Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về sản xuất nội dung đa nền tảng của Đài Truyền hình Việt Nam cho đồng bào dân tộc thiểu số Chương 2: Thực trạng sản xuất nội dung đa nền tảng của Đài Truyền hình Việt Nam cho đồng bào dân tộc thiểu số Chương 3: Một số giải pháp để phát triển sản xuất nội dung đa nền tảng của Đài Truyền hình Việt Nam cho đồng bào dân tộc thiểu số 13 CHUONG 1: MOT SO VAN DE LY LUAN VA THUC TIEN VE SAN XUAT NOI DUNG DA NEN TANG CUA DAI TRUYEN HINH VIET NAM CHO DONG BAO DAN TOC THIEU SO 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tai 1. Sản xuất Theo Từ điển tiếng Việt, “Sản xuất là tạo ra vật phẩm cho xã hội bằng cách dùng tư liệu lao động tác động vào đổi tượng lao động, là hoạt động bằng sức lao động của con người hoặc bằng máy móc, chế biến các nguyên liệu thành của cải vật chất can thiết”. [13] Trước đây, thuật ngữ “Sdn xudt” chỉ có nghĩa là việc tạo ra các sản phẩm hữu hình.
Còn hiện nay, thuật ngữ này còn bao hàm cả việc tạo ra các sản phẩm dịch vụ. Theo đó, hệ thống sản xuất bao gồm 02 đặc tính chính: [8, tr.10] - Hệ thống sản xuất chịu trách nhiệm cho việc cung cấp các sản phẩm hay dịch vụ dé đáp ứng nhu cầu của con người và xã hội - Các hình thức sản xuất khác nhau có thể sẽ có đầu vào và đầu ra khác nhau hay các dạng chuyển hóa khác nhau. Song đặc tính chung của chúng vẫn là chuyên hóa các yếu tố đầu vào biến thành các kết quả đầu ra có tính hữu dụng cao và có ích cho đời sống con người. Nội dung Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác Lénin, “nội dung” được hiểu là phạm trù thé hiện sự tổng hợp tat cả những mặt, yếu tố và quá trình tạo nên sự vật.
Còn theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ “nội dung” được hiểu là mặt bên trong của sự vật, là cái được hình thức chứa đựng hoặc biểu hiện. [14] Nội dung có thé được truyền tải thông qua nhiều phương tiện khác nhau bao gồm: Internet, đài phát thanh, truyền hình, điện ảnh, điện thoại thông minh, sách điện tử, sách, tạp chí, CD âm thanh hay các sự kiện trực tiếp, bài phát biểu, hội nghị và biêu diễn trên sân khau,. 14 Hiểu một cách đơn giản hơn, “nội dung” là việc trình bày thông tin có mục dich và hướng tới khan giả thông qua một kênh hình thức nào do. Truyền hình Thuật ngữ truyền hình (Television) được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau do đó cũng có nhiều cách hiểu khác nhau.
Ở góc độ là loại hình truyền thông, “truyền hình” có thê được hiéu là một loại hình nằm trong hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng và có thê chuyên tải thông tin bang hình ảnh và âm thanh. Hình ảnh và âm thanh là ngôn ngữ chính dé tạo nên sự khác biệt giữa truyền hình với các loại hình truyền thông khác.7] Ở góc độ chiết tự từ, có một từ trong cả tiếng Anh và tiếng Pháp được dùng dé miêu tả thuật ngữ “truyền hình”, đó là “television”. Đây là từ gồm có hai âm ghép, trong đó “tele” với nghĩa là “xa” va “vision” nghĩa là “nhìn/xem”. Khi chúng ta ghép hai âm này lại với nhau để tạo thành một từ, có thể hiểu “truyền hình (television) là một hình thức xem từ xa”.7] Còn dưới góc độ kỹ thuật, “truyền hình” được hiểu là một hoạt động được vận hành theo một nguyên lý cơ bản như sau: Đầu tiên, hình ảnh và âm thanh về sự vật, sự việc, con người trong cuộc sống được camera ghi lại rồi biến đồi thành các tín hiệu điện.
Trong đó: - Tín hiệu hình mang thông tin về hình ảnh với độ sáng tối, màu sắc - Tín hiệu điện có tần số - mang thông tin về các âm thanh Sau đó những tín hiệu này sẽ được xử lý, khuếch đại và được truyền đi trên sóng truyền hình nhờ hệ thống máy phát sóng và dây dẫn. Cuối cùng, tại nơi nhận, máy thu hình tiếp nhận tín hiệu điện mang thông tin về hình ảnh và tín hiệu điện âm thanh, biến đổi ngược lại từ tín hiệu hình ảnh và âm thanh thành hình ảnh và âm thanh trên màn hình.7-8] Từ những khái niệm trên, theo tác giả, có thé hiểu “truyền hình” là mét loại hình truyền thông đại chúng có khả năng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh từ cuộc sống một cách chân thực nhất tới công chúng thông qua sóng truyền hình. Báo chí da nền tang Theo một nghiên cứu được đăng tải trên Tạp chí Người Làm Báo - Cơ quan lý luận nghiệp vụ của Hội Nha báo Việt Nam, thuật ngữ “da nên tảng (Multiplatfom)” được nhắc nhiều tại các Hội thảo Báo chí quốc tế từ năm 2010. Theo đó, báo chí đa nền tảng là xu hướng báo chí mà ở đó, người đọc có khả năng tiếp cận với tin tức trên tất cả các nền tảng kỹ thuật số khác nhau.
