Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TIẾP CÔNG DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN 1. Công dân Trong Từ điển Oxford, "công dân" (citizen) chỉ "người có quyền lợi hợp pháp trong một quốc gia cụ thể" [33]. Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa "Công dân là người dân của một nước có chủ quyền" [32]. Từ điển Hành chính giải thích "công dân là người trong quan hệ về quyền và nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Quốc tịch là căn cứ pháp lý để xác định công dân của một nước. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật" [43, tr 67]. Khoản 1, Điều 17, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: "Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam". Trong đó: "người có quốc tịch Việt Nam bao gồm người đang có quốc tịch Việt Nam cho đến ngày Luật này có hiệu lực và người có quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật Quốc tịch" (Điều 13, Luật Quốc tịch 2008, sửa đổi bổ sung năm 2014).
Từ những cách lý giải trên cho thấy thuật ngữ "công dân" là khái niệm dùng để chỉ một người thuộc về một nhà nước nhất định mà người đó mang quốc tịch hay nói cách khác công dân là người dân của một nước. Quốc tịch là căn cứ xác định công dân của một nước, thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân nước đó. Tiếp công dân Trong tiếng Việt, "tiếp" mang nghĩa nhận hoặc đón lấy điều gì đó [34, tr 830]; theo đó, "TCD" có thể được hiểu là quá trình tiếp xúc, trao đổi qua lại 9 Luan van giữa các cơ quan nhà nước với công dân để tiếp nhận và phản hồi những thông tin do công dân cung cấp. Từ điển Hành chính giải thích "TCD" là "gặp gỡ nhân dân để báo cáo công việc (đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân) hoặc theo yêu cầu của công dân để nghe kiến nghị của công dân hoặc giải quyết các vấn đề dân yêu cầu.
Ở Việt Nam, các cơ quan hành chính, Hội đồng nhân dân phải có lịch tiếp dân và phòng tiếp dân" [14, tr 242]. TCD là một khái niệm chính trị - pháp lý, thể hiện trước hết là việc người dân gặp và trao đổi với đại diện cơ quan nhà nước có thẩm quyền để KN, TC, kiến nghị, phản ánh về các vấn đề liên quan đến hoạt động của bộ máy nhà nước, của cán bộ, công chức. Toàn bộ hoạt động diễn ra trong buổi gặp thể hiện được hình thức của việc TCD, cùng với các hành vi cụ thể, trong một không gian cụ thể, được pháp luật quy định chặt chẽ. TCD thể hiện sự chủ động của cơ quan nhà nước khi người dân đến kiến nghị, phản ánh hoặc KN, TC.
TCD có thể tiếp cận là một hoạt động của cơ quan nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình; hoặc tiếp cận đây là một thủ tục, một bước trong quy trình giải quyết KN, TC. Khoản 1, Điều 2, Luật TCD 2013: "TCD là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân quy định tại Điều 4 của Luật này đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại, tố cáo,kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật" [24]. Xuất phát từ quy định này, việc TCD là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của các cơ quan nhà nước: Chính phủ; Bộ, cơ quan ngang bộ; tổng cục và tổ chức tương đương; cục; Ủy ban nhân dân các cấp; Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Các cơ 10 Luan van quan của Quốc hội; Hội đồng nhân dân các cấp; Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm toán nhà nước. Thông qua việc TCD sẽ tăng cường và củng cố thêm niềm tin, mối liên hệ giữa nhân dân và đại biểu dân cử.
Mặt khác, việc nghe công dân trình bày trực tiếp tâm tư, nguyện vọng hoặc KN, TC giúp cho đại biểu nắm rõ hơn bản chất của sự việc và quá trình giải quyết của cơ quan có thẩm quyền để có hướng xử lý phù hợp. Bên cạnh đó thông qua hoạt động TCD đại biểu còn thể hiện nhiệm vụ trả lời cho công dân những vấn đề mà công dân đã kiến nghị, phản ánh; đồng thời, đại biểu còn hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến nâng cao ý thức pháp luật cho người dân, đặc biệt là về KN, TC. Khiếu nại KN là một hiện tượng xã hội được quan niệm và hiểu theo nhiều góc độ khác nhau. KN là hoạt động diễn ra khá thường xuyên và phổ biến, do đó cụm từ KN được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội.
