Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước; Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại KBNN tỉnh Quảng Trị; Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tại KBNN tỉnh Quảng Trị. 5 van Phần 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC NHÀ NƢỚC 1. Tổng quan về Cán bộ, công chức và cán bộ, công chức Kho bạc Nhà nƣớc 1.1 Khái niệm Cán bộ, công chức 1. Khái niệm Cán bộ Thuật ngữ “cán bộ” du nhập vào nước ta có thể vào thời Chiến tranh thế giới thứ hai, do việc thành lập các tổ chức cách mạng bí mật bộ chống Pháp, chống Nhật (khoảng năm 1940-1941).
Những người phụ trách trong lĩnh vực chính trị, quân sự của các tổ chức cách mạng ấy được gọi là “cán bộ”. Như vậy, “cán bộ” lúc đầu được tổ chức bởi các đoàn thể, đảng phái. Họ công tác không có lương mà chỉ hưởng sinh hoạt phí của tổ chức mình mà thôi. Kể từ Cách mạng Tháng Tám 1945, sau khi giành được chính quyền, các cán bộ cách mạng được bố trí vào đội ngũ quản lý chính quyền.
Cán bộ và công chức được định nghĩa chung tại Điều 1, Pháp lệnh về cán bộ và công chức ngày 26-2-1998 không thấy có sự phân biệt giữa hai khái niệm này. Sau này, Luật Cán bộ, công chức (ngày 13-11-2008) có phân biệt giữa cán bộ và công chức theo quy định tại Điều 4 như sau: - Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chu n, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (khoản 1). - Riêng về người làm việc ở cấp xã , phường, thị trấn thì cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong thường trực hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, bí thư, phó bí thư đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị- xã hội. Khái niệm Công chức Thuật ngữ công chức được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, để chỉ ra những người giữ công vụ thường xuyên trong cơ quan, tổ chức nhà nước.
6 van Thuật ngữ công chức là thuật ngữ có tính lịch sử, hình thành trong những điều kiện nhất định, cùng với chế độ công vụ. Công vụ là công việc, hoat động nhà nước chủ yếu do công chức nhà nước thực hiện dựa trên cơ sở quyền lực nhà nước và pháp luật, được đảm bảo bằng quyền lực nhà nước, pháp luật và sử dụng quyền lực đó để thực thi các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước. Ở những quốc gia tồn tại nhiều đảng chính trị (có đảng cầm quyền và đảng đối lập) thì công chức được hiểu là những người giữ công vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, được xếp vào ngạch, bậc công chức được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Còn ở những nước chỉ có một đảng duy nhất, đảng lãnh đạo nhà nước và xã hội thì quan niệm công chức không chỉ gồm những chủ thể nêu trên, mà còn cả những đối tượng tương tự, nhưng lại làm việc tại các tổ chức của đảng, tổ chức chính trị -xã hội.
Vì vậy, không thể có một định nghĩa chung duy nhất về công chức cho tất cả các quốc gia. Quan niệm về công chức gắn liền với yếu tố chính trị và đời sống chính trị - xã hội có tính quyết định chế độ công vụ và quan niệm công chức. Tại Trung Quốc, theo Ban Tổ chức cán bộ Chính phủ (1993), Điều lệ tạm thời về công chức nhà nước của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa công bố ngày 14 tháng 8 năm 1993, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 10 năm 1993, công chức nhà nước bao gồm công chức lãnh đạo và không lãnh đạo; và phải thông qua một chế độ tuyển dụng hét sức nghiêm ngặt. Công chức không lãnh đạo bao gồm: Cán sự, Chuyên viên, Chuyên viên tổ trưởng, Chuyên viên tổ phó, Trợ lý chuyên viên nghiên cứu, Chuyên viên nghiên cứu, Trợ lý chuyên viên thanh tra.
Chức danh lãnh đạo: Thủ Tướng Quốc vụ viện, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện, Các thành viên Quốc vụ viện, chức Trưởng phó cấp bộ, tỉnh, chức trưởng phó cấp vụ, … Hiện nay, Trung Quốc đã chuyển các công chức sang chế độ hợp đồng lao động và có những cải cách mạnh mẽ trong lĩnh vực hành chính để giảm biên chế Ở Pháp, quan niệm về công chức rất rộng, công chức được phân thành hai loại: Loại thứ nhất là những công chức làm việc thường xuyên trong bộ máy nhà nước, bị chi phối bởi luật công chức; loại thứ hai là những công chức bị chi phối bởi luật lao động, bởi hợp đồng lao động. 7 van Ở Nhật Bản, quan niệm công chức bao gồm cả công chức nhà nước trung ương và công chức địa phương, có nghĩa là những người làm việc trong các cơ quan chính quyền và tự quản địa phưong cũng là công chức Ở Việt Nam từ khi có Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 tới nay, quan niệm về công chức nhà nước cũng có những thay đổi nhất định. Trên cơ sở Luật Cán bộ, công chức ngày 13/11/2008, Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 1 năm 2010 của Chính phủ quy định những người là công chức, theo đó " Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này". Nghị định đã liệt kê những đối tượng là công chức từ Điều 3 đến Điều 12.
