PHẦN MỞ ĐẦU dự trữ sinh quyển thế giới - là khu rừng nhiệt đới nguyên sinh nổi tiếng, đặc biệt phong I. GIỚI THIỆU CHUNG phú về số lượng loài động thực vật, trong đó có nhiều loài được xếp vào loài quý hiếm của thế giới. Đồng thời, nơi đây cũng có cả một vựng đồng bằng thuộc vùng đồng bằng I.KHÁI QUÁT VỀ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG tam giác châu thổ sông Hồng, tạo nên một cảnh quan nông nghiệp trồng lúa nước là nét đặc trưng của vùng du lịch ven biển Bắc Bộ và cả một vùng biển rộng với nguồn tài Hải Phòng ngày nay là thành phố trực thuộc Trung ương - là đô thị loại 1 cấp quốc gia nguyên vô cùng phong phú, nhiều hải sản quý hiếm và bờ biển đẹp. gồm 7 quận (Ngô Quyền, Hồng Bàng, Lê Chân, Dương Kinh, Đồ Sơn, Kiến An và Hải a.Vị trí địa lý An), 6 huyện ngoại thành (Thuỷ Nguyên, Hải An, An Lão, Kiến Thuỵ, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo) và 2 huyện đảo (Cát Hải, Bạch Long Vĩ) với 228 phường và thị trấn (70 phường, 10 Hải Phòng là thành phố duyên hải nằm ở hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình thuộc đồng thị trấn và 148 xã).
bằng sông Hồng có vị trí nằm trong khoảng từ 20035’ đến 210 01’ vĩ độ Bắc, và từ 106029’ đến 107005’ kinh độ Đông; phía Bắc và Đông Hải Phòng từ lâu đã nổi tiếng là một cảng biển lớn nhất ở miền Bắc, một đầu mối giao Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây Bắc giáp tỉnh Hải thông quan trọng với hệ thống giao thông thuỷ, bộ, đường sắt, hàng không trong nước và Dương, phía Tây Nam giáp tỉnh Thái Bình và phớa Đông quốc tế, là cửa chính ra biển của thủ đô Hà Nội và các tỉnh phía Bắc; là đầu mối giao là biển Đông với đường bờ biển dài 125km, nơi có 5 cửa thông quan trọng của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, trên hai hành lang - một vành đai sông lớn là Bạch Đằng, Cửa Cấm, Lạch Tray, Văn Úc và hợp tác kinh tế Việt Nam - Trung Quốc. Chính vì vậy trong chiến lược phát triển kinh tế – sông Thái BÌnh. xó hội vựng châu thổ sông Hồng, Hải Phòng được xác định là một cực tăng trưởng của vùng kinh tế động lực phía Bắc (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh); là Trung tâm kinh Diện tích tự nhiên là 1.507,57 km2, dân số 1.3 ngàn tế - khoa học - kĩ thuật tổng hợp của Vùng duyên hải Bắc Bộ và là một trong những trung người (tính đến 01/04/2009), mật độ dân số trung bình tâm phát triển của Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước.(Quyết định 1448 /QĐ- của thành phố là 1.218,78 người/km2, vào loại trung bình TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ). so với các tỉnh đồng bằng sông Hồng.
Sông Lạch Tray dài 45 km, là nhánh của sông Kinh Thầy, từ Kênh Đồng ra biển bằng cửa Lạch Tray qua địa phận Kiến An, An Dương và cả nội thành. Đồi núi, đồng bằng 4. Sông Văn Úc dài 35 km chảy từ quý Cao, đổ ra biển qua cửa sông Văn Úc làm Địa hình bắc của Hải Phòng là vựng trung du, có đồi xen kẽ với đồng bằng và ngả thấp thành ranh giới giữa hai huyện An Lão và Tiên Lãng. dần về phía nam ra biển.
Khu đồi núi này có liên hệ với hệ núi Quảng Ninh, di tích của 5. Sụng Thái Bình cú một phần là ranh giới giữa Hải Phòng với Thái Bình. nền móng uốn nếp cổ bên dưới, nơi trước đây đó xảy ra quá trình sụt vừng với cường độ 6. Sông Bạch Đằng nhỏ, gồm các loại cát kết, đá phiến sét và đá vôi có tuổi khác nhau được phân bố thành 7.
