theo tính chất hoạt động lao động: NDT đại chúng, NDT khoa học và NDT là cán bộ quản lý [46] hoặc theo lĩnh vực lao động: nghiên cứu, sản xuất, kinh doanh và DV.; Căn cứ vào giới tính của NDT, ta có thể chia thành nhóm nam và nữ; Căn cứ vào lứa tuổi của NDT, ta có thể chia thành các nhóm chính: trẻ sơ sinh, trẻ em, thiếu nhi, thanh thiếu niên, thanh niên, trung niên, cao niên; Căn cứ vào trình độ văn hoá của NDT, ta có thể chia thành các nhóm: mù chữ, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học; sau đại học; Căn cứ vào năng lực TT của NDT, ta có thể chia thành các nhóm: NDT có kỹ năng TT rất thành thạo, NDT có kỹ năng TT thành thạo, NDT có kỹ năng TT chƣa thành thạo, NDT chƣa có có kỹ năng TT; Căn cứ vào sức khỏe của NDT, ta có thể chia thành các nhóm là: NDT bình thƣờng; NDT là bệnh nhân và NDT là ngƣời khuyết tật (hay còn gọi là nhóm NDT yếm thế cụ thể gồm: ngƣời khiếm thị, ngƣời khiếm thính, ngƣời khuyết tật vận động, ngƣời có vấn đề về trí tuệ…).
Tùy tình hình thực tế , ta có thể sử dụng các tiêu chí , dấ u hiê ̣u khác để phân nhóm NDT. Tóm lại, cách phân chia nhóm NDT nhƣ trên là tƣơng đối. Vai trò của người dùng tin trong hoạt động thông tin - thư viện Ngƣời dùng tin có vai trò quan trọng đối với hoạt động TT-TV. Với tƣ cách là khách hàng sử dụng kết quả của hoạt động TT-TV, NCT của NDT là cơ sở để định hƣớng các hoạt động TT-TV, đồng thời mức độ đáp ứng NCT của họ là thƣớc đo hiệu quả hoạt động của các cơ quan TT-TV, làm cơ sở để điều chỉnh hoạt động TT-TV.
Người dùng tin là đối tượng của mọi cơ quan TT-TV cần hướng đến để thỏa mãn tối đa nhu cầu thông tin, tài liệu của họ. Ngƣời dùng tin là một trong bốn yếu tố cấu thành của các cơ quan TT-TV. Không có họ sẽ không tồn tại cơ quan TT-TV. NCT của NDT quyết định chức năng, nhiệm vụ của cơ quan TT-TV.
Hoạt động TT-TV đƣợc xem xét nhƣ một hoạt động đặc trƣng của con ngƣời, gồm 03 yếu tố cấu thành: Động cơ/động lực hoạt động; Mục đích hoạt động; Phƣơng tiện hoạt động. Trong ba yếu tố đó, động cơ hoạt động đóng vai trò quan trọng nhất với tƣ cách nhƣ là nguồn gốc và yếu tố kích thích hoạt động của các cơ quan TT-TV. Do vậy, NDT chính là chủ thể của NCT - yếu tố quyết định đến sự hình thành và phát triển của hoạt động TT-TV. Nói cách khác, NCT của NDT quy định mọi hoạt động của cơ quan TT-TV ngay từ lúc bắt đầu đƣợc thành lập cho đến toàn bộ quá trình hoạt động của cơ quan đó.
Nội dung NCT của NDT quyết định đến mọi hoạt động của cơ quan TT-TV. Điều đó cũng có nghĩa là cơ quan TT-TV muốn tồn tại và phát triển phải lấy việc thỏa mãn nhu cầu TT của NDT trong mỗi giai đoạn cụ thể và bối cảnh cụ thể làm mục tiêu hƣớng đến. Ngƣời dùng tin còn chính là khách hàng sử dụng đầu ra là các SP&DVTT của cơ quan đó khi tiếp cận, sử dụng các loại SP&DVTT để tìm kiếm thông tin, tài liệu phù hợp với NCT của mình. Người dùng tin là nhân tố điều chỉnh, định hướng cho hoạt động TT-TV Khi sử dụng các SP&DVTT để tìm kiếm, khai thác TT phù hợp với NCT của mình, NDT sẽ phân tích, đánh giá chất lƣợng các SP, DV và TT đƣợc cung cấp.
