Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống cơ quan nhà nước, thanh tra là công cụ quản lý nhà nước thiết yếu nhằm bảo đảm tính pháp chế, giữ vững kỷ luật, kỷ cương hành chính, phòng ngừa tình trạng lạm quyền, lộng quyền, đồng thời bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Ngay từ những ngày đầu thành lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 thành lập Ban Thanh tra Đặc biệt, đặt nền móng cho sự phát triển của ngành thanh tra Việt Nam qua các thời kỳ pháp lý: Pháp lệnh Thanh tra năm 1990, Luật Thanh tra năm 2004, Luật Thanh tra năm 2010 và Luật Thanh tra năm 2022.

Thanh tra cấp huyện (bao gồm thanh tra quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương) là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) cấp huyện, đóng vai trò là cấp dưới cùng trong hệ thống cơ quan thanh tra hành chính nhà nước. Cơ quan này đảm nhiệm các chức năng trọng yếu tại địa phương: tiến hành thanh tra hành chính, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo (KNTC) và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN). Tuy nhiên, thực tiễn tổ chức và hoạt động của thanh tra cấp huyện bộc lộ nhiều điểm bất cập như cơ cấu tổ chức thiếu tập trung, tính độc lập trong hoạt động chuyên môn chưa cao, biên chế mỏng nhưng phạm vi quản lý rộng, nội dung thanh tra còn hiện tượng chồng chéo và hiệu lực thực thi các kết luận, kiến nghị sau thanh tra chưa thực sự nghiêm chỉnh.

Thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình là đô thị miền núi có vị trí địa lý đặc thù dọc hai bờ Sông Đà. Sau khi sáp nhập toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của huyện Kỳ Sơn vào thành phố Hoà Bình năm 2020, địa giới hành chính được mở rộng, quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng kéo theo sự gia tăng phức tạp của các quan hệ pháp luật phát sinh. Địa bàn phát sinh nhiều tranh chấp, mâu thuẫn và sai phạm liên quan đến công tác quản lý đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng, triển khai các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn ngân sách và công tác quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập. Xuất phát từ bối cảnh thực tiễn và yêu cầu áp dụng Luật Thanh tra năm 2022, tác giả Nguyễn Thảo Linh thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Pháp luật Hành chính tại Trường Đại học Luật Hà Nội với đề tài: "Tổ chức và hoạt động của thanh tra cấp huyện - Thực tiễn tại Thanh tra thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình".

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua 03 nhiệm vụ:

  1. Tổng hợp và hệ thống hóa cơ sở lý luận, làm rõ các quy định pháp luật hiện hành điều chỉnh tổ chức và hoạt động của thanh tra cấp huyện.
  2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng tổ chức bộ máy, biên chế cũng như kết quả hoạt động chuyên môn của Thanh tra thành phố Hoà Bình; chỉ rõ các kết quả đạt được, những vướng mắc, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại đó.
  3. Rút ra các định hướng và đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình tổ chức, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Thanh tra thành phố Hoà Bình đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước trong tình hình mới.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài gồm: Lý thuyết về tổ chức, hoạt động của thanh tra cấp huyện; hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh tổ chức, hoạt động thanh tra cấp huyện; thực tiễn công tác tổ chức và hoạt động tại Thanh tra thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian: Nghiên cứu thực tiễn tại Thanh tra thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát và thu thập dữ liệu trong giai đoạn 05 năm, từ năm 2018 đến năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận về quản lý hành chính nhà nước, quyền lực nhà nước và kiểm soát nội bộ trong bộ máy hành pháp. Khung pháp lý và hệ thống khái niệm được tác giả trích dẫn trực tiếp từ các văn bản quy phạm pháp luật:

  • Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 thành lập Ban Thanh tra Đặc biệt; Sắc lệnh số 138/B-SL ngày 18/12/1949 thành lập Ban Thanh tra Chính phủ; Pháp lệnh Thanh tra năm 1990; Luật Thanh tra năm 2004; Luật Thanh tra năm 2010; Luật Thanh tra năm 2022.
  • Luật Khiếu nại năm 2011; Luật Tố cáo năm 2018; Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.
  • Nghị định số 126/2006/NĐ-CP ngày 27/10/2006 về việc thành lập thành phố Hoà Bình thuộc tỉnh Hoà Bình; Nghị định số 33/2015/NĐ-CP ngày 27/02/2015 quy định về việc thực hiện kết luận thanh tra; Nghị định số 130/2020/NĐ-CP ngày 30/10/2020 về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.
  • Quy định số 65/QĐ-TW ngày 28/4/2022 của Bộ Chính trị về luân chuyển cán bộ; Thông tư liên tịch số 03/2014/TTLT-TTCP-BNV ngày 08/9/2014; Thông tư số 01/2021/TT-TTCP ngày 11/3/2021 của Thanh tra Chính phủ quy định quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức ngành Thanh tra; Công ước của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng (UNCAC).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm:

  • Phương pháp phân tích: Sử dụng để mổ xẻ các điều luật, quy định chuyên ngành và các tiêu chuẩn ngạch thanh tra viên.
  • Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa các báo cáo hành chính, phân loại các lĩnh vực vi phạm và hệ thống hóa mô hình bộ máy quản lý.
  • Phương pháp so sánh: Đặt cạnh nhau các quy định giữa Luật Thanh tra năm 2010 và Luật Thanh tra năm 2022, so sánh sự khác biệt bản chất giữa hoạt động "thanh tra" và hoạt động "kiểm tra" trong quản lý hành chính.
  • Phương pháp thống kê: Xử lý và lượng hóa các dãy dữ liệu thứ cấp về cơ cấu nhân sự, trình độ chuyên môn, số lượng các cuộc thanh tra theo kế hoạch, các chỉ số xử lý kinh tế, lượt tiếp công dân và tình hình xử lý đơn thư KNTC từ năm 2018 đến năm 2023.
  • Phương pháp hệ thống: Nhìn nhận cơ quan thanh tra cấp huyện trong mối liên hệ phụ thuộc đa chiều với UBND cấp huyện, Thanh tra tỉnh và các phòng, ban chuyên môn trực thuộc.

Nguồn dữ liệu thực nghiệm phục vụ nghiên cứu được trích lục từ:

  • Báo cáo kết quả công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo hàng năm của Thanh tra thành phố Hoà Bình trong giai đoạn 2018 - 2023.
  • Báo cáo tổng hợp biên chế công chức của UBND thành phố Hoà Bình tính đến tháng 12/2022 và tháng 9/2023.
  • Các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý tiêu biểu đi trước của Lê Văn Thắng (2003), Đặng Vinh Sơn (2012), Trịnh Công Sơn (2017), Nguyễn Thành Trung (2022), Lữ Ngọc Bình (2012), Trương Văn Trường (2015) và Cao Vũ Minh (2019).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về tổ chức và hoạt động của thanh tra cấp huyện

Chương 1 xây dựng nền tảng lý thuyết và phân tích các quy định pháp luật thực định điều chỉnh mô hình tổ chức cùng phương thức hoạt động của thanh tra cấp huyện:

  1. Khái niệm và đặc điểm pháp lý: Thanh tra cấp huyện là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, có trách nhiệm giúp UBND cùng cấp quản lý nhà nước về công tác thanh tra, tiếp công dân, giải quyết KNTC và PCTN; đồng thời thực hiện nhiệm vụ thanh tra, tiếp công dân, giải quyết KNTC, PCTN theo quy định pháp luật. Hoạt động của thanh tra cấp huyện mang các đặc điểm cốt lõi:
  • Là cơ quan thanh tra hành chính thuần túy, không tổ chức thanh tra chuyên ngành, hướng vào việc kiểm soát nội bộ việc chấp hành chính sách, pháp luật của các phòng ban chuyên môn và UBND cấp xã.
  • Vận hành theo nguyên tắc "song trùng trực thuộc": chịu sự chỉ đạo, điều hành trực tiếp của Chủ tịch UBND cấp huyện (theo chiều ngang), đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ của Thanh tra tỉnh (theo chiều dọc).
  • Hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, xác lập mối quan hệ quyền uy - phục tùng giữa cơ quan thanh tra và đối tượng thanh tra.
  • Có tính độc lập tương đối và tính khách quan: độc lập trong việc tiến hành các biện pháp nghiệp vụ, xây dựng kết luận thanh tra, nhưng không tách rời khỏi sự quản lý của cơ quan hành chính cùng cấp.

