Tổng quan nghiên cứu
Theo dự báo của Liên Hợp Quốc, nếu Việt Nam thực hiện tốt chương trình Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS - KHHGĐ), quy mô dân số sẽ duy trì ở mức ổn định 120 triệu người vào năm 2035 và GDP bình quân đầu người sẽ tăng gấp 31,2 lần so với năm 1990. Ngược lại, nếu công tác này không đạt hiệu quả, dân số có thể chạm ngưỡng 160 triệu người vào năm 2035, khiến mức tăng trưởng GDP bình quân chỉ đạt 25 lần. Trong giai đoạn 2001 - 2005, mức sinh bình quân của phụ nữ Việt Nam đã giảm từ 2,25 con xuống 2,11 con, đồng thời tỷ lệ các cặp vợ chồng sử dụng biện pháp tránh thai tăng từ 61,1% lên 65,7%. Tuy nhiên, số liệu điều tra biến động dân số năm 2004 cho thấy sự chênh lệch giới sâu sắc: tỷ lệ phụ nữ sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại đạt 75,9%, trong khi nam giới chỉ chiếm vỏn vẹn 9,7%.
Thực trạng này phản ánh gánh nặng thực hiện KHHGĐ hầu như dồn hết lên vai người phụ nữ, đặc biệt là tại các khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi điều kiện tiếp cận y tế và thông tin còn nhiều hạn chế. Luận văn tập trung giải quyết vấn đề bất bình đẳng giới trong hành vi sức khỏe sinh sản tại xã Cảm Ân, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái vào tháng 11 năm 2006. Mục tiêu cụ thể là nhận diện thực trạng tham gia của nam giới, bóc tách các yếu tố thúc đẩy và cản trở từ góc độ tâm lý, gia đình, cộng đồng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao trách nhiệm của người chồng, góp phần ổn định quy mô dân số và nâng cao chỉ số hạnh phúc gia đình vùng cao.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu vận dụng đồng thời hai khung lý thuyết nền tảng trong xã hội học là Lý thuyết Hành động xã hội và Lý thuyết Vai trò xã hội. Theo lý thuyết hành động xã hội bắt nguồn từ quan điểm của Max Weber và được phát triển bởi George Herbert Mead, hành vi tham gia KHHGĐ của nam giới là một hành động có ý thức, được định hướng bởi động cơ, nhu cầu cá nhân và chịu sự chi phối chặt chẽ từ hoàn cảnh văn hóa xã hội. Các biện pháp tránh thai đóng vai trò là công cụ và phương tiện để chủ thể đạt được mục đích kiểm soát mức sinh. Bên cạnh đó, lý thuyết vai trò xã hội của Ralph Linton (1937) được sử dụng để phân tích khoảng cách giữa kỳ vọng vai trò (người chồng cùng gánh vác trách nhiệm sinh sản) và thực hiện vai trò trong thực tế hôn nhân. Bốn khái niệm trọng tâm xuyên suốt nghiên cứu gồm: Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ), Sức khỏe sinh sản (SKSS), Biện pháp tránh thai (BPTT) và Bình đẳng giới.
Nghiên cứu cũng gắn liền với tiến trình thể chế hóa qua 4 giai đoạn phát triển chính sách dân số Việt Nam: giai đoạn 1960 - 1975 với Quyết định 216-CP (1961) và Chỉ thị 99-TTg (1963); giai đoạn 1975 - 1993 với Chỉ thị 265/CP (1978) vận động khoảng cách sinh 4 đến 5 năm và Quyết định 161-HĐBT (1988) quy định mức sinh tối đa 3 con cho vùng cao; giai đoạn 1993 - 2000 với Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII; và giai đoạn từ 2001 đến nay với Pháp lệnh Dân số 2003 cùng Nghị quyết 47-NQ/TW (2005). Luận văn kết hợp mô hình thang bậc tham gia của cộng đồng gồm 4 cấp độ: Dân biết, Dân bàn, Dân làm và Dân kiểm tra để đo lường mức độ chủ động của người dân địa phương.
Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp thu thập dữ liệu định lượng, tác giả sử dụng bảng hỏi cấu trúc phát ngẫu nhiên cho 220 nam giới đã lập gia đình tại xã Cảm Ân, thu về 209 phiếu hợp lệ (đạt tỷ lệ phản hồi 95,0%). Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên giúp phản ánh trung thực cơ cấu dân cư đa dạng về độ tuổi, học vấn và trình độ kinh tế của nam giới vùng cao.
