MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Tuyên Quang là một tỉnh miền núi nghèo với trên 20 dân tộc anh em cùng sinh sống như Tày, Nùng, Dao, H'Mông. Theo các số liệu báo cáo, thống kê của tỉnh thì hiện nay tại Tuyên Quang còn rất nhiều các hộ gia đình thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo và các hộ gia đình dân tộc thiểu số có điều kiện sống khó khăn. Do đó, học sinh thuộc các hộ gia đình này còn gặp rất nhiều vấn đề khó khăn, thiếu thốn và nhiều nhu cầu cơ bản chưa được đáp ứng.
Đặc biệt tại một số địa phương trong tỉnh còn một bộ phận dân cư là các gia đình thuộc vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang di dân, TĐC tại địa phương mới để phục vụ cho việc xây dựng nhà máy thủy điện Tuyên Quang. Theo kết quả thống kê của ban di dân thì tổng số có 4.138 khẩu phải di chuyển TĐC thuộc 88 thôn bản, tổ dân phố chiếm 29,5% so với tổng số 298 thôn, bản của toàn huyện Na Hang (nơi xây dựng thủy điện Tuyên Quang). Việc di dời, TĐC tại nơi ở mới kéo theo rất nhiều những thay đổi về phong tục, tập quán, nguồn sinh kế, lối sống, môi trường, văn hóa, giáo dục. Thực tế cho thấy đời sống của các hộ gia đình sau TĐC gặp khó khăn về nhiều mặt: việc làm, thu nhập, học hành của con em các hộ gia đình, việc học nghề của đa số người dân TĐC.
Nguyên nhân là do các dự án, các chương trình TĐC chỉ mới quan tâm chăm lo cho vấn đề nhà ở của người dân mà chưa chú trọng đến yếu tố kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội và môi trường khác. Trong đó vấn đề hỗ trợ giáo dục nhằm cải thiện trình độ học vấn và giải quyết các vấn đề khác tồn tại trong học đường của học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC vẫn chưa thực sự được quan tâm nhiều. Hiện nay, tại một số trường có điểm TĐC trong tỉnh vấn đề học vấn và các vấn đề tồn tại trong học đường đang diễn ra thực trạng cấp bách, rất đáng được quan tâm giải quyết như: tình trạng nghỉ học, bỏ học sớm, chuyển trường, kết quả học tập kém hay vấn đề hòa nhập ở trường.Do đó rất cần những chương trình, chính sách hộ trợ của tỉnh và chính quyền địa 1 (LUAN.Quang TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Quang phương, và hơn hết là sự quan tâm đặc biệt của các hệ thống nguồn lực trong cộng đồng nhằm giải quyết tình trạng này. Nhận thấy, công tác xã hội có thể ứng dụng phương pháp phát triển cộng đồng để hỗ trợ các hoạt động học tập, giải quyết các vấn đề tại học đường, đồng thời cải thiện tình trạng học vấn cho nhóm học sinh thuộc các hộ gia đình TĐC.
Cùng với việc sử dụng cách thức tiếp cận dựa vào cộng đồng, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Liên kết các hệ thống nguồn lực dựa vào cộng đồng nhằm hỗ trợ giáo dục cho học sinh thuộc các hộ gia đình tái định cư vùng lòng hồ thủy điện Tuyên Quang” (Nghiên cứu tại xã Phúc Thịnh – Chiêm Hóa – Tuyên Quang). Tổng quan vấn đề nghiên cứu Tại Việt Nam, từ khi chính sách đổi mới kinh tế năm 1986 của Đảng và Nhà nước được đưa vào thực hiện và có hiệu quả đã xuất hiện tình trạng di dân và số lượng di dân tăng đột biến vào những năm 1990 trở lại đây. Quá trình di dân tại Việt Nam đã kéo theo rất nhiều hệ quả. Trước hết là mặt tích cực, các loại hình di dân đã có tác dụng trong việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế – xã hội như tạo việc làm, tăng thu nhập, góp phần cải thiện đời sống cho người di cư cũng như gia đình của họ.rất nhiều hộ gia đình ở nông thôn có cuộc sống rất khó khăn, không có việc làm, nhưng sau khi di dân lên thành phố họ đã giải quyết được vấn đề việc làm, thu nhập và ổn định cuộc sống hơn.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm thì quá trình di cư này cũng đã để lại nhiều hậu quả đáng tiếc cho xã hội. Trước hết, vấn đề di cư đã gây xáo trộn dân cư cho cả nơi xuất cư và nhập cư, đồng thời việc di cư từ nông thôn lên thành phố tăng nhanh kéo theo các vấn đề về việc làm, nhà ở, các công trình công cộng cùng với nhiều tệ nạn xã hội khác. Đây là những vấn đề bức xúc cho toàn xã hội. Trước những thực trạng đó, đã có rất nhiều nhà khoa học đã tiến hành các nghiên cứu về vấn đề di cư trong nước để đưa ra những biện pháp hữu hiệu nhất cho sự phát triển bền vững.
