Tổng quan luận án

Trong bối cảnh bùng nổ thông tin và sự hình thành của xã hội tri thức tại thế kỷ XXI, thông tin đã trở thành một nguồn lực thiết yếu đối với mọi hoạt động của con người. Tuy nhiên, việc tiếp cận nguồn lực này không diễn ra đồng đều giữa các tầng lớp xã hội. Người khiếm thị – nhóm đối tượng chịu tổn thương về chức năng thị giác – gặp phải những rào cản nghiêm trọng trong việc tiếp nhận và trao đổi thông tin bằng các phương tiện thông thường, dẫn đến nguy cơ chịu thiệt thòi về văn hóa, tri thức, nảy sinh tâm lý mặc cảm và hạn chế khả năng hòa nhập xã hội. Tại Việt Nam, chủ trương phát triển bền vững đặt trọng tâm vào công bằng xã hội, đảm bảo quyền tiếp cận thông tin cho mọi công dân thông qua các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Người khuyết tật năm 2010 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016. Mặc dù các thư viện công cộng và tổ chức xã hội đã bắt đầu triển khai các hoạt động phục vụ người khiếm thị, công tác này phần lớn vẫn mang tính tự phát, thời điểm và cục bộ do thiếu sự hiểu biết thấu đáo về nhu cầu tin của nhóm đối tượng đặc thù này.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định xuất phát từ thực tế: các cơ quan quản lý và tổ chức xã hội như Tổng cục Thống kê, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Người mù Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ chưa có công trình điều tra quy mô toàn quốc và toàn diện về người khiếm thị (về số lượng, cơ cấu lứa tuổi, giới tính, nguyên nhân khiếm thị, trình độ văn hóa và tâm lý). Trong hoạt động thông tin - thư viện, cũng chưa có công trình nào khảo sát trên phạm vi toàn quốc về nhu cầu thông tin, tài liệu cũng như việc sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin của người khiếm thị. Các số liệu hiện có chỉ mang tính cục bộ: năm 2002, Viện Mắt Trung ương ước tính có khoảng 900.000 người khiếm thị, trong đó có hơn 600.000 người mù (chiếm 1,2% dân số cả nước); năm 2015, Tổ chức Ủy ban phòng chống mù lòa quốc tế (IAPB) thống kê Việt Nam có gần 2,3% dân số bị khiếm thị hoặc suy giảm thị lực trên tổng số gần 93 triệu dân, kèm dự báo con số này có thể gia tăng mạnh nếu không có các biện pháp can thiệp hiệu quả.

Mục đích nghiên cứu của luận án là nhận dạng nhu cầu tin của người dùng tin khiếm thị tại Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm đáp ứng đầy đủ và kích thích nhu cầu tin của họ phát triển hài hòa, lành mạnh, tạo điều kiện cho người khiếm thị hòa nhập cộng đồng, tiếp cận thông tin một cách bình đẳng và độc lập.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 03 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến người dùng tin, nhu cầu tin và đặc điểm nhu cầu tin của người khiếm thị tại Việt Nam.
  2. Khảo sát, đánh giá thực trạng nhu cầu tin của người dùng tin khiếm thị tại Việt Nam và những yếu tố tác động (đặc biệt là hoạt động thông tin - thư viện) tới việc đáp ứng, phát triển nhu cầu tin cho người khiếm thị ở Việt Nam.
  3. Đề xuất các giải pháp thỏa mãn và kích thích nhu cầu tin cho người dùng tin khiếm thị tại Việt Nam, giúp họ có điều kiện hội nhập, bình đẳng và độc lập trong việc sử dụng và tiếp cận thông tin.

Giả thuyết khoa học của luận án chỉ ra rằng: Người dùng tin khiếm thị tại Việt Nam có nhu cầu tin tương đối đa dạng về hình thức thể hiện nhưng nội dung thông tin còn mang tính phiến diện, chủ yếu tập trung vào một số lĩnh vực đời sống nhất định và một số dạng tài liệu chuyên biệt. Mặc dù việc đáp ứng và kích thích nhu cầu tin của đối tượng này là trách nhiệm của toàn xã hội với vai trò nòng cốt thuộc về hệ thống cơ quan thông tin - thư viện, thực tế việc đáp ứng hiện nay còn rất hạn chế. Để giải quyết vấn đề, hệ thống thông tin - thư viện cần chủ động nắm bắt nhu cầu thực tế để kiện toàn mạng lưới, mở rộng nguồn tin, đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ, đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, đồng thời phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước triển khai đồng bộ các chính sách an sinh xã hội.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nhu cầu tin của người dùng tin khiếm thị đến thư viện sử dụng thông tin tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung vào các nhóm người dùng tin khiếm thị đang có điều kiện tiếp cận thông tin tại các cơ sở của Hội Người mù, trường học chuyên biệt dành cho người khiếm thị, hệ thống thư viện công cộng, thư viện sách nói tại ba miền Bắc, Trung, Nam (tiêu biểu như Hà Nội, Thừa Thiên Huế, Thành phố Hồ Chí Minh). Phạm vi thời gian nghiên cứu bao quát giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo hai trục nội dung chính:

Về lý luận người dùng tin, nhu cầu tin và hành vi thông tin trên thế giới: Các công trình nền tảng của T. Wilson (1981, 1994, 2006) đã định hình các khái niệm cơ bản về người dùng tin, nhu cầu tin, hành vi thông tin và phương pháp điều tra nhu cầu; nhóm tác giả Karen E. Fisher, Sanda Erdelez, Lynne E. McKechnie (2009) hệ thống hóa hơn 70 khung khái niệm lý thuyết về hành vi thông tin; Chowdhury (2011) nghiên cứu khả năng sử dụng thông tin trong môi trường số. Đi sâu vào đối tượng người khiếm thị, Niran Adetoro (2010) khảo sát nhu cầu tin của người khiếm thị tại Nigeria; Sufang Wang và Jieli Yu (2017) phân tích hành vi thông tin hàng ngày của người khiếm thị tại Trung Quốc.

Về hoạt động thư viện phục vụ người khiếm thị: Các nghiên cứu quốc tế tập trung vào mô hình tổ chức dịch vụ và cơ sở vật chất như Weisse Randy (1999) tại Philippines; Rosemary Kavanagh và Beatrice Christensen Skold (2005) xây dựng hướng dẫn phát triển thư viện cho người mù; J. Rayini (2017), Eresa Marie (2001), Alex Byrne (2005), Rosemary Griebe (2000), Linda Hopkins (2004), Margaret Kinnell, Liangzhi Yu và Claire Creaser (2000), Courtney Deines-Jones (2007), Nongnath Chairat (1999), Richard J. Smith (2010), Ruth A. Velleman (1990), Arzu Gurdal Dursin (2012). Ở khía cạnh ứng dụng công nghệ thông tin và khả năng truy cập web, các công trình của Marij Van Bodengraven và Carall Politt (2003), Vojtech Regec (2016), Klaus Miesenberger và Georgios Kouroupetroglou (2018), Michael G. Paciello (2000) đã phân tích các rào cản kỹ thuật số và thiết kế giao diện trực tuyến phù hợp cho người khiếm thị. Ngoài ra, Dự án tăng cường tiếp cận thông tin cho người khiếm thị do Quỹ FORCE (Hà Lan) tài trợ tại Việt Nam từ năm 2000 đến 2010 đã tổ chức 08 hội thảo quốc tế tại Malaysia, Anh, Philippines, Thụy Điển, Mỹ, Hà Lan, chuyển giao các quy trình kỹ thuật sản xuất sách chữ nổi Winbraille, nhạc Braille, sách nói kỹ thuật số định dạng DAISY và tài liệu đồ họa xúc giác.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về người dùng tin nói chung được đánh dấu bởi công trình của Trần Thị Minh Nguyệt (2011). Về mảng dịch vụ cho người khiếm thị, Quỹ FORCE triển khai 11 chương trình dự án, dẫn tới sự ra đời của các tài liệu hướng dẫn thực hành của Nguyễn Thị Bắc (2003, 2005). Các bài báo chuyên ngành của Vĩnh Quốc Bảo (2009), Nguyễn Danh Thuận (2005), Nguyễn Thị Hồng Nhị (2004), Nguyễn Thị Quỳnh Nga (2002), Thanh Vân (2000), Trần Kim Thư (1999), Trần Thị Quý (2011), Trần Thị Thanh Vân và Trần Dĩ Hòa (2011) đã phản ánh hoạt động của phòng đọc khiếm thị và các loại hình sản phẩm đặc thù. Một số luận văn thạc sĩ đã tiếp cận chủ đề này ở phạm vi hẹp như Hoàng Tố Uyên (2006), Nguyễn Chí Trung (2015), Nguyễn Thị Thu Hương (2017). Ở các lĩnh vực liên ngành, các chuyên gia giáo dục và tâm lý học như Phạm Minh Mục (1999, 2004), Nguyễn Xuân Hải (2005), Nguyễn Đức Minh (2004) cung cấp cơ sở về tâm sinh lý và giáo dục hòa nhập; các nghiên cứu y học của Nguyễn Thị Thu Hiền (2012) và nhóm tác giả Bộ Y tế (2015) làm rõ cơ chế tổn thương thị giác.

Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết: Toàn bộ các công trình trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề từ góc độ bên "cung" – tức là tập trung vào kỹ thuật sản xuất tài liệu nổi, tổ chức phòng đọc, xây dựng bộ sưu tập hay cung cấp dịch vụ thông tin sẵn có. Chưa có một công trình nào khảo sát có hệ thống từ phía bên "cầu" – tức là trực tiếp nhận dạng nhu cầu thông tin nội tại của người khiếm thị: họ thực sự cần nội dung gì, hình thức nào, sử dụng theo phương thức và tập quán ra sao, gặp phải những khó khăn gì khi tiếp cận dịch vụ thư viện trên quy mô cả nước. Luận án ra đời nhằm giải quyết khoảng trống thực nghiệm và lý luận này.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng lý luận đa ngành giữa Khoa học Thông tin - Thư viện, Tâm lý học và Tật học:

  • Khái niệm người dùng tin và nhu cầu tin: Sử dụng định nghĩa của Tiêu chuẩn Quốc gia TCVN 10274-2013, kết hợp với các quan điểm của Nwalo (2003) và Aina (2004) về khái niệm người sử dụng dịch vụ thư viện. Về bản chất tâm lý của nhu cầu, luận án kế thừa quan điểm tâm lý học Mác-xít từ Coovaliôp A. (1971) với 04 loại nhu cầu (nhu cầu vật chất, tinh thần, lao động, giao tiếp), quan điểm của C. Mác và Ph. Ăngghen về nhu cầu là động lực của hoạt động, cũng như tháp 05 bậc nhu cầu của Abraham Maslow (sinh lý, an toàn, xã hội, tôn trọng, tự hoàn thiện).
  • Khung phân tích nhu cầu tin: Luận án áp dụng tháp 05 bậc nhu cầu thông tin của G. Chowdhury và Subdata Chowdhury (nhu cầu thông tin sao chép, nhu cầu thông tin giúp đỡ, nhu cầu thông tin làm sáng tỏ, nhu cầu thông tin được trao quyền, nhu cầu thông tin khai sáng); mô hình 04 giai đoạn hình thành nhu cầu của R. S. Taylor (1991: nhu cầu bản năng, nhu cầu được ý thức, nhu cầu chính thức, nhu cầu thỏa hiệp). Luận án chọn hướng tiếp cận phân loại nhu cầu tin theo đặc tính đối tượng (nội dung lĩnh vực tri thức, hình thức tài liệu, ngôn ngữ tài liệu) và cách thức hướng tới thỏa mãn nhu cầu (mục đích sử dụng, nguồn tin, sản phẩm và dịch vụ thông tin, thời gian và không gian khai thác).
  • Cơ sở tật học và tâm sinh lý người khiếm thị: Dựa trên thuyết bù trừ chức năng (V. Ster, 1921), quy luật hoạt động nhận thức 06 mức độ của Benjamin Bloom, các kết quả nghiên cứu của Phạm Minh Mục về ngưỡng cảm giác ngón tay của người khiếm thị là 1,2 mm (so với 2,2 mm ở người mắt sáng), giải thích tính tương thích sinh lý đối với ký tự chữ nổi Braille (khoảng cách 2,2 - 2,5 mm giữa các chấm nổi). Khái niệm người khiếm thị được đối chiếu giữa chuẩn y tế của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh (NHS), Viện Nghiên cứu Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ (NIH) và quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2009).

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm sự kết hợp giữa định tính và định lượng:

