Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THANH TRA QUẬN. Những vấn đề chung về tổ chức và hoạt động thanh tra 1. Quan niệm, mục đích của hoạt động thanh tra 1. Quan niệm về hoạt động thanh tra Thanh tra – tiếng Anh – Inspect – xuất phát từ gốc Latinh (In-Spectare) có nghĩa là “nhìn vào bên trong” chỉ “một sự xem xét từ bên ngoài vào một đối tượng nhất định”.Theo từ điển tiếng Việt: “ Thanh tra” (người thuộc cơ quan có thẩm quyền) kiểm tra, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp”.
Theo quy định của Luật Thanh tra năm 2010 thì “Thanh tra” (hay còn gọi là Thanh tra nhà nước) có nghĩa: “là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lýtheo trình tự thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Từ sự phân tích trên cho thấy, thanh tra có thể được hiểu: “Thanh tra là một chức năng thiết yếu của cơ quan quản lý nhà nước, là việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan nhà nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân; thường được thực hiện bởi cơ quan chuyên trách theo một trình tự, thủ tục, luật định, nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật”. Trong bất kỳ hoạt động quản lý nào, để đảm bảo cho những mục tiêu đề ra đạt được hiệu quả tốt nhất, thì nhất thiết phải tiến hành công tác thanh tra vì nó là một trong những chức năng hoạt động quản lý. Lênin đã từng nói: “Quản lý đồng thời phải có thanh tra, quản lý và thanh tra là một chứ không 7 phải là hai”, nếu không có thanh tra thì không có quản lý tốt, hay nói một cách khác quản lý sẽ mất đi một chức năng thiết yếu và không thể mang lại hiệu quả[1].
Thanh tra là sự xem xét để làm rõ những hiện tượng, những vụ việc đúng, sai trong quá trình quản lý, trong những vụ việc, hành vi của người thừa hành nhiệm vụ trong công tác quản lý, là một hoạt động không thể thiếu, nhằm phản hồi nhu cầu thông tin của công tác quản lý, đồng thời uốn nắn kịp thời các sai phạm và điều chỉnh chính sách, pháp luật chưa hợp lý, tránh xơ cứng rập khuôn, máy móc, dẫn đến sự quản lý trì trệ, góp phần làm bộ máy trong sạch. Mục đích của hoạt động thanh tra Trong quá trình phát triển của xã hội, luôn xuất hiện những việc làm hay, mạnh dạn thể hiện tư duy, cách suy nghĩ, hành động mới phù hợp với chủ trương đổi mới toàn diện của Đảng nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Trong khi đó, các thước đo, chuẩn mực cho các hoạt động là cơ chế, chính sách lại luôn lạc hậu so với thực tiễn không theo kịp sự phát triển của xã hội. Thông qua hoạt động, thanh tra cùng với việc phát hiện, xử lý những hành vi vi phạm pháp luật cũng đồng thời phát hiện những nhân tố tích cực, khuyến khích, động viên, giúp đỡ tạo điều kiện cho những nhân tố tích cực phát triển.
Do vậy, mục đích nghiên cứu của hoạt động thanh tra là bảo đảm pháp luật được thi hành một cách nghiêm minh, nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước, cũng như đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Hoạt động thanh tra phải tuân theo pháp luật; bảo đảm chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ, kịp thời. Hoạt động thanh tra phải tuân theo pháp luật là yêu cầu đầu tiên và trước hết đối với cán bộ, thanh tra viên trong hoạt động thanh tra. Chính vì vậy, các cơ quan thanh tra nhà nước và cán bộ, thanh tra viên trong suốt quá trình hoạt động, không những phải tuân theo đúng các quy định của Luật 8 Thanh tra và các văn bản pháp luật khác hướng dẫn thi hành về thẩm quyền, quyền hạn, trình tự, thủ tục… trong tổ chức, chỉ đạo và thực hiện hoạt động thanh tra hành chính; mà còn phải tuân thủ các quy định của các pháp luật khác có liên quan đến công tác thanh tra, như các văn bản pháp luật có liên quan đến nội dung thanh tra,…Với vai trò, vị trí “Thanh tra là tai mắt của trên, là người bạn của dưới”, thanh tra là một bộ phận cấu thành công tác lãnh đạo, là một bộ phận hợp thành công tác quản lý nhà nước, nó đóng vai trò như cầu nối giữa cơ quan lãnh đạo, quản lý - nơi ban hành và chỉ đạo tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật và địa phương, cơ quan, đơn vị, cơ sở.
