phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện. Phƣơng pháp nghiên cứu. Thực trạng quản lý đội ngũ cán cán bộ, công chức tại huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
Quan điểm và giải pháp hoàn thiện quản lý đội ngũ cán bộ, công chức tại huyện Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh. 3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Nguyễn Phú Trọng, Trần Xuân Sâm (2003), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Cuốn sách đã đƣa ra cơ sở lý luận trong sử dụng tiêu chuẩn cán bộ của Đảng phù hợp với từng giai đoạn cách mạng, các quan điểm và phƣơng hƣớng trong việc nâng cao chất lƣợng công tác cán bộ.
Điểm nổi bật của công trình này là việc đƣa ra nội dung tiêu chuẩn hóa cán bộ, đây là một quan điểm đổi mới trong công tác cán bộ mà tác giả có thể vận dụng và kế thừa trong luận văn của mình để nghiên cứu vấn đề tiêu chuẩn hóa công chức cấp huyện phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và đặc trƣng của huyện Kỳ Anh. Nguyễn Trọng Điền (chủ biên - 2007), Về chế độ công vụ Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia. Công trình nghiên cứu sâu về công chức, công vụ và các cơ sở khoa học để hoàn thiện chế độ công vụ ở Việt Nam hiện nay. Qua đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện trong quá trình xây dựng Nhà nƣớc của dân, do dân, vì dân.
Thang Văn Phúc,Nguyễn Minh Phƣơng, Nguyễn Thu Huyền (2004), Hệ thống công vụ và xu hướng cải cách của một số nước trên thế giới, NXB Chính trị quốc gia. Các tác giả đã nghiên cứu về tổ chức nhà nƣớc, bộ máy hành chính, lịch sử nền công vụ, chế độ quản lý công chức ở tám nƣớc trên thế giới: Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Liên Bang Nga, Cộng Hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức, Vƣơng quốc Anh, Mỹ. Công trình giới thiệu về các chế độ, chính sách của mỗi nƣớc nhằm cải cách nên công vụ nhƣ: chế độ 4 z tuyển chọn, đào tạo, đánh giá, lƣơng, phụ cấp, sử dụng nhân tài, công tác chống tham nhũng. chúng ta có thể học hỏi và áp dụng những phƣơng pháp cải cách nền công vụ tiên tiến phù hợp với điều kiện thực tế ViệtNam.
Thang Văn Phúc và Nguyễn Minh Phƣơng (2004), Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng đòi hỏi của nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, NXB Chính trị quốc gia. Trên cơ sở phân tích các quan điểm của Triết học Mác-Lênin, Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, Đƣờng lối, chủ trƣơng chính sách của Đảng về công tác cán bộ, vai trò CBCC; những kinh nghiệm thực thi nền công vụ chính quy hiện đại. Tác gia đã nêu rõ yêu cầu, tiêu chuẩn của CBCC đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới - Trần Đình Hoan (2009), “Đánh giá quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội. Với công trình trên, tác giả khẳng định dƣới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện cách mạng Việt Nam đã liên tiếp giành đƣợc nhiều thắng lợi vẻ vang.
Trong công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc hiện nay, đội ngũ CBCC đã không ngừng học tập, năng động, sáng tạo đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của đất nƣớc. Bên cạnh đó, dƣới sự tác động của cơ chế thị trƣờng đã làm bộc lộ nhiều yếu kém, khuyết điểm của đội ngũ CBCC cả về phẩm chất lẫn năng lực. Một bộ phận CBCC đã bị suy thoái về phẩm chất đạo đức, lợi dụng chức quyền để tham ô lãng phí; trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của một số CBCC chƣa đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn hiện nay. Luận văn thạc sỹ “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tại tỉnh Phú Thọ hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang (2010) đã đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức của một địa phƣơng cụ thể đó là tỉnh Phú Thọ trong những năm gần đây.
Bằng phƣơng pháp luận duy vật biện chúng và duy vật lịch sử, tác giả đã phân tích sâu sắc khái niệm công vụ, khái niệm 5 z công chức, đặc trƣng của đội ngũ cán bộ công chức… và nội dung xây dựng đội ngũ cán bộ công chức. Nội dung, bao gồm công tác tuyển dụng, sử dụng, quản lý; công tác quy hoạch; công tác đào tạo, bồi dƣỡng; công tác điều động, luận chuyển; chế độ chính sách; trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức. Trên cơ sở đó tác giả phân tích sâu sắc thực trạng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh Phú Thọ trên các phƣơng diện trên. Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Các tác giả đều đã phân tích một cách hệ thống, tƣơng đối toàn diện về vấn đề chất lƣợng công chức dƣới góc độ lý luận cũng nhƣ sự vận dụng lý luận đó vào tình hình thực tiễn. Hầu hết các công trìnhnêu trên đều đi sâu phân tích các nội dung liên quan đến đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và quản lý đội ngũ cán bộ công chức nói riêng. Các giải pháp, khuyến nghị đã đề cập đến công tác tuyển dụng, xây dựng đề án vị trí việc làm, chế độ chính sách đãi ngộ, phƣơng thức đào tạo, bồi dƣỡng nâng cao trình độ chuyên môn và phẩm chất chính trị, đánh giá cán bộ công chức…nhiều giải pháp khá thiết thực, có thể áp dụng vào công tác quản lý đội ngũ cán bộ công chức của Nhà nƣớc nhằm đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp CNH - HĐH đất nƣớc. Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện 1.
