Tổng quan nghiên cứu

Quá trình xây dựng Nhà máy Thủy điện Tuyên Quang đã kéo theo cuộc đại di dân với quy mô 4.138 hộ, tương ứng 4.423 khẩu thuộc 88 thôn, bản (chiếm 29,5% tổng số thôn bản của toàn huyện Na Hang), di chuyển tới 125 điểm tái định cư tại 4 huyện trong tỉnh. Trong bối cảnh chuyển đổi không gian sinh tồn, vấn đề đảm bảo an sinh xã hội và cơ hội giáo dục cho con em các hộ tái định cư trở thành thách thức lớn đối với công tác xã hội và phát triển cộng đồng. Tại xã Phúc Thịnh, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, việc tiếp nhận 95 hộ gia đình tái định cư với 105 học sinh đang trong độ tuổi đến trường tại thôn An Thịnh và thôn An Quỳnh đã làm nảy sinh nhiều bất cập học đường.

Thực tế khảo sát cho thấy, dù mỗi hộ gia đình được nhận mức bồi thường bình quân 105 triệu đồng khi di dời, song do thiếu định hướng sinh kế dài hạn, tình trạng tái nghèo diễn ra nghiêm trọng. Hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo của nhóm cư dân tái định cư chiếm tới 73% tổng số hộ nghèo tại 2 thôn sở tại, kéo theo 44,76% (47 trên tổng số 105 em) học sinh rơi vào hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng giáo dục, xác định các rào cản thích ứng tâm lý - xã hội, từ đó đề xuất mô hình liên kết các hệ thống nguồn lực sẵn có trong cộng đồng nhằm hỗ trợ bền vững hoạt động học tập cho nhóm học sinh yếu thế này trong giai đoạn từ tháng 2/2014 đến tháng 8/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hai nền tảng lý thuyết chủ đạo của ngành Công tác xã hội để soi chiếu và giải quyết vấn đề:

  • Thuyết Nhu cầu của Abraham Maslow: Cung cấp thang đo 5 bậc thứ bậc nhu cầu (nhu cầu sinh lý, an toàn, xã hội, tôn trọng và tự khẳng định bản thân). Khung lý thuyết này giúp phân loại chính xác các thiếu hụt của học sinh tái định cư từ các nhu cầu vật chất thiết yếu như sách vở, dinh dưỡng, nước sạch đến các nhu cầu tâm lý bậc cao như sự hòa nhập, tự tin và khẳng định năng lực cá nhân trong môi trường học đường mới.
  • Thuyết Hệ thống trong Công tác xã hội (Allen Pincus và Anne Minahan): Tiếp cận cá nhân trong mối tương tác đa chiều với môi trường sống. Học sinh tái định cư được đặt tại vị trí trung tâm, chịu tác động qua lại từ 3 hệ thống nguồn lực: Hệ thống phi chính thức (gia đình, dòng họ, bạn bè bản địa), hệ thống chính thức (chính quyền xã, các đoàn thể, ban di dân) và hệ thống tập trung (nhà trường, trạm y tế).

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp 5 mô thức tiếp cận phát triển cộng đồng và chuẩn hóa các khái niệm công cụ then chốt gồm: Nguồn lực dựa vào cộng đồng (bao gồm nguồn lực vật chất, thiết chế chính trị - xã hội và nguồn nhân lực), Liên kết hệ thống nguồn lực, Hỗ trợ giáo dục toàn diện và Tái định cư bắt buộc theo tinh thần Nghị định số 197/2004/NĐ-CP của Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai từ tháng 2/2014 đến tháng 8/2014 tại xã Phúc Thịnh, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang với thiết kế nghiên cứu định tính chuyên sâu:

  • Quy mô và cơ cấu mẫu nghiên cứu: Thực hiện 23 cuộc phỏng vấn sâu cá nhân, bao gồm 5 học sinh thuộc hộ tái định cư (tiểu học, THCS, THPT và học sinh đã bỏ học), 4 phụ huynh tái định cư, 3 phụ huynh sở tại, 2 học sinh bản địa, 4 giáo viên (trường Tiểu học và THCS Phúc Thịnh), cùng 5 cán bộ lãnh đạo Đảng ủy, UBND xã, Trưởng thôn và Chi hội trưởng Phụ nữ. Đồng thời, tổ chức 4 cuộc thảo luận nhóm tập trung với 22 người tham gia (chia thành 4 nhóm độc lập: nhóm học sinh, nhóm người mẹ, nhóm cán bộ cơ sở và nhóm giáo viên).
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) kết hợp chọn mẫu theo tiêu chí đại diện. Kỹ thuật này bảo đảm lựa chọn đúng các chủ thể trực tiếp tham gia hoặc chịu tác động sâu sắc từ tiến trình di dân và quản lý giáo dục địa phương.
  • Kỹ thuật thu thập và phân tích dữ liệu: Sử dụng phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp từ 15 báo cáo kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện và nhà trường; quan sát không tham dự tại trường học và 3 điểm dân cư tái định cư; áp dụng công cụ Cây vấn đề (Problem Tree) và Ma trận xếp hạng ưu tiên nhu cầu trên biểu mẫu A0. Việc lựa chọn phương pháp phân tích định tính gắn với công cụ đánh giá có sự tham gia của cộng đồng (PRA) giúp bóc tách các tầng nguyên nhân gốc rễ, phản ánh chân thực tiếng nói của nhóm yếu thế mà các số liệu thống kê đơn thuần không thể hiện hết.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  • Phát hiện 1 - Tái nghèo kinh tế và sự suy giảm nguồn lực học tập gia đình: Có 27 trên 95 hộ tái định cư (chiếm 28,42%) thuộc diện nghèo và cận nghèo tại xã Phúc Thịnh. Trong đó, 57,14% (12 trên 21 hộ nghèo) xuất phát từ nguyên nhân thiếu vốn sản xuất và thiếu định hướng chuyển đổi nghề nghiệp sau khi tiêu hết số tiền đền bù bình quân 105 triệu đồng. Thu nhập bấp bênh khiến các gia đình không thể chu cấp chi phí học tập cơ bản cho con em.
  • Phát hiện 2 - Nguy cơ đứt gãy học vấn và thực trạng lao động sớm: Thống kê 105 học sinh tái định cư cho thấy có 15 học sinh (chiếm 14,29%) đã nghỉ học, bỏ học sớm và 11 học sinh (chiếm 10,48%) phải chuyển trường do điều kiện kinh tế khó khăn. Đáng lo ngại, nhiều học sinh từ 14 đến 18 tuổi phải làm thuê ca đêm cách nhà 15km tại các xưởng ép ván gỗ hoặc đi lấy củi kiếm sống, dẫn đến kiệt sức và sa sút kết quả học tập nghiêm trọng.
  • Phát hiện 3 - Rào cản thích ứng tâm lý và khoảng cách hòa nhập học đường: 100% học sinh tái định cư là đồng bào dân tộc thiểu số (chủ yếu là dân tộc Tày, Dao và H'Mông). Khoảng cách về lối sống khiến hơn 85% học sinh gặp khó khăn trong việc tiếp thu bài giảng, giữ thói quen đi lại tự do trong giờ học và biểu hiện sự tự ti, e ngại trong việc thiết lập mối quan hệ bạn bè với học sinh sở tại.
  • Phát hiện 4 - Sự đứt gãy liên kết giữa phụ huynh và nhà trường: Trên 70% phụ huynh tái định cư thừa nhận phó mặc toàn bộ trách nhiệm giáo dục cho thầy cô giáo. Tỷ lệ phụ huynh tham gia các buổi họp thôn và sinh hoạt phụ huynh định kỳ chỉ đạt dưới 40%, bắt nguồn từ áp lực mưu sinh và tâm lý mặc cảm thân phận di dân.

Thảo luận kết quả

Khi trực quan hóa dữ liệu qua biểu đồ cột chồng về tương quan giữa cấp học và tỷ lệ học sinh có hoàn cảnh khó khăn, kết quả cho thấy nguy cơ bỏ học gia tăng rõ rệt ở bậc THCS và THPT. Tại lớp 9A trường THCS Phúc Thịnh, điểm tổng kết môn học của học sinh tái định cư thấp hơn đáng kể so với mặt bằng chung, phản ánh lỗ hổng kiến thức tích lũy từ các năm học trước. Ma trận đối sánh mức độ ưu tiên nhu cầu giữa 4 nhóm thảo luận cũng chỉ ra sự đồng thuận cao: Nhu cầu hỗ trợ vật chất (học bổng, đồ dùng học tập) và nhu cầu phụ đạo kiến thức đứng ở 2 vị trí hàng đầu với tổng điểm đánh giá vượt trội.