Khóa luận thiết lập bảng phân định bản chất pháp lý giữa hoạt động thanh tra và hoạt động kiểm tra trong quản lý hành chính nhà nước:

Tiêu chí Hoạt động kiểm tra Hoạt động thanh tra
Chủ thể thực hiện Mọi cơ quan hành chính đều có thể tiến hành; ngoài ra còn có kiểm tra của Đảng, đoàn thể, cá nhân. Do cơ quan thanh tra chuyên trách của UBND thực hiện; mang tính độc lập tương đối với đối tượng được thanh tra.
Tính chất công việc Diễn ra thường xuyên, liên tục; áp dụng cho các hoạt động quản lý đơn giản, dễ nhận thấy. Tiến hành trên cơ sở quyết định thanh tra; hướng tới các vụ việc phức tạp, đa dạng, cần xem xét kỹ các vướng mắc.
Trình độ chuyên môn Không đòi hỏi quá nhiều chuyên môn nghiệp vụ thanh tra chuyên sâu. Đòi hỏi nghiệp vụ cao, am hiểu sâu kiến thức chuyên môn trong từng lĩnh vực cụ thể.
Trình tự, thủ tục Không có quy định trình tự thủ tục hành chính quá chặt chẽ. Bắt buộc tuân thủ trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, khép kín do pháp luật về thanh tra quy định.
  1. Cơ cấu tổ chức và nhân sự: Bộ máy thanh tra cấp huyện gồm Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra, các ngạch Thanh tra viên và công chức khác. Chánh Thanh tra do Chủ tịch UBND cấp huyện bổ nhiệm sau khi có sự thống nhất bằng văn bản với Chánh Thanh tra tỉnh. Phó Chánh Thanh tra do Chủ tịch UBND cấp huyện bổ nhiệm theo đề nghị của Chánh Thanh tra cấp huyện. Ngạch thanh tra viên tại cấp huyện chỉ bao gồm ngạch Thanh tra viên và Thanh tra viên chính (ngạch Thanh tra viên cao cấp chỉ tổ chức ở cấp tỉnh và trung ương). Tiêu chuẩn bổ nhiệm Thanh tra viên đòi hỏi: phẩm chất đạo đức, bằng đại học trở lên, chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ thanh tra viên và có ít nhất 02 năm làm công tác thanh tra (hoặc 05 năm đối với cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang chuyển ngạch). Thanh tra viên chính yêu cầu thời gian giữ ngạch tối thiểu 09 năm.

  2. Nội dung hoạt động: Gồm 03 mảng công tác chính: (1) Hoạt động thanh tra hành chính việc chấp hành pháp luật; (2) Hoạt động tham mưu tiếp công dân, phân loại, xử lý đơn thư và xác minh giải quyết KNTC theo Luật Khiếu nại 2011 và Luật Tố cáo 2018; (3) Hoạt động PCTN theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Công ước UNCAC, tập trung vào thanh tra trách nhiệm người đứng đầu và kiểm soát tài sản, thu nhập.

  3. Các yếu tố tác động: Bao gồm sự hoàn thiện của cơ sở pháp lý, sự lãnh đạo của cấp ủy và chính quyền địa phương, phẩm chất đạo đức, trách nhiệm và trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức thanh tra.