Trong bài nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, hiện nay có 3 nền tảng chiến lược, bao gồm: Website, ứng dụng đi động và mạng xã hội.244-245] Cũng cần phải khang định rằng, hiện nay khái niệm về “báo chí da nên tang” vẫn còn chưa được hiểu một cách thống nhất. Tựu trung lại có hai cách hiểu như sau: - Một là, bao chi đa nền tang là báo chí có thé sản xuất nhiều sản phẩm khác nhau với cùng một nguyên liệu và được đưa lên nhiều thiết bị, phương tiện tiếp nhận - Hai là, một sản pham báo chí được đăng phát trên nhiều thiết bị, phương tiện cùng lúc, thê hiện tính đa nền tảng cho từng loại hình báo chí. Và hiểu một cách đơn giả hơn, “báo chí đa nên tảng” là báo chí mà ở đó công chúng có thé tiếp cận thông tin mọi lúc, mọi nơi trên tat cả các nền tảng khác nhau và với những thiết bị khác nhau. Đề tiếp cận với thông tin, công chúng có thể lựa chọn việc đọc, nghe, xem thông tin từ báo giấy, báo điện tử hay đọc, nghe, xem trên nhiều thiết bị từ máy tính cho đến các thiết bị cầm tay như smartphone, iPad, „.
hoặc trên các trang mang xã hội như Facebook, Youtube, Tiktok,. Sản xuất nội dung đa nền tảng Dựa theo các khái niệm về thuật ngữ “nội dung” và “báo chi da nên tảng”, “nội dung đa nên tảng” được hiéu là những thông tin được đăng tải trên nhiều nền tảng khác nhau và công chúng có thê đọc, nghe, xem những thông tin này trên nhiều thiết bị điện tử khác nhau. Trong đó, nội dung đa nên tảng được xuất hiện tập trung ở 3 nền tảng chính là: Website, ứng dụng di động và mạng xã hội. 16 Từ khái niệm “sản xuất” và “nội dung da nên tảng”, có thể hiểu “sản xuất nội dung da nên tảng” là việc cung cấp, trình bay các thông tin có mục đích và hướng tới khán giả thông qua nhiều nên tảng số và các thiết bị đầu cuối khác nhau.
Dân tộc thiểu số Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam xuất bản vào năm 1995, dan tộc thiểu số được định nghĩa là dân tộc có số dân ít, cư trú trong một quốc gia thống nhất có đa dân tộc, trong đó, có một dân tộc có số dân đông. Những dân tộc thiểu số có thể cư trú tập trung hoặc rải rác xen kẽ ở những vùng xa xôi, hẻo lánh, vùng có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội còn khó khăn. Còn theo Đại từ điển Tiếng Việt xuất bản vào năm 1998, đân tộc thiểu số được hiểu là dân tộc có ít người. “Dân tộc it người là dân tộc có số dân ít cư trú trong cộng đồng quốc gia nhiều dân tộc (có một dân tộc đa s6) sống ở vùng hẻo lánh, ngoại vi, vùng it phát triển về kinh tế xã hội”.51] Trên thực tế, có thể nói, khái niệm đân tộc thiểu số chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dan số trong một Quốc gia có đa dân tộc.
Khái niệm dan tộc thiểu số không mang ý nghĩa phân biệt địa vị hay trình độ phát triển của các dân tộc. Địa vị, trình độ phát triển của mỗi dân tộc chịu sự chi phối bởi những điều kiện về kinh tế - chính trị - xã hội - lịch sử của từng dân tộc chứ không phải do số dân nhiều hay ít quy định. Trên cơ sở kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác — Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và xuất phát từ nguyên tac bình dang dân tộc, theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, khái niệm dân tộc thiểu số căn cứ theo khoản 2, Điều 4, Nghị định 05/2011/NĐ-CP [15], định nghĩa: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số đân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thé nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Sản xuất nội dung đa nền tang cho đồng bào dân tộc thiểu số Từ những khái niệm liên quan, có thé đưa ra một định nghĩa tổng quát về sản xuất nội dung đa nền tang cho đồng bào dân tộc thiểu số như sau: Sdn xuất nội dung đa nên tang cho đồng bào dân lộc thiêu sé là việc việc cung cấp, trình bay các 17 thông tin có mục đích và hướng tới đối tượng khán giả là dong bào dân tộc thiểu số thông qua nhiễu nên tảng số và các thiết bị đầu cuối khác nhau.
Quan điểm của Đảng, Nhà nước về lĩnh vực báo chí đối với vùng dân tộc thiếu số 1. Tổng quan về nhóm dân tộc thiểu số Theo “Kết quả điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019”, rên phạm vi cả nước, tính đến ngày 01/04/2019, có 5.468 xã vùng DTTS và miền núi, chiếm 49% tổng số xã của toàn quốc. Các xã vùng DTTS và miền núi phân bố chủ yếu ở khu vực nông thôn chiếm 87,3%, thuộc phạm vi quản lý của 503/713 huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, 54/63 tỉnh, thành phó trực thuộc Trung ương.37] Tính đến ngày 01/04/2019, quy mô dân số của 53 DTTS tại Việt Nam đạt 14,1 triệu người, chiếm 14,7% tong dân số cả nước. Trong đó, khu vực Trung du và miền núi phía Bắc là địa bàn sinh sống chủ yếu của người DTTS với 49,8% tổng số người DTTS (tương đương khoảng 7 triệu ngườ!).
Cơ sở hạ tang Về điện lưới Quốc gia, đến nay, hầu hết các thôn, xóm thuộc xã vùng DTTS đã được tiếp cận điện, đặc biệt là điện lưới quốc gia. Năm 2019; 98,6% số thôn thuộc các xã vùng DTTS đã được tiếp cận điện.