  • Phương pháp luận: Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về thông tin - thư viện và người khuyết tật.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Thu thập, hệ thống hóa các tài liệu pháp quy, báo cáo khoa học trong và ngoài nước.
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tác giả thiết kế phiếu khảo sát dành riêng cho người khiếm thị. Tổng số phiếu phát ra là 500 phiếu, số phiếu thu về hợp lệ là 458 phiếu (đạt tỷ lệ 91,6%). Kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên được thực hiện trên ba miền Bắc - Trung - Nam, bao quát các đối tượng tại Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Thư viện Hà Nội, các cấp Hội Người mù (Trung ương, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Thừa Thiên Huế), các trường Nguyễn Đình Chiểu, trung tâm giáo dục trẻ khiếm thị và nhóm sinh viên khiếm thị tại một số trường đại học.
  • Phương pháp phỏng vấn, mạn đàm: Do rào cản thị giác của đối tượng, tác giả và các cộng tác viên tiến hành phỏng vấn trực tiếp nội dung phiếu hỏi đối với người khiếm thị; đồng thời phỏng vấn sâu cán bộ quản lý, cán bộ phục vụ thư viện, giáo viên các trường chuyên biệt, cán bộ quản lý thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng cục Thống kê và Hội Chữ thập đỏ.
  • Phương pháp thống kê: Xử lý toàn bộ số liệu điều tra định lượng thông qua phần mềm SPSS.
  • Phương pháp so sánh và quan sát: Đối chiếu thực trạng phục vụ tại Việt Nam với các mô hình quốc tế; quan sát trực tiếp hành vi tiếp cận tài liệu của người khiếm thị tại cơ sở.
Thông số nghiên cứu Dữ liệu thực tế
Số phiếu điều tra phát ra 500 phiếu
Số phiếu điều tra thu về hợp lệ 458 phiếu (Tỷ lệ 91,6%)
Công cụ xử lý thống kê Phần mềm SPSS
Địa bàn khảo sát (3 miền) Bắc (Hà Nội), Trung (Thừa Thiên Huế), Nam (TP. Hồ Chí Minh)
Đơn vị khảo sát tiêu biểu Thư viện Hà Nội, TV KHTH TP.HCM, Hội Người mù các cấp, Trường Nguyễn Đình Chiểu
Phương pháp phối hợp Phân tích tài liệu, Bảng hỏi, Phỏng vấn sâu, Quan sát thực địa, So sánh

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề chung về người dùng tin, nhu cầu tin và đặc điểm người khiếm thị ở Việt Nam

Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lý thuyết về người dùng tin, bản chất của nhu cầu tin và các đặc điểm thể chất, tâm lý xã hội của người khiếm thị. Nhu cầu tin được định nghĩa là đòi hỏi khách quan của con người trong việc tiếp nhận và sử dụng thông tin để duy trì các hoạt động sống. Nhu cầu tin mang 03 đặc điểm bản chất: tính xã hội (chịu sự chi phối sâu sắc của môi trường kinh tế, chính trị, văn hóa), tính bền vững (tồn tại trong khoảng thời gian nhất định gắn với nhiệm vụ sống) và tính cơ động (thay đổi linh hoạt tùy theo mức độ đáp ứng của môi trường). Các yếu tố tác động tới nhu cầu tin được phân thành hai nhóm: nhóm yếu tố môi trường - thể chế (bối cảnh kinh tế - xã hội, hạ tầng công nghệ thông tin và cơ sở vật chất thư viện, hệ thống sản phẩm và dịch vụ thông tin, nhận thức của người lãnh đạo) và nhóm yếu tố thuộc về bản thân người dùng tin (lứa tuổi, giới tính, trình độ học vấn, năng lực thông tin, nghề nghiệp, đặc điểm tâm lý cá nhân).

Về mặt tật học, người khiếm thị bị suy giảm một phần hoặc toàn bộ chức năng thị giác – giác quan vốn tiếp nhận tới 85% lượng thông tin từ thế giới bên ngoài. Do đó, quá trình nhận thức của họ vận hành theo quy luật bù trừ, trong đó cơ quan thính giác và xúc giác giữ vai trò thay thế chủ đạo. Khảo sát các nghiên cứu chuyên ngành cho thấy ngưỡng cảm giác phân biệt ngón tay của người khiếm thị đạt độ tinh nhạy 1,2 mm, cho phép họ giải mã được hệ thống chữ nổi Braille. Về tâm lý, sự hạn chế thị giác làm suy giảm khả năng bắt chước điệu bộ, cử chỉ nét mặt, khiến người khiếm thị gặp khó khăn trong giao tiếp không lời, dễ hình thành tâm lý tự ti, mặc cảm, sống khép kín và thụ động trong việc bộc lộ nhu cầu thông tin. Về mặt dịch tễ học, dẫn liệu từ IAPB (2015) ghi nhận người khiếm thị tập trung nhiều nhất tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình thuộc Châu Á (chiếm 62% tổng số toàn cầu); tại Việt Nam, người khiếm thị chiếm khoảng 2,3% dân số. Thống kê của Bruce và cộng sự được trích dẫn cho thấy các kênh tiếp nhận thông tin chủ yếu của người lớn khiếm thị gồm: nói chuyện trực tiếp (85%), tivi (64%), radio (63%), báo in (41%), băng đĩa hoặc sách nói (13%), báo nói (7%) và sách viết bằng chữ Braille (1%).