Chương 2: Thực trạng tổ chức và hoạt động của Thanh tra thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình

Chương 2 phản ánh toàn diện thực trạng tổ chức và hoạt động của Thanh tra thành phố Hoà Bình trong mốc thời gian 2018 - 2023:

  1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Thành phố Hoà Bình thành lập ngày 27/10/2006 theo Nghị định số 126/2006/NĐ-CP, diện tích tự nhiên 348,65 km² (chiếm 7,6% diện tích tỉnh), dân số hơn 136.600 người (chiếm 15,6% dân số tỉnh), gồm 19 đơn vị hành chính cấp xã (12 phường và 07 xã). Địa hình đồi núi chiếm 75%, bị chia cắt bởi sông Đà thành bờ Trái và bờ Phải. Năm 2020, việc sáp nhập huyện Kỳ Sơn vào thành phố làm tăng diện tích và dân số quản lý. Tốc độ đô thị hóa nhanh làm nảy sinh nhiều sai phạm trong quy hoạch dự án, trật tự xây dựng, bồi thường tái định cư và quản lý tài chính ngân sách.

  2. Thực trạng cơ cấu tổ chức và nhân sự: Biên chế hành chính của Thanh tra thành phố Hoà Bình được UBND thành phố giao gồm 09 người: 01 Chánh Thanh tra, 02 Phó Chánh Thanh tra, 04 Thanh tra viên, 01 công chức và 01 chuyên viên.

Cơ cấu chuyên ngành đào tạo (tính đến tháng 12/2022):

  • Tài chính kế toán: 01 người (Chánh Thanh tra).
  • Luật / Luật Kinh tế: 02 người (02 Phó Chánh Thanh tra).
  • Kế toán: 02 người.
  • Công nghệ kỹ thuật giao thông: 01 người.
  • Quản lý xã hội: 01 người.
  • Kinh tế hạch toán kế toán: 01 người.
  • Tài chính ngân hàng: 01 người. Đặc điểm nhận xét: Cơ cấu ngành học tập trung phần lớn vào khối kinh tế, tài chính, kế toán; thiếu hụt hoàn toàn cán bộ được đào tạo chính quy về chuyên ngành quản lý đất đai và xây dựng cơ bản.

Trình độ chuyên môn và lý luận chính trị:

  • 100% công chức có trình độ đại học trở lên, trong đó: Thạc sĩ có 01 người (chiếm 11%), Đại học có 08 người (chiếm 89%).
  • Trình độ lý luận chính trị: 02 người đạt Cao cấp lý luận chính trị, 07 người đạt Trung cấp lý luận chính trị.

Về phân công lãnh đạo và công chức: Chánh Thanh tra chỉ đạo chung; 01 Phó Chánh Thanh tra phụ trách công tác PCTN và kê khai tài sản, thu nhập; 01 Phó Chánh Thanh tra phụ trách tiếp công dân, giải quyết KNTC. Đội ngũ 04 Thanh tra viên và 02 công chức được phân công phụ trách các mảng nghiệp vụ: kiểm soát tài sản PCTN; theo dõi tổng hợp thanh tra và thủ quỹ; tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật; quản trị phần mềm "Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo" và xử lý đơn thư. Trong giai đoạn khảo sát, cơ quan đã cử cán bộ tham gia 03 lớp bồi dưỡng kỹ năng văn hóa công vụ năm 2023, tạo điều kiện cho 04 công chức học nghiệp vụ thanh tra viên (03 người đã được bổ nhiệm ngạch Thanh tra viên) và 02 Thanh tra viên học lớp Thanh tra viên chính. Đáng chú ý, 02 Phó Chánh Thanh tra giàu kinh nghiệm đã nghỉ chế độ hưu trí trong giai đoạn này, tạo khoảng trống về kinh nghiệm thực tế.