Theo Đại Từ điển tiếng Việt, KN là thắc mắc, đề nghị xem xét lại những kết luận, quyết định do cấp có thẩm quyền đã làm. Theo nghĩa rộng: KN là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi ấy xâm hại đến quyền, lợi ích của mình. Các quyết định, hành vi là đối tượng của KN là quyết định, hành vi trái pháp luật hoặc không đúng quy định của tổ chức, cộng đồng. Theo nghĩa hẹp: KN là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi trái pháp luật khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi ấy xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Lúc này, KN chỉ hướng vào phạm vi hoạt động của bộ máy 11 Luan van nhà nước và được thực hiện trên cơ sở nhận định, đánh giá về tính trái pháp luật của các quyết định, các hành vi. Theo quy định tại Điều 2, Luật KN năm 2011: “KN là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do Luật này quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” [23]. Tố cáo TC là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội. Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng thì TC là: “vạch rõ tội lỗi của kẻ khác trước cơ quan pháp luật hoặc trước dư luận” Cách hiểu khác: TC là việc công dân báo với cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền về bất kỳ hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân mà họ cho rằng hành vi ấy vi phạm pháp luật hoặc vi phạm quy định của tổ chức, cộng đồng đã gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến lợi ích Nhà nước, tổ chức, cộng đồng hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
Theo quy định tại Điều 2, Luật TC năm 2011: “TC là việc công dân theo thủ tục do Luật này quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức” [25]. Kiến nghị, phản ánh Theo quy định của Luật TCD năm 2013: “kiến nghị, phản ánh là việc công dân cung cấp thông tin, trình bày ý kiến, nguyện vọng, đề xuất giải pháp với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền về những vấn đề liên quan đến việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, công tác quản lý trong các lĩnh vực đời sống xã hội thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân đó. Công tác tiếp công dân trên địa bàn huyện 1. Mục đích, ý nghĩa tiếp công dân Mục đích của việc TCD là : - Tiếp nhận các thông tin kiến nghị, phản ánh, góp ý những vấn đề liên quan đến chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tác quản lý của cơ quan đơn vị.
Đây là sự thể hiện bản chất dân chủ “nhà nước của dân, do dân và vì dân” của Nhà nước ta; đây cũng là một bước cụ thể hoá quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội; tham gia thảo luận về các vấn đề chung của cả nước và địa phương; điều này thể hiện phương châm của Đảng và Nhà nước ta là: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. - Tiếp nhận các KN, TC của công dân là nhằm bảo đảm thực hiện tốt quyền KN, TC của công dân đã được Hiến pháp quy định. Mặt khác nó cũng cho thấy mối quan hệ chặt chẽ không thể tách rời giữa công tác TCD và giải quyết KN, TC. Thông qua việc TCD sẽ giúp cho công tác giải quyết KN, TC của cơ quan đơn vị đạt được hiệu quả cao.
- Việc TCD cũng nhằm hướng dẫn công dân thực hiện quyền KN, TC. Nội dung này thể hiện rõ yêu cầu mang tính bắt buộc đặt ra với các cơ quan 13 Luan van Nhà nước,với cán bộ, công chức Nhà nước trong quan hệ công dân; đó là phải luôn luôn tôn trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân và lắng nghe ý kiến đóng góp của nhân dân. Đồng thời điều này cũng là để khắc phục những hạn chế, bất cập trong việc thực hiện quyền KN, TC của công dân; qua đó tuyên truyền giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật nói chung; pháp luật KN, TC nói riêng đối với quần chúng nhân dân. Về cơ bản, TCD nhằm mục đích tiếp nhận, lắng nghe ý kiến, đóng góp và những kiến nghị, phản ánh của người dân về tổ chức, hoạt động của các cơ quan nhà nước, của đội ngũ cán bộ, công chức của cơ quan nhà nước.
TCD được coi là một nhiệm vụ thường xuyên của các cơ quan nhà nước, là phương thức để người dân thể hiện tiếng nói làm chủ của mình. Hoạt động TCD có một số ý nghĩa cụ thể như sau: Thứ nhất, hoạt động TCD nhằm tiếp nhận và xử lý kịp thời KN, TC, kiến nghị, phản ánh; giúp các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền có thông tin phản hồi về những vấn đề liên quan đến chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật và công tác quản lý nhà nước để các cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu tiếp thu, xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.