Chương 1 NHUNG VAN DE LÝ LUẬN VÀ PHAP LY VE BẢO DAM QUYEN DUNG TIENG NOI, CHU VIET CUA CAC DAN TỘC THIẾU SO Ở VIET NAM HIEN NAY 1. Những vấn đề lý luận về bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay 1.Khái niệm “dân tộc thiểu số”, “quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số” “bảo đảm quyền dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số” 1. Khái niệm dân tộc thiểu số Đề tìm hiểu về khái niệm dân tộc thiểu số, trước hết cần tìm hiểu về khái niệm dân tộc. Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, khái niệm dân tộc được định nghĩa như sau: Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là cộng đồng chính trị - xã hội được chỉ đạo bởi một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thé nhất định, ban đầu do sự tập hợp của nhiều bộ lạc liên minh, sau này của nhiều cộng đồng mang tính tộc người (ethnie) của bộ phận tộc người.
Tính chất của dân tộc phụ thuộc vào những phương thức sản xuất khác nhau. Bước vào giai đoạn công nghiệp rõ rệt nhất là ở các nước phương Tây, do yêu cầu xóa bỏ tính cát cứ của các lãnh địa trong một dân tộc nhằm tạo ra một thị trường thống nhất nên cộng đồng dân tộc được kết cau chặt chẽ hơn. Kết cau của cộng đồng dân tộc rất đa dạng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hóa trong khu vực và bản thân [16]. Từ định nghĩa nêu trên, có thé thấy khái niệm “đân tộc” ở Việt Nam còn mang nghĩa một “sắc tộc” (ethnic/ethnic group) theo quan niệm phô biến của cộng đồng quốc tế.
Khi sắc tộc này có tính chất “thiéu số”, nó được gọi là “dan tộc thiểu số ” (ethnic minority) theo cách gọi chung trên thế giới dé chỉ những nhóm sắc tộc có số dân ít và thường là yếu thế ở một quốc gia. Điều này cũng phù hợp với Từ điển Hán - Việt, theo đó “Dân fộc” có nghĩa là các sắc tỘc trong một quốc gia [1, tr. 201], còn “thiểu số” có nghĩa là số ít, ít oi [1, tr. Nhìn chung, nhận thức phổ biến của cộng đồng quốc tế cũng cho rằng, khái niệm “dân tộc thiểu số” được xác định căn cứ vào số lượng dân cư của dân tộc đó tính trên số dân của một quốc gia và những giá trị chung về văn hoá, xã hội.
Cụ thé, Tòa án công lý quốc tế thường trực (PCH — do Hội Quốc Liên thành lập) trước đây đã đưa ra ý kiến về tranh chấp giữa hai quốc gia là Hy Lạp và Bungari về việc cộng đồng nhập cư thiêu số của hai quốc gia này, theo đó PCH xác định: Cộng đồng thiểu số là một nhóm người sống trên một quốc gia hoặc địa phương nhất định, có những đặc điểm đồng nhất về chủng tộc, tín ngưỡng, ngôn ngữ và truyền thống, có sự giúp đỡ lẫn nhau, có quan điểm thống nhất trong việc bảo lưu những yếu tố truyền thống, duy trì tôn giáo, tín ngưỡng và hướng dẫn, giáo dục trẻ em trong cộng đồng theo tỉnh thần và truyền thống của chủng tộc họ [35]. Trong thời kỳ hiện đại, trong nghiên cứu công bố năm 1977 của Francesco Capotorti (Báo cáo viên đặc biệt của Tiểu ban về chống phân biệt đối xử và bảo vệ người thiểu số của Liên Hiệp Quốc) đã đưa ra định nghĩa “người thiểu số là một nhóm nguoi xét vé mặt số lượng it hơn so với phần dan cư còn lại của quốc gia, có Vị thế yếu trong xã hội”. Công ước của Liên Hiệp Châu Âu năm 1995 đưa ra khái niệm “Dân tộc thiểu số hàm ý một nhóm người từ một quốc gia khác đến cư trú trên lãnh thé của quốc gia thuộc liên hiệp Âu Châu và có quốc tịch của khói Au Châu” [49]. Từ những phân tích ở trên, có thê hiểu: Dân tộc thiếu số là những tộc người có số dân ít ở một quốc gia, có cùng một phương thức sinh hoạt kinh tế, tập trung sinh sống trên cùng một vùng lãnh thổ hoặc đan xen với nhiều dân tộc khác, có ngôn ngữ riêng, có thể bao gồm cả tiếng nói và chữ viết, dé giao tiếp và có những nét tương dong về nguon gốc, truyền thong văn hoá, tâm lý, xã hội và/hoặc tôn giáo, tín ngưỡng.
Khái niệm quyên dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số Vân dé tiêng nói, chữ viêt thuộc vê phạm trù ngôn ngữ. Ngôn ngữ có nhiêu hình thức biểu hiện như: hình thể, tiếng nói và chữ viết. Việc xuất hiện ngôn ngữ là tất yêu và cần thiết để phục vụ cho nhu cầu cung cấp và trao đổi thông tin trong cuộc sống hằng ngày. Có nhiều giả thuyết về sự hình thành ngôn ngữ của con người như thuyết tượng thanh, thuyết tiếng kêu, thuyết quy ước xã hội.song đều xem ngôn ngữ là “cái vỏ của tư duy”, là phương tiện dé thé hiện trình độ nhận thức và giao tiếp của con người.