  1. Thực trạng hoạt động chuyên môn:
  • Hoạt động thanh tra: Từ năm 2018 đến 2023, đơn vị đã triển khai 41 cuộc thanh tra theo kế hoạch, tập trung vào: thực hiện pháp luật tại UBND xã/phường; trách nhiệm tiếp dân, giải quyết KNTC, PCTN; đầu tư xây dựng các dự án vốn ngân sách nhà nước; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đặc biệt là đất lâm nghiệp); quản lý tài chính ngân sách tại các trường học. Qua thanh tra, phát hiện sai phạm hàng trăm triệu đồng; thu hồi nộp tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước (KBNN) Hoà Bình hơn 80 triệu đồng; kiến nghị thu hồi nộp ngân sách hơn 30 triệu đồng; kiến nghị giảm trừ kinh phí thanh quyết toán xây dựng. Tiêu biểu năm 2022, tiến hành 02 cuộc thanh tra tại 10 đơn vị trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, kiến nghị giảm trừ kinh phí hơn 139 triệu đồng do sai dự toán.
  • Hoạt động tiếp công dân và giải quyết KNTC: Cấp thành phố đã tiếp 1.602 lượt người (thường xuyên 1.137 lượt, định kỳ của lãnh đạo 465 lượt). Cấp xã (19 xã, phường) tiếp 12 đoàn với 950 lượt người (lãnh đạo xã tiếp định kỳ 1 lần/tuần). Về xử lý đơn, toàn giai đoạn tiếp nhận 87 đơn KNTC, đã giải quyết được 69 đơn (đạt tỷ lệ giải quyết cao, các đơn còn lại thuộc diện phức tạp, kéo dài hoặc chuyển kỳ sau). Đã vận hành việc cập nhật dữ liệu vào Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo.
  • Hoạt động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Tham mưu triển khai Đề án tuyên truyền, phổ biến pháp luật PCTN giai đoạn 2019 - 2021; Kế hoạch tuyên truyền PCTN và thực hành tiết kiệm, chống lãng phí giai đoạn 2022 - 2025. Tổ chức thực hiện Nghị định số 130/2020/NĐ-CP tại 102 cơ quan, đơn vị; tổng số 1.165 lượt người kê khai tài sản, thu nhập (lần đầu: 786 lượt, hàng năm: 372 lượt); công khai 406 bản bằng hình thức niêm yết và 759 bản bằng hình thức công bố tại cuộc họp.
  1. Đánh giá chung:
  • Ưu điểm: Bộ máy được kiện toàn đúng định biên; 100% công chức đạt chuẩn đại học; phân công công việc cá thể hóa rõ ràng; thực hiện đủ 41 cuộc thanh tra không để dồn ứ kế hoạch; tỷ lệ giải quyết KNTC đạt kết quả cao; công tác kê khai tài sản được thực hiện nền nếp.
  • Hạn chế: Cơ cấu "song trùng trực thuộc" làm giảm tính độc lập trong xử lý vi phạm; biên chế 09 người là quá mỏng sau khi sáp nhập huyện Kỳ Sơn; cơ cấu đào tạo thiếu cán bộ ngành đất đai, xây dựng; quy định luân chuyển vị trí công tác PCTN gây khó khăn trong duy trì cán bộ có kinh nghiệm; việc kiểm tra, tiếp dân ở cấp xã còn bộc lộ yếu kém.

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Thanh tra thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình

Chương 3 đề xuất hệ thống các giải pháp xuất phát từ thực trạng quản lý tại địa phương:

  1. Giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy:
  • Rà soát vị trí việc làm và đề xuất UBND tỉnh, Sở Nội vụ điều chỉnh, tăng chỉ tiêu biên chế hành chính cho cơ quan thanh tra tương xứng với quy mô diện tích và dân số sau khi sáp nhập huyện Kỳ Sơn.
  • Tái cơ cấu ngành nghề đào tạo trong công tác tuyển dụng và tiếp nhận cán bộ: Ưu tiên tuyển dụng, tiếp nhận công chức có trình độ chuyên môn chuyên sâu về quản lý đất đai, trắc địa, quy hoạch và xây dựng công trình để bù đắp sự thiếu hụt hiện nay.
  • Tăng cường tính độc lập tương đối cho Chánh Thanh tra trong việc chủ động quyết định thanh tra đột xuất và bảo lưu kiến nghị xử lý sai phạm.
  1. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động chuyên môn:
  • Hoạt động thanh tra: Thành lập bộ phận chuyên trách giám sát hoạt động của các Đoàn thanh tra đối với những vụ việc có tính chất phức tạp, liên quan đến tài chính quy mô lớn hoặc dự án hạ tầng; tăng cường phối hợp với cơ quan Thuế, Kho bạc Nhà nước trong việc đôn đốc thực hiện dứt điểm các quyết định thu hồi tiền sai phạm theo Nghị định số 33/2015/NĐ-CP.
  • Hoạt động tiếp công dân, giải quyết KNTC: Nâng cao chất lượng hoạt động tiếp công dân cấp xã; thực hiện nghiêm túc quy trình đối thoại trực tiếp giữa Chủ tịch UBND với người khiếu nại trước khi ban hành quyết định hành chính; tập trung xử lý dứt điểm các vụ việc khiếu kiện đông người kéo dài liên quan đến thu hồi đất, tái định cư; khai thác triệt để tính năng quản lý hồ sơ của Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo để loại trừ trùng lặp đơn thư.
  • Hoạt động phòng, chống tham nhũng, tiêu cực: Xây dựng lộ trình chuyển đổi vị trí công tác hợp lý, linh hoạt để vừa phòng ngừa tiêu cực, vừa bảo đảm tính liên tục và chuyên sâu của cán bộ thanh tra; đẩy mạnh kiểm tra, xác minh tính trung thực của các bản kê khai tài sản, thu nhập theo Nghị định số 130/2020/NĐ-CP; tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành với Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân và Kiểm toán nhà nước trong việc xử lý các vụ việc có dấu hiệu tham nhũng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và công bố hệ thống số liệu phản ánh thực trạng tổ chức và hoạt động của Thanh tra thành phố Hoà Bình trong giai đoạn 2018 - 2023 thông qua các bảng tổng hợp sau:

Bảng 1: Thống kê số lượng các cuộc thanh tra theo kế hoạch (2018 - 2023)

Giai đoạn năm 2018 - 2019 2019 - 2020 2020 - 2021 2021 - 2022 2022 - 2023 Tổng cộng
Số cuộc thanh tra 10 08 08 07 08 41

(Nguồn: Báo cáo kết quả công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo hàng năm của Thanh tra thành phố Hoà Bình)

Bảng 2: Thống kê tiếp nhận và giải quyết đơn thư KNTC (2018 - 2023)

Giai đoạn năm 2018 - 2019 2019 - 2020 2020 - 2021 2021 - 2022 2022 - 2023 Tổng cộng
Số đơn KNTC tiếp nhận 21 20 21 12 13 87
Số đơn đã giải quyết 17 14 15 08 15 69

(Nguồn: Báo cáo kết quả công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo hàng năm của Thanh tra thành phố Hoà Bình)

Bảng 3: Cơ cấu trình độ chuyên môn của công chức Thanh tra thành phố Hoà Bình (tháng 12/2022)

Trình độ chuyên môn Số lượng công chức (người) Tỷ lệ (%)
Thạc sĩ 01 11%
Đại học 08 89%
Tổng cộng 09 100%

(Nguồn: Tổng hợp biên chế công chức UBND thành phố Hoà Bình)

Về kết quả xử lý kinh tế và kiểm soát tài sản:

  • Thu hồi nộp vào tài khoản tạm giữ của Thanh tra thành phố mở tại KBNN Hoà Bình hơn 80 triệu đồng.
  • Kiến nghị thu hồi nộp ngân sách nhà nước hơn 30 triệu đồng; truy thu thuế và giảm trừ quyết toán xây dựng hơn 139 triệu đồng (năm 2022).
  • Tiếp nhận kê khai tài sản tại 102 cơ quan, đơn vị với 1.165 lượt người kê khai (786 lượt lần đầu, 372 lượt định kỳ); công khai 406 bản niêm yết và 759 bản công bố tại cuộc họp.