Chương 2: Thực trạng nhu cầu tin của người dùng tin khiếm thị tại Việt Nam

Chương 2 trình bày toàn bộ kết quả phân tích định lượng từ 458 phiếu khảo sát và dữ liệu định tính thu thập được, phân theo các nhóm chỉ báo:

  • Mục đích và mức độ sử dụng thông tin: Người khiếm thị sử dụng thông tin nhằm phục vụ học tập văn hóa, học nghề, phục vụ công việc chuyên môn (như xoa bóp bấm huyệt, thủ công mỹ nghệ, âm nhạc), tìm hiểu kiến thức chăm sóc sức khỏe và giải trí. Thời gian sử dụng tài liệu không đồng đều, tần suất đến thư viện nhìn chung còn thấp. Luận án thống kê các lý do chính khiến người khiếm thị ít hoặc không đến thư viện bao gồm: khó khăn trong di chuyển và giao thông, thiếu phương tiện trợ thị, thư viện thiếu tài liệu chuyên biệt phù hợp, và tâm lý e ngại.
  • Nhu cầu về nội dung thông tin: Nhu cầu nội dung bộc lộ tính phiến diện rõ rệt. Tỷ lệ quan tâm cao nhất tập trung vào các nội dung mang tính ứng dụng trực tiếp đối với cuộc sống hàng ngày (phổ biến kiến thức y học, kỹ năng sinh hoạt, kỹ năng định hướng di chuyển), tiếp đến là tài liệu văn học, nghệ thuật, âm nhạc nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí và giải tỏa áp lực tâm lý. Các nội dung về khoa học kỹ thuật chuyên sâu, triết học, kinh tế vĩ mô có tỷ lệ nhu cầu rất thấp. Nhu cầu nội dung có sự phân hóa theo độ tuổi (thanh thiếu niên tập trung vào học tập và công nghệ; người lớn tuổi quan tâm tới tin tức xã hội và y tế) và giới tính. Về ngôn ngữ, nhu cầu chủ yếu là tiếng Việt, tỷ lệ có nhu cầu tài liệu ngoại ngữ chiếm tỷ lệ nhỏ do rào cản trình độ.
  • Nhu cầu về hình thức thông tin và công nghệ: Người khiếm thị có nhu cầu đa dạng về dạng thức tài liệu: sách chữ nổi Braille (đặc biệt quan trọng với người khiếm thị trẻ tuổi đang học tập), sách nói kỹ thuật số (băng đĩa, đĩa CD, tệp âm thanh số định dạng DAISY), sách chữ in phóng đại (dành riêng cho nhóm người nhược thị còn khả năng nhận biết thị giác). Nhu cầu khai thác máy tính, mạng Internet, điện thoại di động thông minh có cài đặt phần mềm đọc màn hình và email đang gia tăng nhanh chóng, phản ánh sự chuyển dịch sang môi trường số.
  • Tập quán sử dụng và mức độ đáp ứng: Địa điểm khai thác thông tin chủ yếu diễn ra tại gia đình và cơ sở của Hội Người mù địa phương; thư viện công cộng chưa trở thành điểm đến quen thuộc. Người khiếm thị có thói quen nhờ người thân, tình nguyện viên đọc giúp tài liệu chữ đen thông thường. Đánh giá về cơ sở vật chất và sản phẩm dịch vụ thư viện cho thấy: hạ tầng trang thiết bị tiếp cận (máy vi tính chuyên dụng, bàn phím Braille, máy quét chữ biến đổi giọng nói) tại các thư viện còn thiếu thốn nghiêm trọng; tài liệu chữ nổi và sách nói còn nghèo nàn về đầu sách và chậm cập nhật; đội ngũ cán bộ thư viện phần lớn chưa được trang bị kỹ năng giao tiếp đặc thù và kỹ thuật hỗ trợ người khiếm thị. Do đó, mức độ thỏa mãn nhu cầu tin của nhóm đối tượng này chỉ dừng ở mức trung bình và thấp.
Nhóm chỉ báo nhu cầu tin Đặc điểm và thực trạng ghi nhận từ khảo sát
Mục đích khai thác Học tập văn hóa, học nghề (xoa bóp, âm nhạc), chăm sóc sức khỏe, giải trí
Nội dung thông tin ưu tiên Kỹ năng sống, y học thường thức, tin tức thời sự, tác phẩm văn học nghệ thuật
Dạng thức tài liệu cần thiết Sách chữ nổi Braille, sách nói kỹ thuật số (DAISY), tài liệu chữ in cỡ lớn
Địa điểm tiếp cận chính Gia đình, trụ sở Hội Người mù các cấp, cơ sở giáo dục chuyên biệt
Trở ngại tiếp cận hàng đầu Giao thông đi lại, thiếu thiết bị trợ thị, thiếu tài liệu số hóa tiếp cận được
Đánh giá dịch vụ thư viện Hạ tầng kỹ thuật chuyên dụng còn thiếu, cán bộ thiếu kỹ năng hỗ trợ đặc thù

Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả đáp ứng và kích thích nhu cầu tin cho người dùng tin khiếm thị tại Việt Nam

Dựa trên kết quả khảo sát thực trạng, chương 3 đề xuất hệ sinh thái giải pháp đồng bộ gồm hai nhóm trọng tâm:

Nhóm giải pháp đáp ứng nhu cầu tin cho người dùng tin khiếm thị:

  • Hoàn thiện và phát triển mạng lưới thư viện phục vụ người khiếm thị: Xây dựng các phòng đọc chuyên biệt tại hệ thống thư viện công cộng cấp tỉnh và cấp huyện; thiết lập quan hệ phối hợp chặt chẽ giữa thư viện công cộng với các chi hội người mù và trường khiếm thị trên địa bàn.
  • Phát triển nguồn lực thông tin: Đẩy mạnh công tác xuất bản, chuyển dạng tài liệu sang chữ nổi Braille, sản xuất sách nói kỹ thuật số theo chuẩn DAISY; phát triển nguồn tài liệu chữ phóng đại cho người nhược thị và xây dựng cơ sở dữ liệu đồ họa nổi; đẩy mạnh số hóa tài liệu có khả năng tiếp cận bằng phần mềm đọc màn hình.
  • Đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ thông tin: Triển khai dịch vụ thư viện lưu động đến tận các trung tâm nuôi dưỡng và cơ sở hội; thiết lập dịch vụ luân chuyển, gửi tài liệu qua đường bưu điện miễn phí tới tận nhà; mở rộng dịch vụ mượn liên thư viện giữa các thư viện chuyên biệt.
  • Đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin và cơ sở vật chất: Trang bị máy vi tính có gắn thiết bị hiển thị chữ nổi, cài đặt phần mềm đọc màn hình (như Jaws, NVDA), trang bị kính lúp điện tử, máy phóng đại hình ảnh và đường truyền Internet băng thông rộng tại thư viện; thiết kế không gian tiếp cận không rào cản (đường dẫn xúc giác, biển chỉ dẫn chữ nổi).
  • Đào tạo, bồi dưỡng nhân lực: Nâng cao trình độ nghiệp vụ, trang bị kiến thức tâm lý tật học, kỹ năng giao tiếp và sử dụng các phần mềm chuyên dụng cho cán bộ thư viện.

Nhóm giải pháp kích thích nhu cầu tin cho người khiếm thị:

  • Đào tạo năng lực thông tin cho người khiếm thị: Hướng dẫn kỹ năng đọc chữ nổi, kỹ năng sử dụng máy vi tính, kỹ năng tìm kiếm và đánh giá thông tin trên mạng Internet, giúp họ chuyển từ trạng thái tiếp nhận thụ động sang chủ động khai thác.
  • Đẩy mạnh công tác truyền thông, marketing: Tuyên truyền sâu rộng về các sản phẩm, dịch vụ thông tin của thư viện qua hệ thống phát thanh, các buổi sinh hoạt hội người mù và các phương tiện truyền thông đại chúng.
  • Định hướng nhu cầu tin: Hướng dẫn người khiếm thị mở rộng mối quan tâm từ giải trí thuần túy sang các lĩnh vực tri thức khoa học, pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp và tự tạo việc làm, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống.
  • Tăng cường phối hợp liên ngành: Tạo cơ chế phối hợp giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Người mù Việt Nam nhằm thực thi các chính sách giáo dục hòa nhập, dạy nghề và tài trợ ngân sách cho hoạt động thông tin dành cho người khuyết tật.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận:

  • Luận án hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về người dùng tin và nhu cầu tin của một nhóm người dùng tin đặc thù – người khiếm thị – trong chuyên ngành Khoa học Thông tin - Thư viện tại Việt Nam.
  • Luận án đã tích hợp các mô hình lý thuyết thông tin (tháp nhu cầu thông tin của Chowdhury, phân loại nhu cầu của Taylor) với lý thuyết tật học (thuyết bù trừ giác quan của V. Ster, ngưỡng cảm giác xúc giác của Phạm Minh Mục), từ đó chứng minh mối quan hệ biện chứng giữa tổn thương thị giác với sự hình thành hành vi và cấu trúc nhu cầu thông tin.