Luật Cán bộ, công chức ngày 13-11-2008 có khái niệm về công chức theo quy định tại Điều 4 như sau: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (khoản 2). - Riêng về người làm việc ở cấp xã , phường, thị trấn thì công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước (khoản 3).2 Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức Đội ngũ cán bộ, công chức có vị trí, vai trò quan trọng đối với cơ quan, tổ chức. Cán bộ, công chức là thành viên, là phần tử cấu thành của tổ chức bộ máy. Cán bộ, công chức có quan hệ mật thiết với tổ chức và quyết định mọi sự hoạt động của tổ chức.
Hiệu quả hoạt động trong tổ chức và quyết định mọi sự hoạt động của 8 van tổ chức. Hiệu quả hoạt động trong tổ chức, bộ máy phụ thuộc vào cán bộ. Cán bộ công chức có trình độ, có đạo đức nghề nghiệp, tâm huyết, có trách nhiệm với công việc được giao sẽ làm cho cơ quan, đơn vị hoạt động tốt, dẫn đến bộ máy nhà nước hoạt động nhịp nhàng; cán bộ, công chức trình độ quản lý yếu kém, năng lực hạn chế, quan liêu, cửa quyền, sẽ làm cho bộ máy tê liệt. Cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức trong hệ thống kho bạc nói riêng có vai trò rất quan trọng.
Do KBNN là cơ quan kiểm soát thu chi ngân sách nhà nước. Tầm ảnh hưởng của KBNN ở cấp vĩ mô và vi mô, có tác động lớn tới kinh tế xã hội. Chính vì vậy cán bộ, công chức ở Kho bạc Nhà Nước và KBNN các cấp là những người quyết định tới việc tổ chức huy động và sử dụng nguồn tiền ngân sách, đảm bảo việc ổn định thu chi ngân sách nhà nước và hoạt động của nền tài chính quốc dân. Những năm vừa qua cũng đã chỉ ra rằng sự thành công hay thất bại của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế xã hội ở cơ sở phụ thuộc rất lớn vào chính sách tài khóa nói chung và hoạt động của KBNN nói riêng.
Tầm quan trọng của đội ngũ cán bộ, công chức KBNN quyết định khả năng hiện thực hóa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về tài chính; là người trực tiếp tổ chức thực hiện các chủ trương đường lối của Đảng, cũng như tiến hành tổ chức, triển khai các hoạt động tài chính ở cấp trung ương và địa phương. Cán bộ, công chức KBNN có một vị trí vô cùng quan trọng trong hoạt động quản lý điều hành nền tài chính quốc gia. Các cán bộ, công chức KBNN là người đại diện cho Nhà nước thực hiện chức năng quản lý ngân sách nhà nước ở trung ương và cơ sở; Kiểm tra việc thực hiện thu chi ngân sách, phát hiện các dấu hiệu vi phạm trong việc sử dụng ngân sách nhà nước, ngừng cung cấp ngân sách và trình cấp có th m quyền phương án xử lý, giải quyết phù hợp. Ngoài những vị trí, vai trò trên cán bộ, công chức kho bạc còn có vị trí, vai trò thể hiện những phương diện sau đây: - Có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thực hành dự toán thu – chi của ngân sách nhà nước.
Ngân sách nhà nước là một trong những lĩnh vực quan trọng hàng đầu của quốc gia, việc thực hiện việc thu chi đều phải dựa vào cơ quan thuế và kho bạc. Những cán bộ, công chức kho bạc là những người có vai trò trong việc đôn đốc, kiểm tra và thúc đ y việc thu – chi ngân sách nhà nước, phối hợp với các cơ 9 van quan khác như chi cục thuế, ngân hàng thương mại để đối chiếu số liệu, phối hợp, xử lý vướng mắc trong quá trình thực hiện thu chi ngân sách nhà nước.