phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo. Nội dung của luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo hƣớng trải nghiệm ở các trƣờng trung học phổ thông. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo hƣớng trải nghiệm ở các trƣờng trung học phổ thông trên địa bàn huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo hƣớng trải nghiệm ở các trƣờng trung học phổ thông trên địa bàn huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai.
7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP THEO HƢỚNG TRẢI NGHIỆM Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Rabơle (1494-1553), một trong những đại biểu xuất sắc của chủ nghĩa nhân đạo Pháp, đã có sáng kiến quản lý các hình thức giáo dục có nội dung “Trí dục, đạo đức, thể chất và thẩm mĩ” ngoài giờ học ở lớp bằng việc tổ chức các buổi tham quan xƣởng thợ, các cửa hàng, tiếp xúc với các nhà văn, các nghị sĩ, đặc biệt là mỗi tháng một lần thầy và trò về sống ở nông thôn một ngày để trải nghiệm thực tiễn cuộc sống. Pexxtalogi (1746 – 1827)- một nhà giáo dục lớn của Thụy Sĩ và ngƣời đƣơng thời gọi ông là “ông thầy của các ông thầy”.
Bằng con đƣờng giáo dục thông qua thực nghiệm ông muốn cứu vớt trẻ em mồ côi, con nhà nghèo. Nhân dân dựng tƣợng ông và ghi dòng chữ: “tất cả cho ngƣời khác, không gì cho mình”. Ông dựng ra “trại mới” giúp trẻ vừa học văn hóa, vừa lao động ngoài lớp, ngoài trƣờng học. Ông cho rằng hoạt động ngoài lớp không những tạo ra của cải vật chất mà còn là con đƣờng giáo dục toàn diện cho học sinh.
Ông quan niệm giáo dục gia đình đi trƣớc, giáo dục trƣờng học là sự tiếp nối “giờ nào sinh ra trẻ em thì giờ đó bắt đầu sự giáo dục”. Ăng-ghen (1820 - 1895) đã xác định mục đích của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa là đào tạo ra “Con ngƣời phát triển toàn diện”. Muốn vậy, phải quản lý đƣợc phƣơng thức giáo dục hiện đại là quản lý các HĐGD kết hợp với lao động sản xuất”. Lênin (1870 - 1924) là ngƣời tiếp tục sự nghiệp của C.
Anghen, ông đề cao vấn đề phát triển toàn diện con ngƣời. Việc hình thành con ngƣời phát triển toàn diện không chỉ là trách nhiệm của riêng nhà trƣờng 8 mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội, của gia đình, đoàn thể, và tự rèn luyện của thế hệ trẻ. Trong bài phát biểu nhiệm vụ của Đoàn thanh niên. Ngƣời nói “Chỉ có thể trở thành ngƣời cộng sản khi biết lao động và hoạt động xã hội cùng với công nhân với nông dân”.
Các nghiên cứu ở trong nước Sự nghiệp giáo dục đào tạo Việt Nam ngay từ khi ra đời: Bác Hồ-vị lãnh tụ thiên tài, nhà giáo mẫu mực của chúng ta đã đặt nền móng cho sự nghiệp giáo dục với phƣơng châm “Dân tộc - Khoa học - Đại chúng”. Chủ trƣơng trong việc giáo dục là phải chú trọng “Đạo đức cách mạng, giác ngộ XHCN, giáo dục văn hoá, kỹ thuật và lao động sản xuất”. Qua các giai đoạn phát triển khác nhau, tƣ tƣởng giáo dục toàn diện của Hồ Chí Minh và của Đảng ta đã chính thức là kim chỉ nam cho hành động phát triển giáo dục. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, thời chiến hay thời bình, thời kì giáo dục khó khăn nhất hay hƣng thịnh nhất thì sự nghiệp phát triển giáo dục vẫn luôn phải chú trọng đến giáo dục toàn diện cho học sinh.
Những tƣ tƣởng đó đƣợc thể hiện rõ trong nguyên lý “Học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội”. Đặc biệt trong giai đoạn đổi mới hiện nay, tƣ tƣởng giáo dục toàn diện cũng đƣợc thể hiện qua các mặt: Đức – Trí – Thể – Mỹ – Lao động nhằm hoàn thiện và phát triển nhân cách học sinh. Tại Đại hội XII của Đảng, vấn đề phát triển con ngƣời toàn diện là một trong những nhiệm vụ trọng tâm đƣợc lại tiếp tục đƣợc khẳng định “Phát huy nhân tố con ngƣời trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng 9 con ngƣời về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc”. Một trong những nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nƣớc 5 năm 2016-2020 là xây dựng “Con ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nƣớc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” và “Xây dựng con ngƣời Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lƣợc phát triển”.