Về phương pháp định tính, tác giả triển khai 17 cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp, bao gồm 2 cán bộ chủ chốt (cán bộ chuyên trách dân số và lãnh đạo xã) cùng 15 người dân (13 nam giới và 2 nữ giới). Việc kết hợp phương pháp hỗn hợp (mixed methods) giúp đối chiếu, kiểm chứng chéo giữa các tỷ lệ thống kê thực chứng với những tầng sâu tâm lý, định kiến giới và rào cản văn hóa mà bảng hỏi đơn thuần không thể bộc lộ hết. Quá trình thu thập tư liệu diễn ra tập trung trong tháng 11 năm 2006 và toàn bộ nghiên cứu được hoàn thiện, bảo vệ trong năm 2007.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, tồn tại khoảng cách lớn giữa nhận thức chủ trương và hành vi thực tế. Dù trên 90,0% nam giới vùng cao được khảo sát nắm rõ chủ trương gia đình chỉ nên có từ 1 đến 2 con, nhưng mức độ trực tiếp sử dụng biện pháp tránh thai của họ chỉ dừng lại ở mức 9,7%, tạo nên mức chênh lệch áp đảo so với tỷ lệ 75,9% ở phụ nữ.
Thứ hai, cấu trúc quyền lực trong gia đình phân hóa rõ rệt: nam giới giữ vai trò chi phối tuyệt đối trong việc quyết định số lượng con cái và khoảng cách sinh con (chiếm trên 70,0% trường hợp người chồng quyết định hoặc có tiếng nói cao nhất), nhưng lại gần như thoái thác trách nhiệm sử dụng các biện pháp ngừa thai sang cho người vợ.
Thứ ba, nhóm nhân tố cản trở xuất phát chủ yếu từ rào cản tâm lý cá nhân và định kiến gia trưởng. Khoảng 65,0% nam giới ngần ngại sử dụng bao cao su hoặc triệt sản nam vì lo sợ ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, thể lực lao động nương rẫy và sự suy giảm bản lĩnh đàn ông.
Thứ tư, nhóm nhân tố thúc đẩy ghi nhận tác động tích cực từ hệ thống truyền thông đại chúng và đội ngũ cộng tác viên cơ sở, với hơn 80,0% nam giới cho biết họ tiếp nhận kiến thức sinh sản qua các buổi họp thôn và loa truyền thanh xã.
Thảo luận kết quả
Các phát hiện trên minh chứng rõ nét cho khoảng cách giữa "kỳ vọng vai trò" của xã hội hiện đại và "hành vi vai trò" thực tế của nam giới vùng cao. Nguyên nhân gốc rễ bắt nguồn từ tư tưởng trọng nam khinh nữ, áp lực phải có con trai nối dõi tông đường, cùng sự thiếu hụt các mô hình tư vấn sức khỏe sinh sản chuyên biệt dành riêng cho nam giới tại vùng sâu, vùng xa. Kết quả này hoàn toàn tương thích với các tuyên bố tại Hội nghị Quốc tế về Dân số và Phát triển (ICPD) tại Cairo năm 1994, nhấn mạnh rằng sự thờ ơ của nam giới chính là nút thắt kìm hãm tiến trình bình đẳng giới trong chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Về mặt trình bày dữ liệu, các phát hiện này có thể được mô hình hóa hiệu quả qua biểu đồ cột kép so sánh mức độ sử dụng biện pháp tránh thai giữa nam và nữ (9,7% so với 75,9%), kết hợp bảng tương quan chéo thể hiện mối quan hệ giữa trình độ học vấn của người chồng với mức độ đồng thuận chia sẻ gánh nặng KHHGĐ cùng vợ.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, đổi mới và cá nhân hóa công tác truyền thông dân số: Ban Dân số xã phối hợp với Hội Nông dân tổ chức các câu lạc bộ "Nam giới trách nhiệm", đặt mục tiêu nâng tỷ lệ nam giới hiểu đúng về BPTT lên 85% và tỷ lệ nam giới trực tiếp dùng biện pháp ngừa thai lên 25% trong giai đoạn 2008 - 2012.
Thứ hai, mở rộng mạng lưới dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản lưu động: Trung tâm Y tế huyện Yên Bình định kỳ tổ chức 4 đợt thăm khám và cung cấp miễn phí bao cao su, thuốc tránh thai tận các thôn bản vùng sâu mỗi năm, đảm bảo 100% người dân vùng cao được tiếp cận dịch vụ an toàn từ năm 2008.
Thứ ba, thể chế hóa tiêu chí bình đẳng giới vào hương ước, quy ước cộng đồng: Ủy ban Nhân dân xã Cảm Ân đưa tiêu chí nam giới đồng hành cùng vợ trong KHHGĐ vào quy chuẩn bình xét "Gia đình văn hóa", phấn đấu giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên xuống dưới mức 5% vào năm 2010.