Đóng góp của khóa luận:

  • Bổ sung nguồn tài liệu thực tiễn chuyên sâu về tổ chức và hoạt động của cơ quan thanh tra cấp huyện ở địa bàn miền núi có sáp nhập địa giới hành chính, trong bối cảnh các công trình trước đây đa phần tập trung vào thanh tra cấp tỉnh (như công trình của Lê Văn Thắng, Đặng Vinh Sơn).
  • Cập nhật, đánh giá mô hình hoạt động dưới lăng kính của Luật Thanh tra năm 2022, cung cấp luận cứ thực chứng về việc phân bổ cơ cấu nhân sự theo chuyên ngành đào tạo trong các cơ quan thanh tra hành chính nhà nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có những giới hạn thực tiễn được ghi nhận:

  • Phạm vi nghiên cứu thực nghiệm giới hạn tại một đơn vị hành chính cấp huyện cụ thể (Thành phố Hoà Bình, tỉnh Hoà Bình) trong khung thời gian 2018 - 2023, mang tính đặc thù của địa phương miền núi có sáp nhập đơn vị hành chính cấp huyện, chưa thực hiện so sánh đối chứng với các mô hình thanh tra quận đô thị lớn hoặc thanh tra huyện thuần nông nghiệp.
  • Khóa luận hoàn thành vào thời điểm Luật Thanh tra năm 2022 mới có hiệu lực thi hành, do đó các đánh giá chủ yếu dựa trên quá trình chuyển tiếp từ Luật Thanh tra 2010 sang Luật Thanh tra 2022.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng:

  • Đánh giá tác động toàn diện của việc áp dụng Luật Thanh tra năm 2022 sau một chu kỳ triển khai 3 - 5 năm tại hệ thống thanh tra cấp huyện trên phạm vi toàn quốc.
  • Nghiên cứu so sánh hiệu quả quản lý giữa các mô hình tổ chức thanh tra cấp huyện có quy mô dân số và mức độ đô thị hóa khác nhau.

Giá trị tham khảo

Tài liệu có giá trị tham khảo thiết thực đối với:

  • Giảng viên, sinh viên chuyên ngành Luật Hành chính, Luật Kinh tế, Quản lý nhà nước tại các cơ sở đào tạo luật khi nghiên cứu về tổ chức bộ máy hành chính nhà nước ở địa phương và pháp luật thanh tra.
  • Cán bộ, công chức đang công tác trong ngành Thanh tra, cán bộ làm công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo tại UBND các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Các nội dung có giá trị tham khảo cao:

  • Bảng so sánh tiêu chí phân biệt giữa hoạt động thanh tra và hoạt động kiểm tra trong quản lý nhà nước.
  • Dữ liệu khảo sát thực tế về sự mất cân đối giữa cơ cấu ngành nghề đào tạo của công chức thanh tra (nghiêng về tài chính, thiếu hụt đất đai, xây dựng) và cơ cấu các vụ việc sai phạm thực tế phát sinh trên địa bàn.
  • Quy trình tổng hợp, xử lý đơn thư và kinh nghiệm áp dụng quy định kiểm soát tài sản, thu nhập theo Nghị định số 130/2020/NĐ-CP tại cấp cơ sở.

Câu hỏi thường gặp

1. Biên chế và cơ cấu chuyên ngành đào tạo của Thanh tra thành phố Hoà Bình được tổ chức như thế nào theo số liệu khóa luận? Theo biên chế được UBND thành phố giao (tính đến tháng 12/2022), Thanh tra thành phố Hoà Bình có 09 người: 01 Chánh Thanh tra (ngành Tài chính kế toán), 02 Phó Chánh Thanh tra (ngành Luật và Luật Kinh tế), 04 Thanh tra viên, 01 công chức và 01 chuyên viên. 100% công chức có trình độ đại học trở lên (01 Thạc sĩ, 08 Đại học). Về chuyên ngành, đội ngũ có 01 Tài chính kế toán, 02 Luật/Luật Kinh tế, 02 Kế toán, 01 Công nghệ kỹ thuật giao thông, 01 Quản lý xã hội, 01 Kinh tế hạch toán kế toán và 01 Tài chính ngân hàng.