Đây là quan điểm mới, phù hợp với thực tiễn phát triển văn hóa, con ngƣời Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng. Đây cũng là một bƣớc tiến quan trọng của Đảng khi không chỉ nhận thức đúng về yêu cầu tất yếu phải phát triển con ngƣời mà đã biến thành nhiệm vụ, thành hoạt động thực tiễn phải đƣợc thực hiện đồng bộ với các nhiệm vụ quan trọng khác trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nƣớc [29]. Theo Nghị quyết số 29 NQ-TW, Hội nghị trung ƣơng lần thứ 8 khóa XI, Quyết định số 2653 QĐ-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2014 của Bộ GD&ĐT về ban hành Kế hoạch hành động của ngành Giáo dục triển khai Chƣơng trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW: Chỉ đạo các cơ sở giáo dục và đào tạo đẩy mạnh đổi mới phƣơng pháp dạy học theo hƣớng phát triển năng lực cá nhân của ngƣời học, áp dụng các phƣơng pháp, kỹ thuật dạy học tích cực, chú trọng rèn luyện phƣơng pháp tự học; tăng cƣờng các hoạt động xã hội, nghiên cứu khoa học và vận dụng kiến thức vào thực tế [19]. Ở nƣớc ta, HĐGDNGLL đƣợc Bộ GD-ĐT đƣa vào chƣơng trình phân ban thí điểm THPT năm học 2002 - 2003 đáp ứng cho việc triển khai Nghị quyết số 40 2000 QH10 của Quốc hội và Chỉ thị số 14 2001 CT-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ về đổi mới nội dung, chƣơng trình, sách giáo khoa, phƣơng pháp dạy học, nâng cao chất lƣợng giáo dục phổ thông; và tiếp tục đƣợc triển khai cuốn chiếu bằng chƣơng trình phân ban đại trà với tất cả các trƣờng THPT từ năm học 2006 - 2007 cho đến nay [13].
Có thể nói, hầu hết các công trình nghiên cứu về HĐGDNGLL đều tập 10 trung vào đề xuất các biện pháp quản lý cũng nhƣ tổ chức thực hiện HĐGDNGLL tuỳ vào đặc thù của các loại hình trƣờng (trường trung học, trường phổ thông dân tộc nội trú), các cấp học khác nhau và các địa bàn khác nhau (từ thành thị đến nông thôn, từ miền xuôi đến miền ngược) nhƣ Luận văn thạc sĩ với đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trƣờng THPT Búng Lao huyện Mƣờng Ảng, tỉnh Điện Biên” của tác giả Đào Xuân Mạnh bảo vệ thành công năm 2015 tại Trƣờng Đại Học Giáo Dục, Đại học Quốc gia Hà Nội; Hay Luận văn “Quản Lý Hoạt Động Giáo Dục Ngoài Giờ Lên Lớp Theo Hƣớng Xã Hội Hóa ở Trƣờng THPT Tỉnh Vĩnh Phúc” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Thủy bảo vệ thành công năm 2017 tại Đại học sƣ phạm Hà Nội 2… Ngoài ra, với một lƣợng sách khá lớn về HĐGDNGLL, chủ yếu là sách dành cho GV ở các khối lớp, sách tham khảo cũng kịp thời ra đời để phục vụ cho việc tổ chức hoạt động. Chính vì đặc thù của quá trình giáo dục ở đây là tổ chức hoạt động nên hầu hết các sách đều thể hiện mục tiêu giáo dục, nội dung chƣơng trình, phƣơng thức tổ chức, trang thiết bị cho việc tổ chức, đánh giá kết quả hoạt động của học sinh và cách thức tổ chức các hoạt động đƣợc thực hiện theo chủ đề từng tháng của năm học nhƣ sách GV và tài liệu bồi dƣỡng GV thực hiện chƣơng trình, sách giáo khoa lớp 10, 11, 12 THPT- HĐGDNGLL của nhiều tác giả [24], [25], [26]. Các khái niệm chính của đề tài 1. Quản lý giáo dục 1.
Quản lý Quản lý tồn tại nhƣ một tất yếu khách quan từ khi loài ngƣời xuất hiện và ngày nay đã trở thành một khoa học, có vai trò quyết định đến sự thành công hay thất bại ở mọi lĩnh vực nhƣ chính trị, kinh tế, quân sự, giáo dục; Vì vậy, quản lý đƣợc thể hiện ở các cách tiếp cận khác nhau nhƣ: Theo Trần Kiểm “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc 11 huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức với hiệu quả cao nhất” [11]. Theo quan điểm hành vi (thuyết quan hệ con người) của Mary Parker Follett, quản lý là một quá trình động, liên tục, kế tiếp nhau; trong đó sự “phối hợp (coordination)” là điều kiện sống còn của sự quản lý hiệu quả qua hoạt động của ngƣời quản lý. Nhà quản lý cần phải xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với ngƣời thuộc cấp (tiếp xúc trực tiếp, thẳng thắn, chân tình) để lôi cuốn họ tham gia quá trình ra quyết định nhất là khi họ sẽ chịu ảnh hƣởng của chính những quyết định đó. Mặc dù có nhiều định nghĩa và ý kiến khác nhau, nhƣng xét trên tổng thể, phần lớn các nghiên cứu đã có một quan điểm chung đó là: Quản lý là sự tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức hoạt động có hiệu quả cao.
Quản lý có bốn chức năng cơ bản là: chức năng lập kế hoạch, chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo, chức năng kiểm tra. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục là quá trình thực hiện có định hƣớng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục để ra hoặc quản lý giáo dục là quá trình đạt tới mục tiêu trên cơ sở thực hiện có ý thức và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra. Theo tác giả Bush T. (Trong tác phẩm Theories of Educcation Management, PCP, London, 1995): Quản lý giáo dục, một cách khái quát, là sự tác động có tổ chức và hƣớng đích của chủ thể quản lý giáo dục tới đối tƣợng quản lý giáo dục theo cách sử dụng các nguồn lực càng có hiệu quả càng tốt nhằm đạt mục tiêu đề ra.