Như vậy, các cơ quan thanh tra nhà nước, cũng như cán bộ, thanh tra viên đóng một vai trò rất quan trọng là thu thập, tổng hợp, nhận xét, xử lý những thông tin trong thanh tra, để phục vụ cơ quan lãnh đạo, quản lý. Nó giúp cho người lãnh đạo, người quản lý các cấp nắm được không những tình hình chấp hành, những ưu điểm, khuyết điểm trong việc thực hiện cơ chế quản lý, các chính sách, pháp luật… Ở địa phương, cơ quan, đơn vị được thanh tra, mà còn cả những sơ hở của cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật… hiện hành cùng với những kiến nghị để cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo có những biện pháp khắc phục những khuyết điểm của cấp dưới và sơ hở của cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật… Do đó, những thông tin mà thanh tra cung cấp cho cơ quan cấp trên, cho người lãnh đạo đòi hỏi phải có độ chính xác, khách quan, trung thực rất cao. Muốn có được những thông tin chính xác, trung thực đó, thái độ của người cán bộ thanh tra là phải cẩn thận, xem xét một cách tỉ mỉ, thấu đáo và có sự phân tích, đánh giá một cách khách quan, khoa học, không áp đặt theo ý muốn hoặc suy đoán chủ quan của mình. Hoạt động thanh tra cũng đồng thời bảo đảm yêu cầu công khai, dân chủ.
Theo đó, việc thanh tra phải có quyết định thanh tra và được công bố công khai với sự có mặt của đối tượng thanh tra, để đối tượng thanh tra biết 9 trước khi tiến hành thanh tra. Bằng quyết định thanh tra và công bố, giao quyết định đó cho đối tượng thanh tra, hoạt động thanh tra đã thực hiện công khai cả nội dung, thời hạn, thời hiệu thanh tra, công khai thành phần Đoàn thanh tra. Trong quá trình thanh tra, yêu cầu dân chủ được bảo đảm bằng việc các quyền của đối tượng và Đoàn thanh tra được tôn trọng thực hiện: thanh tra có quyền chất vấn, đối tượng thanh tra có quyền chứng minh; thanh tra có quyền nhận xét, đánh giá tình hình và ưu, khuyết điểm của đơn vị được thanh tra; đối tượng thanh tra có quyền giải trình; thanh tra có quyền kết luận thanh tra, đối tượng thanh tra có quyền giải trình hoặc khiếu nại kết luận của Đoàn thanh tra… Đối tượng thanh tra có quyền tố cáo những hành vi mà họ cho là trái pháp luật của Đoàn thanh tra, các thành viên Đoàn thanh tra. Không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra; không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra Đây là một trong những điểm mới về nguyên tắc hoạt động thanh tra được bổ sung vào Luật Thanh tra năm 2010, nguyên tắc “không trùng lặp về phạm vi, đối tượng, nội dung, thời gian thanh tra giữa các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra” [13] thể hiện chủ yếu ở giai đoạn xây dựng kế hoạch thanh tra, thực hiện khảo sát.
Nếu trong giai đoạn này phát hiện những nội dung dự kiến thanh tra đã nằm trong kế hoạch hoặc đang được tiến hành thanh tra bởi một cơ quan khác thì nội dung đó sẽ không đưa vào kế hoạch thực hiện thanh tra nữa, nhằm tránh sự chồng chéo, trùng lặp, gây lãng phí về các nguồn lực và hiệu quả công tác thanh tra. Nguyên tắc “không làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra”[5] được quy định bởi mục đích hoạt động kiểm tra, thanh tra, nhằm tạo sự bình đẳng giữa Đoàn thanh tra và đối tượng thanh tra, Đoàn thanh tra không được can thiệp vào hoạt động của đối tượng thanh tra, gây phiền hà 10 cho đối tượng thanh tra, tạo sự công khai minh bạch trong quá trình thanh tra, thanh tra phải theo kế hoạch và lịch làm việc đã báo cáo trước cho đơn vị và nó cũng góp phần phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý các vi phạm, thúc đẩy hoàn thành nhiệm vụ, hoàn thiện cơ chế quản lý, tăng cường pháp chế, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Địa vị pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan thanh tra nhà nước 1. Địa vị pháp lý: Qua các giai đoạn, các cơ quan thanh tra có thể có tên gọi khác nhau nhưng luôn nằm trong hệ thống các cơ quan hành chính và là thiết chế không thể thiếu trong quản lý nhà nước.
Để đáp ứng được yêu cầu của quản lý thì cần bảo đảm hoạt động thanh tra có tính độc lập, chủ động và kịp thời. Hiện nay, địa vị pháp lý của các cơ quan thanh tra trong bộ máy hành chính thì chỉ là các cơ quan chuyên môn, tham mưu cho Thủ trưởng cơ quan hành chính. Theo đó, Thanh tra quận được xem như là các phòng, ban chuyên môn thuộc Ủy ban nhân quận, có trách nhiệm tham mưu Ủy ban nhân dân quận ra Quyết định giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực: giải quyết khiếu nại – tố cáo, phòng chống tham nhũng… Bàn về địa vị pháp lý của cơ quan thanh tra, hiện có nhiều quan điểm cho rằng với địa vị pháp lý như hiện nay thì tổ chức các cơ quan thanh tra thiếu tính hệ thống. Cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp tác động và có ảnh hưởng rất lớn đối với các cơ quan thanh tra không chỉ ở tổ chức bộ máy, con người mà còn tác động đến nhiều hoạt động cụ thể như việc xây dựng kế hoạch thanh tra, thậm chỉ cả việc ban hành quyết định thanh tra, tiến hành các cuộc thanh tra, thực hiện kết luận thanh tra….