Thứ tư, chuẩn hóa và gia tăng tỷ lệ cộng tác viên dân số là nam giới: Chi cục Dân số tỉnh Yên Bái thực hiện tuyển chọn, đào tạo kỹ năng tư vấn chuyên sâu cho cán bộ nam, đạt tỷ lệ ít nhất 30% tuyên truyền viên là nam giới trong vòng 24 tháng nhằm xóa bỏ rào cản e ngại khi truyền thông cho đối tượng cùng giới.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý dân số các cấp: Cung cấp cơ sở thực chứng để xây dựng các chương trình can thiệp sức khỏe sinh sản có nhạy cảm giới, đặc biệt dành riêng cho khu vực miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số.
Học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Xã hội học và Nhân học: Là tài liệu tham khảo giá trị về cách ứng dụng lý thuyết hành động xã hội, lý thuyết vai trò và phương pháp kết hợp định lượng - định tính trong nghiên cứu gia đình.
Cán bộ y tế cơ sở và tuyên truyền viên dân số: Giúp thấu hiểu sâu sắc tâm lý e ngại, các rào cản nhận thức của đàn ông vùng cao, từ đó thiết kế nội dung truyền thông thuyết phục và gần gũi hơn.
Các tổ chức phi chính phủ và dự án phát triển cộng đồng: Hỗ trợ khung đánh giá sự tham gia của người dân (Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra) trong các dự án nâng cao năng lực phụ nữ và bình đẳng giới.
Câu hỏi thường gặp
Nguyên nhân chính khiến nam giới vùng cao ít tham gia sử dụng biện pháp tránh thai là gì? Nguyên nhân chủ yếu do rào cản tâm lý e ngại tổn hại sức khỏe lao động khi triệt sản, định kiến gia trưởng coi việc tránh thai là nghĩa vụ của phụ nữ, cùng sự thiếu vắng các dịch vụ y tế nam khoa thân thiện tại địa phương (khiến tỷ lệ nam giới sử dụng BPTT chỉ đạt 9,7%).
Luận văn đã áp dụng những khung lý thuyết xã hội học cốt lõi nào? Tác giả đã kết hợp Lý thuyết Hành động xã hội (Max Weber, George Herbert Mead) nhằm phân tích động cơ chủ quan và Lý thuyết Vai trò xã hội (Ralph Linton) để lý giải sự chệch hướng giữa kỳ vọng chuẩn mực xã hội với hành vi thực tế của người chồng trong gia đình.
Quy mô mẫu và tính đại diện của nghiên cứu tại xã Cảm Ân được thiết lập ra sao? Nghiên cứu khảo sát 209 phiếu hỏi định lượng hợp lệ từ nam giới có gia đình (chọn mẫu ngẫu nhiên) cùng 17 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân, đảm bảo phản ánh khách quan bức tranh sinh hoạt văn hóa và thực tế KHHGĐ đặc trưng của vùng đồng bào miền núi Yên Bái.
Chính sách dân số Việt Nam đã có điều chỉnh gì đối với đồng bào vùng cao qua các thời kỳ? Từ Thông tư 4200/BYT/CB năm 1978 đến Quyết định 161-HĐBT năm 1988, Nhà nước đã ban hành các quy định linh hoạt, cho phép các cặp vợ chồng dân tộc thiểu số vùng cao được sinh tối đa 3 con, thay vì áp dụng cứng nhắc mức sinh 1 đến 2 con như đồng bằng.
Biện pháp nào được xem là đột phá để thay đổi hành vi của nam giới trong KHHGĐ? Giải pháp đột phá là xây dựng đội ngũ tuyên truyền viên dân số là nam giới kết hợp sinh hoạt chuyên đề tại thôn bản, giúp giải tỏa tâm lý e ngại và thúc đẩy nam giới chia sẻ gánh nặng tránh thai cùng người vợ thông qua đối thoại đồng đẳng.
Kết luận
- Luận văn làm sáng tỏ thực trạng tham gia còn nhiều hạn chế của nam giới vùng cao trong việc thực hiện KHHGĐ, với sự chênh lệch lớn giữa nhận thức và hành động thực tế.
- Đóng góp quan trọng vào việc hệ thống hóa khung lý thuyết vai trò và hành động xã hội, áp dụng thành công vào bối cảnh dân số học tại vùng đồng bào miền núi phía Bắc.
- Nhận diện chính xác rào cản tâm lý cá nhân và định kiến văn hóa truyền thống là những yếu tố cốt lõi kìm hãm sự đồng hành của người chồng đối với sức khỏe sinh sản của người vợ.
- Đề ra lộ trình 4 giải pháp đồng bộ giai đoạn 2008 - 2015, tập trung chuyển dịch từ truyền thông đại trà sang can thiệp chuyên biệt theo giới và củng cố dịch vụ y tế cơ sở.
- Mở ra hướng tiếp cận cấp thiết cho các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý trong việc thúc đẩy bình đẳng giới thực chất, biến trách nhiệm KHHGĐ thành hành động tự giác của cả hai giới.