Ngoài ra cũn cú nhiều con sụng khỏc khỏ nhỏ nằm ở khu vực nội thành quận Hồng từng dải liên tục theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ đất liền ra biển gồm hai dóy chớnh. Dóy chạy từ An Lóo đến Đồ Sơn đứt quãng, kéo dài khoảng 30 km cú hướng Tây Bắc - 8. Sông Rế chảy qua huyện An Dương, là nơi cung cấp nước sinh hoạt cho 80% các Đông Nam gồm các núi: Voi, Phù Liễn, Xuân Sơn, Xuân Áng, núi Đối, Đồ Sơn, Hũn hộ dân của thành phố. Dóy Kỳ Sơn - Tràng Kênh và An Sơn - Núi Đèo, gồm hai nhánh: nhánh An Sơn - Bờ biển và biển Núi Đèo cấu tạo chính là đá cát kết có hướng tây bắc đông nam gồm các núi Phù Lưu, Thanh Lóng và Núi Đèo; và nhánh Kỳ Sơn - Trang Kênh có hướng tây tây bắc - Bờ biển Hải Phòng dài trờn 125 km, thấp và khỏ bằng phẳng, nước biển Đồ Sơn hơi đục đông đông nam gồm nhiều núi đá vôi.
nhưng sau khi cải tạo nước biển đó cú phần sạch hơn, cát mịn vàng, phong cảnh đẹp. Ngoài ra, Hải Phòng cũn cú đảo Cát Bà là khu dự trữ sinh quyển thế giới cú những bói Sông tắm đẹp, cát trắng, nước trong xanh cùng các vịnh Lan Hạ. Cát Bà cũng là đảo lớn Sông ngòi ở Hải Phòng khỏ nhiều, mật độ trung bình từ 0,6 - 0,8 km/1 km². Độ dốc khá nhất thuộc khu vực Vịnh Hạ Long.
nhỏ, chảy chủ yếu theo hướng Tây Bắc Đông Nam. Đây là nơi tất cả hạ lưu của sông Thái Bình đổ ra biển, tạo ra một vùng hạ lưu màu mỡ, dồi dào nước ngọt phục vụ đời sống con c.Khí Hậu người nơi đây. Các con sông chính ở Hải Phòng gồm Thời tiết Hải Phòng mang tính chất cận nhiệt đới ẩm ấm đặc trưng của thời tiết miền Bắc 1. Sông Đá Bạc - Bạch Đằng dài hơn 32 km, là nhánh của sông Kinh Môn đổ ra biển Việt Nam: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông khô và lạnh, có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, ở cửa Nam Triệu, là ranh giới giữa Hải Phòng với Quảng Ninh.
Đông tương đối rõ rệt. Nhiệt độ trung bình vào mựa hố vào tháng 7 là 28,3 °C, tháng lạnh 2. Sông Cấm dài trên 30 km là nhánh của sông Kinh Môn, chảy qua nội thành và đổ nhất là thỏng 1 :16,3 °C .Số giờ nắng trong năm cao nhất là các tháng mùa hè và thấp ra biển ở cửa Cấm. nhất vào tháng 2,độ ẩm trung bình trờn 80%,lượng mưa 1600–1800 mm/năm.Tuy nhiên thành phố cũng phải hứng chịu những đợt nắng nóng và đợt lạnh bất thường,năm 2011 Hệ thống giáo dục phát triển khá tốt (chỉ số giáo dục đứng thứ 3 toàn quốc với 4 trường nhiệt độ trung bình tháng 1 của thành phố xuống tới 12,1 °C, gần đây nhất ngày đại học, 14 trường cao đẳng, 22 trường trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề).