Khái niệm và vai trò CBCC 1. Khái niệm cán bộ, công chức * Khái niệm cán bộ: - Cán bộ là khái niệm quan trọng trong tổ chức bộ máy và nhân sự đã đƣợc đƣa vào Luật Cán bộ, Công chức của Việt Nam. Trong Từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1993 thì cán bộ có hai nghĩa: “1. Ngƣời làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nƣớc”; “2.
Ngƣời làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với ngƣời thƣờng, không 6 z có chức vụ”. Với nghĩa thứ nhất, cán bộ không chỉ bao gồm những ngƣời làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nƣớc mà trong cả hệ thống chính trị và cũng chỉ gồm những ngƣời có trình độ đƣợc đào tạo. Số không có trình độ đƣợc đào tạo gọi là nhân viên. Với nghĩa thứ hai, ngƣời làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức trong hệ thống chính trị là cán bộ.
- Khái niệm cán bộ cùng với khái niệm công chức đƣợc quy định cụ thể và phân biệt, giải thích rõ ràng tại Luật Cán bộ, công chức ban hành năm 2008 có hiệu lực từ 01/01/2010. Theo đó, cán bộ đƣợc định nghĩa là công dân Việt Nam, đƣợc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức Chính trị - xã hội ở Trung ƣơng, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách Nhà nƣớc. Theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Nghị định số 06/2010/NĐ-CP, có thể liệt kê những ngƣời là cán bộ gồm: Ở Trung ƣơng: Tổng Bí thƣ, Bí thƣ Trung ƣơng Đảng, Chánh Văn phòng Trung ƣơng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ƣơng, Trƣởng các Ban Đảng Trung ƣơng, Chủ tịch, Phó Chủ tịch các Tổ chức Chính trị - xã hội, Bộ trƣởng và tƣơng đƣơng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Cấp tỉnh: Bí thƣ, Phó Bí thƣ Tỉnh uỷ, Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND tỉnh, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch, Phó Chủ tịch các tổ chức Chính trị - xã hội.
Cấp huyện: Bí thƣ, Phó Bí thƣ Huyện uỷ, Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND huyện, Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND huyện. Nhƣ vậy, mặc dù khái niệm cán bộ và khái niệm công chức đã đƣợc phân biệt, song sự phân biệt này 7 z cũng không thật sự rõ ràng, cụ thể. Thực tế để trở thành ngƣời cán bộ (do đƣợc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm), phần lớn ngƣời đó đều phải trải qua thời gian làm công chức, nói đúng hơn là theo khái niệm cán bộ của Luật Cán bộ, công chức thì đa số cán bộ đƣợc trƣởng thành từ đội ngũ công chức. * Khái niệm công chức: Khái niệm công chức là đƣợc dùng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới nhƣng đƣợc hiểu không giống nhau, thậm chí trong phạm vi một quốc gia quan niệm về công chức qua các thời kỳ cũng khác nhau.
Ở đa số quốc gia đã thực hiện chế độ công chức thì công chức đƣợc hiểu là những công dân đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thƣờng xuyên trong một công sở của Nhà nƣớc ở Trung ƣơng hay địa phƣơng, ở trong nƣớc hay ngoài nƣớc, đƣợc xếp vào một ngạch và hƣởng lƣơng từ ngân sách Nhà nƣớc. Qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung, ngày 09/12/2008 Quốc hội ban hành Luật Cán bộ, công chức có hiệu lực thực hiện từ ngày 01/01/2010 quy định cụ thể hơn về công chức, phân biệt và giải thích rõ cán bộ và công chức. Nhƣ vậy, những văn bản trƣớc Luật Cán bộ, công chức năm 2008 không định nghĩa công chức bằng việc nêu lên những đặc điểm mô tả thế nào là công chức. Để xác định ai là công chức phải căn cứ vào sự liệt kê các đối tƣợng công chức.
Luật Cán bộ, công chức đã đƣa ra khái niệm mô tả để xác định cụ thể ai là công chức. Để hƣớng dẫn thi hành Luật Cán bộ, công chức, ngày 25/01/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 06/2010/NĐ-CP quy định những ngƣời là công chức.