Những TT phản hồi - ý kiến đánh giá của NDT trong quá trình sử dụng các 22 SP&DVTT là cơ sở để điều điều chỉnh hoạt động của cơ quan TT-TV nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ cho phù hợp với nhu cầu của NDT. Ngƣời dùng tin giữ vai trò quan trọng trong các hệ thống TT. Họ nhƣ là yếu tố tƣơng tác hai chiều với các đơn vị TT. NDT luôn là cơ sở để định hƣớng các hoạt động của đơn vị TT.
Họ tham gia vào hầu hết các công đoạn của dây chuyền TT. Họ biết các nguồn TT và có thể thông báo hoặc đánh giá các nguồn tin đó. Trong hoạt động TT-TV, chính sách bổ sung, phát triển nguồn tin/tài liệu phụ thuộc vào yêu cầu của NDT. Nhu cầu tin của NDT cũng luôn thay đổi tùy theo bối cảnh, môi trƣờng và nhiệm vụ cụ thể của họ để giải quyết các vấn đề đặt ra trong công việc và cuộc sống.
Nhƣ vậy, NDT là nhân tố điều chỉnh, định hướng cho hoạt động của các cơ quan TT-TV. Mỗi cơ quan TT-TV có chức năng, nhiệm vụ riêng khi họ có những nhóm NDT khác nhau. Nhu cầu tin 1. Khái niệm nhu cầu tin * Nhu cầu Nhu cầu của con ngƣời nảy sinh do kết quả tác động qua lại của hoàn cảnh bên ngoài, trong đó quan trọng nhất là tác động từ thực tiễn lao động, sản xuất để tồn tại và phát triển của xã hội loài ngƣời.
Nhu cầu của con ngƣời bao gồm: nhu cầu vật chất, gắn liền với sự tồn tại của cơ thể nhƣ nhu cầu: ăn, ở, mặc, sinh sản; Nhu cầu tinh thần đó là nhu cầu nhận thức (học tập, rèn luyện), nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu lao động, nhu cầu giao lƣu và nhu cầu hoạt động xã hội… Các nhà tâm lý học Mác xít cho rằng nhu cầu là một hiện tƣợng tâm lý của con ngƣời. Nhu cầu là đòi hỏi khách quan, mong muốn của con ngƣời đối với đối tƣợng nào đó, trong những điều kiện nhất định nhằm đảm bảo duy trì cho sự sống và phát triển cả về tinh thần và vật chất của con ngƣời. Nô ̣i dung nhu cầ u là đố i tƣơ ̣ng mà con ngƣời hƣớng tới nhằ m thỏa mañ nhu cầ u đó của mình. Nhu cầu đƣợc kích thích nảy sinh do sự tác động qua lại của môi trƣờng tới con ngƣời.
Do vậy, trong mỗi giai đoạn khác nhau, trong mỗi môi trƣờng điều kiện và hoàn cảnh khác nhau, nhu cầu của con ngƣời cũng khác nhau về mọi đối tƣợng. Trong môi trƣờng mới nhu cầu cũ có thể sẽ mất đi hoặc phát triển và nảy sinh các nhu cầu mới. Hệ 23 thống nhu cầu có vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của mỗi ngƣời, có mối quan hệ biện chứng, chi phối lẫn nhau. Các nhu cầu của con ngƣời nếu đƣợc thỏa mãn sẽ có tác động rất lớn tới chất lƣợng cuộc sống, kích thích xã hội phát triển.
Trong mỗi con ngƣời có nhiều loại nhu cầu cùng tồn tại, nhƣng ở mỗi môi trƣờng cụ thể có một loại nhu cầu chính có tính định hƣớng cho hoạt động chủ đạo và chi phối các nhu cầu cũng nhƣ các hoạt động khác của con ngƣời. “Nhu cầu trong trạng thái gặp gỡ với đối tượng có khả năng thoả mãn nó trở thành động cơ của hoạt động, yếu tố định hướng bên trong cho hoạt động của con người” và “Nhu cầu thúc đẩy con người tích cực hoạt động nhằm tạo nên những điều kiện, những phương tiện tương ứng để thoả mãn những đòi hỏi của mình“ [21, tr.