Theo phép duy vật biện chứng với triết học Mác — Lênin, con người là chủ thể sáng tạo ra ngôn ngữ và đưa ngôn ngữ vào trong đời sống dé trở thành phương tiện phù hợp phục vụ cho việc nắm bắt, trao đổi thông tin của mình từ trong quá trình lao động, sản xuất, sinh hoạt và các quan hệ xã hội khác. Cụ thể, trong tác phẩm “Biện chứng của Tự nhiên”, Ph. Angghen đã viết: Trải qua hàng ngàn năm đấy tranh, bàn tay hoàn toàn khác với bàn chân, với tư thế con người đứng thăng dẫn tới việc con người hoàn toàn tách khỏi khi. Đồng thời với quá trình đó tiếng nói phát triển dẫn đến đầu óc người cũng phát triển và làm cho con người hoàn toàn khác con khi”,“Trước hết là lao động, rồi sau đó và đồng thời với nó là ngôn ngữ - đó là hai sức kích thích cơ bản nhất, do ảnh hưởng của chúng mà bộ óc của người vượn dan dan biến thành bộ óc của con người, tuy rất giống với bộ óc của loài vượn, nhưng lớn hơn và hoàn thiện hơn nhiều [10].
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã đề cập đến ngôn ngữ trong đó có chữ viết như sau: “Vì lẽ sinh tôn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sw dụng” [10, tr. Ngôn ngữ là dấu hiệu cơ bản và quan trọng để phân biệt tộc người này với tộc người khác. Ngôn ngữ cũng là phương tiện dé những người đồng tộc gan bó với nhau. Thông qua tiếng dân tộc (tiếng mẹ đẻ) là tiếng được tiếp thu từ thời thơ ấu được nghe, tiếp xúc, giao tiếp với các thành viên trong gia đình, cộng đồng sinh hoạt, các thành viên trong tộc người có thể hiểu, giao kết và cộng tác, phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau trong đời sống hàng ngày.
Chính vì vậy, việc sử dụng ngôn ngữ, cụ thể là tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình đã trở thành một quyền con người cơ bản, được pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia ghi nhận và bảo vệ. Khái niệm quyền ở đây được hiểu là những gi mà theo lẽ công bang, chính đáng một người hay một cộng đồng/nhóm người được hưởng, được làm, và được các chủ thé khác tôn trọng, bảo vệ, bảo dam. Cu thé, theo luật nhân quyền quốc tế, các dân tộc thiêu số, hay rộng hơn là các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo (minirities/minority groups) thuộc về những nhóm dễ bị tồn thương, cần phải được bảo vệ đặc biệt và có những quyền đặc biệt được bảo vệ bởi pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia, trong đó có quyền về TNCV. Điều 37 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR, 1966) quy định: Ở những quốc gia có nhiều nhóm thiểu số về sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ, những cá nhân thuộc các nhóm thiểu số đó, cùng với những thành viên khác của cộng đồng mình, không bị khước từ quyền có đời sống văn hoá riêng, quyền được theo và thực hành tôn giáo riêng, hoặc quyền được dùng ngôn ngữ riêng của họ [15].
Quy định này sau đó được tiếp tục khang định và phát triển trong Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ năm 1992 của Liên Hợp quốc. Tuy nhiên, đối với các quốc gia có nhiều nhóm dân tộc thì có một nhu cầu khách quan là cần xác định một hoặc một số ngôn ngữ như là chính thức để sử dụng trong các hoạt động hành chính, nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của các hoạt động quản trị công. Điều này là cần thiết và có lợi cho tất cả cả mọi người dân của quốc gia đó, bất ké thuộc sắc tộc nao, tuy nhiên cũng đồng nghĩa là có thé ngôn ngữ của một số nhóm dân tộc thiểu số sẽ không được sử dụng trong hoạt động quản lý nhà nước. Đây chính là lý do ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013, tại Điều 5, đã nêu rõ: “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt.
Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp cua minh”. 10 Từ những phân tích ở trên, có thé định nghĩa “Quyển dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số là khả năng mà các dan tộc thiểu số được công nhận, bảo vệ, bảo đảm việc sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của dân tộc mình và có thể trong hoạt động hành chính tuỳ theo điều kiện, hoàn cảnh của quốc gia”. Khái niệm và tam quan trọng của việc bảo đảm quyển dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số Theo nghĩa phổ quát, bảo đảm là việc tạo ra những điều kiện cần thiết dé hiện thực hoá một việc gì đó. Từ cách tiếp cận đó, có thé hiểu: Bảo đảm quyển dùng tiếng nói, chữ viết của các dân tộc thiểu số là việc thực hiện những cách thức, biện pháp theo quy định của pháp luật để bảo tôn, phát huy tiếng nói, chữ viết của các đân tộc thiểu số trong thực tiền.