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng này là do các chính sách tái định cư ban đầu chủ yếu tập trung vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật (xây dựng mới 7,26 km đường nông thôn loại A, 3,61 km đường nội đồng, lắp đặt bể nước 2m3/hộ) mà chưa chú trọng đầu tư vào hạ tầng an sinh xã hội mềm. Chính sách hỗ trợ học phí và học phẩm chỉ duy trì trong 3 năm đầu sau di chuyển, sau đó bị cắt giảm đột ngột khi các hộ dân chưa kịp ổn định sinh kế. Phát hiện này hoàn toàn tương thích với các nghiên cứu trước đây về sinh kế thủy điện của tác giả Đặng Nguyên Anh (năm 2007) và Trần Văn Đạo (năm 2011), đồng thời khẳng định việc thiếu vắng mạng lưới trợ giúp xã hội chuyên nghiệp sẽ đẩy trẻ em di dân vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo đói và thất học.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Thiết lập Mạng lưới liên kết hỗ trợ giáo dục đa thành phần cấp xã: UBND xã Phúc Thịnh chủ trì phối hợp cùng Ban Giám hiệu trường Tiểu học, trường THCS, Đoàn Thanh niên và Hội Khuyến học thành lập 01 Ban điều phối liên ngành; tổ chức tập huấn kỹ năng quản lý trường hợp cho 100% giáo viên chủ nhiệm và 11 trưởng thôn; đặt mục tiêu giảm tỷ lệ học sinh tái định cư bỏ học xuống dưới 3% trong năm học 2014-2015.
  • Triển khai Chương trình phụ đạo học tập cộng đồng và bảo trợ học phẩm: Hội Khuyến học và Đoàn Thanh niên xã phối hợp các trường học tổ chức 02 buổi phụ đạo văn hóa miễn phí mỗi tuần cho 31 học sinh THCS và 35 học sinh tiểu học; vận động nguồn lực xã hội hóa để cấp phát 100% sách giáo khoa, vở viết và miễn giảm các khoản đóng góp tự nguyện cho 47 học sinh thuộc diện nghèo và cận nghèo trong suốt năm học.
  • Xây dựng Mô hình tham vấn tâm lý học đường và giao lưu văn hóa: Chi đoàn thanh niên và Hội Phụ nữ 2 thôn An Thịnh, An Quỳnh tổ chức định kỳ 04 chuyên đề sinh hoạt ngoại khóa mỗi năm về kỹ năng sống, xóa bỏ định kiến và chống kỳ thị; thu hút trên 90% học sinh tái định cư và học sinh sở tại cùng tham gia sinh hoạt tại nhà văn hóa thôn nhằm tạo dựng môi trường gắn kết cộng đồng bình đẳng.
  • Thực hiện Gói tín dụng sinh kế gắn với cam kết duy trì việc học: Phòng Giao dịch Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Chiêm Hóa phối hợp UBND xã ưu tiên giải ngân nguồn vốn vay ưu đãi sản xuất cho 23 hộ nghèo tái định cư có con đi học; mở 03 lớp chuyển giao kỹ thuật trồng rừng keo trên diện tích 2.127,52 ha đất quy hoạch của xã trong giai đoạn 2015-2017, gắn điều kiện giải ngân với cam kết không để con em lao động sớm trước tuổi 18.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ quản lý giáo dục và Ban Giám hiệu các trường phổ thông vùng di dân: Tiếp cận quy trình sàng lọc, phân loại nhu cầu và xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân hóa; ứng dụng trực tiếp mô hình lớp học bổ trợ kiến thức dựa vào cộng đồng cho học sinh dân tộc thiểu số di dời tại các dự án thủy điện.
  • Chuyên viên Công tác xã hội và cán bộ Phát triển cộng đồng: Nắm vững phương pháp luận kết hợp Thuyết Nhu cầu Maslow và Thuyết Hệ thống; vận dụng bộ công cụ đánh giá có sự tham gia (PRA) và kỹ thuật Cây vấn đề để thiết kế các dự án can thiệp an sinh xã hội tại 125 điểm tái định cư trên địa bàn các tỉnh miền núi phía Bắc.
  • Nhà hoạch định chính sách an sinh xã hội và cơ quan quản lý di dân: Nhận diện rõ khoảng trống giữa chính sách bồi thường tài sản vật chất và chính sách phát triển vốn con người; sử dụng các bằng chứng thực tiễn để đề xuất kéo dài khung thời gian hỗ trợ giáo dục từ 3 năm lên tối thiểu 5 đến 10 năm hậu tái định cư.
  • Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Xã hội học, Công tác xã hội: Khai thác khung lý thuyết liên ngành vững chắc, phương pháp chọn mẫu mục đích và hệ thống số liệu thực địa tin cậy làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về nhóm dân cư dễ bị tổn thương.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao học sinh tại các điểm tái định cư thủy điện Tuyên Quang có tỷ lệ học lực yếu và bỏ học cao?

Nguyên nhân bắt nguồn từ sự cộng hưởng giữa áp lực kinh tế và rào cản văn hóa. Có 44,76% học sinh thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo phải đi làm thuê ban đêm cách nhà 15km để mưu sinh. Đồng thời, 100% các em là người dân tộc thiểu số, gặp nhiều trở ngại tâm lý khi hòa nhập môi trường mới, trong khi 57,14% phụ huynh thiếu vốn làm ăn nên không có điều kiện đầu tư học tập cho con.