Về mặt thực tiễn:

  • Đây là công trình đầu tiên tại Việt Nam tiến hành điều tra, khảo sát thực nghiệm ở quy mô toàn quốc (trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam với 458 phiếu hợp lệ và hàng loạt cuộc phỏng vấn sâu) về nhu cầu tin của người khiếm thị.
  • Cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về mục đích sử dụng, nội dung thông tin cần thiết, định dạng tài liệu mong muốn, tập quán khai thác và mức độ đáp ứng của hệ thống thư viện hiện hành đối với người khiếm thị.
  • Đề xuất hệ thống các giải pháp mang tính khả thi, phân định rõ giữa giải pháp "đáp ứng" (cung cấp nguồn lực, hạ tầng) và giải pháp "kích thích" (đào tạo năng lực thông tin, marketing, định hướng nhu cầu). Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở khoa học trực tiếp phục vụ việc xây dựng dự thảo Luật Thư viện (về sau được Quốc hội thông qua năm 2019) và thực hiện Luật Người khuyết tật, Luật Tiếp cận thông tin.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Mẫu khảo sát của luận án mới chỉ tập trung vào nhóm người khiếm thị đang sinh hoạt tại các tổ chức Hội Người mù, học sinh các trường chuyên biệt hoặc những người đã có điều kiện tiếp cận với hệ thống thư viện. Luận án chưa bao quát được nhóm người khiếm thị ở vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn hẻo lánh – những người chưa từng tham gia các hội nhóm xã hội và hoàn toàn tách biệt với các dịch vụ thông tin.
  • Do rào cản thị giác của đối tượng điều tra, việc thu thập số liệu qua bảng hỏi phải dựa vào sự hỗ trợ đọc và ghi chép hộ từ phía điều tra viên, điều này có thể tạo ra những tác động tâm lý nhất định đến tính khách quan tuyệt đối trong câu trả lời của một số người khiếm thị.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát tới nhóm người khiếm thị tự do ngoài cộng đồng tại các khu vực nông thôn và miền núi nhằm hoàn thiện bức tranh xã hội học về nhu cầu tiếp cận thông tin.
  • Đi sâu nghiên cứu hành vi tìm kiếm thông tin của người khiếm thị trên không gian số, đánh giá tác động của các công nghệ trợ thính thông minh, công nghệ trí tuệ nhân tạo chuyển đổi văn bản thành giọng nói (Text-to-Speech) đối với việc xóa bỏ rào cản tiếp cận thông tin.
  • Xây dựng tiêu chuẩn quốc gia về khả năng tiếp cận thông tin (accessibility standards) đối với các cổng thông tin điện tử, cơ sở dữ liệu số và tài liệu đa phương tiện trong hệ thống thư viện Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cho nhiều đối tượng:

  • Các nhà quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp căn cứ khoa học cho các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo) trong việc xây dựng các văn bản dưới luật, thông tư hướng dẫn thực thi Luật Thư viện, Luật Người khuyết tật và các chính sách an sinh xã hội liên quan đến quyền tiếp cận thông tin.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Là tài liệu nghiên cứu chuyên khảo trong các chuyên ngành Khoa học Thông tin - Thư viện, Công tác xã hội, Giáo dục đặc biệt và Tâm lý học lứa tuổi. Các chương về cơ sở lý luận (Chương 1) và phương pháp luận khảo sát đối tượng yếm thế là tài liệu mẫu mực cho nghiên cứu xã hội học thư viện.
  • Lãnh đạo và cán bộ cơ quan thông tin - thư viện: Giúp các thư viện công cộng, thư viện đại học nhận diện chính xác đối tượng phục vụ, từ đó xây dựng kế hoạch bổ sung vốn tài liệu chuyên biệt (Braille, DAISY, hình nổi), đầu tư trang thiết bị tiếp cận và tổ chức lại các dịch vụ thư viện thân thiện với người khuyết tật.
  • Các cấp Hội Người mù và tổ chức xã hội: Cung cấp luận cứ thực tiễn để các tổ chức hội kiến nghị cơ chế chính sách, đồng thời triển khai các lớp xóa mù chữ Braille và phổ cập tin học hỗ trợ cho hội viên.