Đây 24/1/2016 thành phố trải qua ngày có nhiệt độ lạnh trung bình thấp kỷ lục, nhiệt độ thấp là nền móng để Hải Phòng cú thể tự giải quyết vấn đề nhân lực cho nhu cầu phát triển của nhất xuống tới 4,2 °C. Trung bình cả năm 23,4 °C. Ngoài ra, số lượng kiều bào người Hải Phòng tương đối đông (giai đoạn 2000 So với Hà Nội,thời tiết Hải Phòng cú một chút khác biệt,thành phố mất hơn khoảng gần - 2015, Hội liên lạc Việt kiều Hải Phòng đó quy tụ được trên 1.500 hội viên và thân nhân 1 độ vào mùa hè và lạnh hơn một chút về mùa đông,trong 30 năm gần đây do ảnh hưởng ở nhiều nước trên thế giới). biến đổi khí hậu nhiệt độ thành phố đang có xu hướng tăng lên.
Những khó khăn, thách thức Thỏch thức lớn nhất của Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay là mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển và nguồn lực cho phát triển có hạn. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VÀ XÃ HỘI : Nguồn nhân lực, mặc dù tăng nhanh về số lượng qua các năm, nhưng chất lượng chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế tri thức. Trình độ, kỹ năng của phần lớn đội ngũ *)Những khó khăn và thuận lợi của sự phát triển: lao động hạn chế, nhất là cỏc kỹ năng sáng tạo, kỹ năng làm việc nhóm. Cơ cấu lao động 1.
Những thuận lợi và cơ hội để phát triển kinh tế tri thức ở Hải Phòng chưa phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế tri thức. Đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên Thành phố Hải Phòng thuộc vựng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, có khoảng 125 km chiều cứu khoa học và triển khai ứng dụng khoa học và cụng nghệ vào sản xuất cũn hạn chế; dài đường bờ biển và trên 100.000 km2thềm lục địa, nằm trong hai hành lang, một vành liên kết giữa các tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệpyếu; chưa thu hút được nhân tài, đai hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc, hội tụ đầy đủ đường sắt, đường bộ, nhân lực chất lượng cao cho phát triển và áp dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất. đường không, đường biển nên có điều kiện rất thuận lợi để giao lưu, liên kết, hội nhập và Tốc độ đổi mới cụng nghệ ở một số ngành cụng nghiệp mũi nhọn cũn chậm. Kinh phí đầu hợp tác kinh tế với các địa phương, các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
tư cho đổi mới công nghệ mới đạt khoảng 3% doanh thu, đầu tư cho R&D đạt khoảng Hải Phòng cú lực lượng lao động tương đối lớn (số người trong lực lượng lao động từ 15 0,05% doanh thu, trong khi các công ty đa quốc gia, tỷ lệ này tương ứng thường là 10 - tuổi trở lên năm 2010 là 1,47 triệu người); so với nhiều tỉnh, thành, có nguồn nhân lực 15% và 2%. trình độ học vấn và tay nghề tương đối khá (năm 2012 có 136.470 người có trình độ đại Hạ tầng công nghệ thông tin - truyền thông phát triển nhanh nhưng chưa đồng bộ. Mức học, cao đẳng trở lên,đạt 734 người có trình độ cao đẳng, đại học/1 vạn dân. Trong số đó độ tin học hóa trong các ngành, lĩnh vực thấp.
Nguồn nhân lực công nghệ thông tin thiếu có 42 GS, PGS. Tỷ lệ lao động được đào tạo chuyên môn kỹ thuật tăng dần qua các năm. và yếu cả về số lượng, kỹ năng và trình độ ngoại ngữ. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn cũng chậm, sản xuất nông nghiệp, * Sự chuyển hoá về lối sống dàn trải (mật độ thấp)sang tập trung mật độ cao.
gây trở ngại cho việc áp dụng công nghệ mới để tăng năng suất cây trồng, vật nuôi. Tất cả những khó khăn và thách thức nêu trên đang là những trở ngại, tác động đến chiến lược *Sự khan hiếm nhà ở. phát triển kinh tế - xó hội của Hải Phòng, trong đó có mục tiêu phát triển kinh tế tri thức. *Sự quá tải các trung tâm công cộng.
LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI : I.