Thang nhu cầu Maslow được ứng dụng như thế nào trong mô hình hỗ trợ giáo dục học sinh tái định cư?

Thang nhu cầu Maslow giúp phân tầng các giải pháp can thiệp có hệ thống: Bắt đầu từ đáp ứng nhu cầu thể chất (hỗ trợ sách vở, đồ dùng, cải thiện nguồn nước sinh hoạt), nhu cầu an toàn (chấm dứt tình trạng lao động đêm độc hại), nhu cầu xã hội (hòa nhập với 11 dân tộc bản địa), đến nhu cầu tự khẳng định (bồi dưỡng năng lực học tập, định hướng nghề nghiệp dài hạn).

Những hệ thống nguồn lực cộng đồng nào tại xã Phúc Thịnh đóng vai trò nòng cốt trong hỗ trợ giáo dục?

Ba hệ thống nguồn lực then chốt gồm: Nguồn lực vật chất (cơ sở hạ tầng 12 phòng học 2 tầng đạt chuẩn, Quỹ Khuyến học xã); thiết chế chính trị - xã hội (Đảng ủy, UBND, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Ban Quản lý 2 thôn); và nguồn nhân lực (đội ngũ 21 cán bộ giáo viên trường tiểu học, giáo viên trường THCS kết hợp lực lượng sinh viên tình nguyện địa phương).

Điểm khác biệt căn bản giữa luận văn này với các nghiên cứu tái định cư trước đây là gì?

Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào bồi thường giải phóng mặt bằng hoặc thống kê sinh kế thuần túy. Luận văn này đi sâu vào chuyên ngành Công tác xã hội học đường, tập trung vào đối tượng học sinh dân tộc thiểu số và đề xuất giải pháp kích hoạt nội lực sẵn có từ 11 thôn bản sở tại nhằm tạo ra sự trợ giúp mang tính bền vững thay vì cứu trợ thụ động.

Tại sao chính sách hỗ trợ giáo dục 3 năm đầu sau di dân lại bộc lộ nhiều bất cập?

Sau 3 năm, khi chính sách hỗ trợ học phí và đồ dùng học tập kết thúc, phần lớn các hộ tái định cư vẫn chưa phục hồi được nguồn sinh kế do cây rừng trồng chưa đến kỳ khai thác. Việc dừng hỗ trợ đột ngột khiến các hộ gia đình rơi vào khủng hoảng tài chính, dẫn đến việc 15 học sinh phải bỏ học và 11 em phải chuyển trường trong giai đoạn 2009-2014.

Kết luận

  • Khảo sát thực tiễn 105 học sinh thuộc 70 hộ gia đình tái định cư tại xã Phúc Thịnh, chỉ ra tỷ lệ hộ nghèo chiếm 44,76% cùng 24,76% học sinh đã bỏ học hoặc phải chuyển trường do rào cản sinh kế và tâm lý học đường.
  • Xác lập thành công khung lý thuyết can thiệp công tác xã hội liên ngành, kết hợp chuẩn xác giữa Thuyết Nhu cầu Maslow và Thuyết Hệ thống của Pincus - Minahan trong phân tích bối cảnh giáo dục vùng di dân.
  • Chứng minh tính cấp thiết của việc chuyển dịch mô hình hỗ trợ từ đầu tư hạ tầng kỹ thuật đơn thuần sang xây dựng mạng lưới an sinh xã hội mềm dựa vào nội lực cộng đồng.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp liên kết chặt chẽ giữa chính quyền xã, nhà trường, các tổ chức đoàn thể và gia đình học sinh nhằm đảm bảo điều kiện học tập toàn diện.
  • Đóng góp nguồn dữ liệu định tính phong phú từ 23 cuộc phỏng vấn sâu và 4 cuộc thảo luận nhóm tập trung, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy phục vụ hoạch định chính sách di dân thủy điện.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là xây dựng hoàn chỉnh mô hình liên kết các nguồn lực cộng đồng hỗ trợ giáo dục vùng tái định cư. Trong giai đoạn 2014-2015, chính quyền địa phương cần hoàn thiện ban điều phối liên ngành, tiến tới nhân rộng mô hình tại 125 điểm tái định cư toàn tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2015-2017. Các cấp quản lý, tổ chức xã hội và nhà trường cần chung tay hành động ngay hôm nay để bảo đảm quyền học tập bình đẳng, mở ra tương lai tươi sáng cho con em đồng bào di dân.