2. Điểm bất cập lớn nhất trong cơ cấu nhân sự của Thanh tra thành phố Hoà Bình được tác giả chỉ ra là gì? Bất cập lớn nhất là sự mất cân đối về chuyên ngành đào tạo: lực lượng công chức nghiêng quá nhiều về khối tài chính, kế toán nhưng hoàn toàn thiếu cán bộ có chuyên môn về quản lý đất đai và đầu tư xây dựng. Trong khi đó, phần lớn các sai phạm phát hiện qua thanh tra và các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp trên địa bàn thành phố lại tập trung vào lĩnh vực đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng và dự án xây dựng.

3. Kết quả thanh tra theo kế hoạch và xử lý kinh tế của Thanh tra thành phố Hoà Bình trong giai đoạn 2018 - 2023 đạt được những con số nào? Trong giai đoạn 2018 - 2023, cơ quan đã triển khai 41 cuộc thanh tra theo kế hoạch (2018-2019: 10 cuộc; 2019-2020: 8 cuộc; 2020-2021: 8 cuộc; 2021-2022: 7 cuộc; 2022-2023: 8 cuộc). Qua thanh tra, đã thu hồi nộp tài khoản tạm giữ tại KBNN Hoà Bình hơn 80 triệu đồng; kiến nghị thu hồi nộp ngân sách nhà nước hơn 30 triệu đồng; riêng năm 2022 đã kiến nghị giảm trừ thanh quyết toán kinh phí hơn 139 triệu đồng do sai sót trong lập dự toán đầu tư xây dựng tại 10 đơn vị.

4. Kết quả công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo tại thành phố Hoà Bình giai đoạn 2018 - 2023 ra sao? Tại cấp thành phố, đã tiếp 1.602 lượt người (thường xuyên 1.137 lượt, định kỳ của lãnh đạo 465 lượt); cấp xã tiếp 12 đoàn với 950 lượt người. Về đơn thư, cơ quan đã tiếp nhận 87 đơn KNTC và giải quyết dứt điểm 69 đơn theo quy định của Luật Khiếu nại 2011 và Luật Tố cáo 2018, đồng thời triển khai cập nhật hồ sơ vào Hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại, tố cáo.

5. Kết quả thực hiện công tác kiểm soát tài sản, thu nhập theo Nghị định số 130/2020/NĐ-CP tại địa phương được thống kê như thế nào? Thanh tra thành phố đã tham mưu triển khai kiểm soát tài sản, thu nhập tại 102 cơ quan, đơn vị với tổng số 1.165 lượt người kê khai (kê khai lần đầu: 786 lượt người; kê khai hàng năm: 372 lượt người). Hình thức công khai gồm: niêm yết 406 bản kê khai và công bố tại cuộc họp 759 bản kê khai.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thảo Linh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và các quy định pháp luật thực định về vị trí, vai trò, thẩm quyền của thanh tra cấp huyện, đặc biệt dưới góc độ của Luật Thanh tra năm 2022. Thông qua các dữ liệu thực tế giai đoạn 2018 - 2023 tại Thanh tra thành phố Hoà Bình, công trình đã phản ánh rõ nét hiệu quả thực hiện nhiệm vụ thanh tra hành chính, tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiểm soát tài sản phòng ngừa tham nhũng, đồng thời chỉ ra các hạn chế cố hữu về tính độc lập tương đối, định biên nhân sự mỏng và sự thiếu hụt chuyên môn đất đai, xây dựng sau khi sáp nhập địa giới hành chính. Hệ thống giải pháp kiện toàn bộ máy tuyển dụng, phân công giám sát đoàn thanh tra và tăng cường năng lực tiếp dân cấp xã được đề xuất xuất phát từ chính thực tiễn địa phương, cung cấp tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tế cho công tác quản lý nhà nước tại cơ sở.