Câu hỏi thường gặp

Luận án khảo sát thực tế với quy mô mẫu là bao nhiêu và được thực hiện tại những địa bàn nào? Luận án đã phát ra 500 phiếu điều tra và thu về 458 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ 91,6%). Địa bàn khảo sát đại diện cho cả ba miền Bắc, Trung, Nam, cụ thể tại Thư viện Hà Nội, Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Hội Người mù Việt Nam, Hội Người mù thành phố Hà Nội, Hội Người mù thành phố Hồ Chí Minh, Hội Người mù tỉnh Thừa Thiên Huế, các trường phổ thông đặc biệt Nguyễn Đình Chiểu và một số trường đại học có sinh viên khiếm thị theo học.

Đặc điểm nổi bật nhất về nhu cầu nội dung thông tin của người khiếm thị tại Việt Nam là gì? Nhu cầu về nội dung thông tin của người khiếm thị mang tính phiến diện cao. Họ tập trung chủ yếu vào các nội dung phục vụ cuộc sống thường nhật, kiến thức y học phổ thông, kỹ năng định hướng di chuyển, các ngành nghề lao động truyền thống của người khiếm thị (như xoa bóp bấm huyệt, âm nhạc) và các tác phẩm văn học nghệ thuật giải trí; trong khi đó, nhu cầu đối với các tài liệu khoa học kỹ thuật chuyên sâu, kinh tế và chính trị vĩ mô chiếm tỷ lệ rất thấp.

Những rào cản lớn nhất khiến người khiếm thị ít đến thư viện công cộng được ghi nhận trong luận án là gì? Các rào cản chính gồm: khó khăn về di chuyển và an toàn giao thông; hạ tầng thư viện thiếu các đường dẫn xúc giác và cơ sở vật chất không rào cản; thiếu nghiêm trọng các thiết bị trợ thị chuyên dụng (máy vi tính có phần mềm đọc màn hình, màn hình chữ nổi); nguồn tài liệu chữ Braille và sách nói DAISY còn quá nghèo nàn; và cán bộ thư viện chưa được đào tạo chuyên môn về kỹ năng hỗ trợ người khiếm thị.

Luận án đề xuất giải pháp gì về mặt công nghệ để hỗ trợ người khiếm thị tiếp cận thông tin? Luận án đề xuất trang bị các máy tính chuyên dụng có cài đặt phần mềm đọc màn hình (Jaws, NVDA), bàn phím chữ nổi Braille, máy quét văn bản chuyển đổi sang giọng nói, kính lúp điện tử phóng đại hình ảnh; đẩy mạnh việc sản xuất tài liệu số hóa theo định dạng sách nói DAISY, tạo lập cơ sở dữ liệu xúc giác (đồ họa nổi) và thiết kế giao diện trang web, hệ thống tra cứu trực tuyến OPAC tuân thủ các tiêu chuẩn tiếp cận dành cho người khuyết tật.

Tại sao luận án khẳng định việc phục vụ người khiếm thị phải kết hợp cả "đáp ứng" và "kích thích" nhu cầu tin? Vì người khiếm thị thường có tâm lý tự ti, mặc cảm và hạn chế về năng lực thông tin (nhiều người chưa thành thạo chữ Braille hoặc kỹ năng tin học). Nếu thư viện chỉ chuẩn bị tài liệu (đáp ứng) mà không đào tạo kỹ năng tra cứu, không truyền thông quảng bá và định hướng nhu cầu (kích thích), người khiếm thị sẽ không chủ động tìm đến thông tin, dẫn tới việc lãng phí nguồn lực đầu tư của xã hội.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Thanh Vân đã giải quyết toàn diện vấn đề nhu cầu tin của người khiếm thị tại Việt Nam trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Thông qua khảo sát thực nghiệm quy mô 458 mẫu trên cả ba miền đất nước, công trình đã xác lập bức tranh khoa học chân thực về đặc điểm, cơ cấu và những rào cản trong tiếp cận thông tin của nhóm người dùng tin đặc thù này. Hệ sinh thái giải pháp đồng bộ kết hợp giữa việc đáp ứng nguồn lực chuyên biệt và kích thích năng lực thông tin đã cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho việc hoàn thiện chính sách pháp luật ngành thư viện và thúc đẩy công bằng xã hội. Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu, đóng góp thiết thực vào mục tiêu đảm bảo quyền tiếp cận tri thức và hòa nhập cộng đồng cho người khiếm thị tại Việt Nam.