Cho đến nay ở Việt Nam đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu khoa học về di dân. Nhìn chung, những công trình này đã nghiên cứu di dân trên nhiều lĩnh vực.Quang TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Quang Trước hết phải kế đến những nghiên cứu đưa ra được cái nhìn tổng quan nhất về di dân ở Việt Nam. Đầu tiên là nghiên cứu “Di dân của người Việt từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX” của Đặng Thu được đăng trên phụ san tạp chí nghiên cứu lịch sử, Hà Nội, khoa học xã hội, năm 1993; hay nghiên cứu của Guest, Philip về “Động lực di dân nội địa ở Việt Nam” năm 1998; và cũng phải kể đến nghiên cứu “Nghiên cứu di dân ở Việt Nam” do Đỗ Văn Hòa – Trịnh Khắc Thẩm cùng tiến hành nghiên cứu vào năm 1999. Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu chỉ xoay quanh những vấn đề như : Nguyên nhân, thực trạng, hệ quả của di cư, đặc biệt là những nghiên cứu về nguyên nhân chỉ mới xem xét trên góc độ kinh tế việc làm mà chưa đề cập nhiều đến những tác động về mặt văn hoá - xã hội hay vai trò của mạng lưới xã hội trong quá trình di dân.
Về sau đã có thêm nhiều nghiên cứu về di cư xem xét đến những góc độ khác như ảnh hưởng của yếu tố văn hóa – xã hội đối với di cư. Nổi bật trong số đó là nghiên cứu: “Vai trò của mạng lưới xã hội trong di dân” của tác giả Đặng nguyên Anh, đăng trên tạp chí xã hội học số 2 năm 1998. Có thể nói mạng lưới xã hội là một nhân tố quan trọng quyết định đến toàn bộ quá trình di cư. Ảnh hưởng của mạng lưới xã hội đối với di cư khác nhau theo đặc điểm cá nhân và hộ gia đình, cũng như khác biệt giữa nam và nữ.
Do đó, nghiên cứu về vai trò của mạng lưới xã hội đối với di cư đã chỉ ra được nguyên nhân, xu hướng di cư và sự hòa nhập của cư dân tại nơi chuyển đến. Liên quan đến vấn đề nghiên cứu này còn có đề tài “nhóm không chính thức của người lao động ngoại tỉnh ở Hà Nội” của tác giả Vũ Dũng đăng trên tạp chí tâm lý học. Một điều đáng quan tâm ở đây là những nghiên cứu này mới chỉ đề cập đến vai trò của mạng lưới xã hội như một nguyên nhân cũng như chức năng trợ giúp về chỗ ở, việc làm, thu nhập…lại rất ít hay chưa đề cập nhiều dến vấn đề tác động về mặt văn hoá xã hội như tác động về mặt nhận thức, tâm lý, tư tưởng, truyền thống, phong tục tập quán… Song song với vấn đề di dân thì việc TĐC tại nơi đến cũng được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Do đó, cũng đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến TĐC được tiến hành: 3 (LUAN.Quang TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Quang Đầu tiên phải kể đến nghiên cứu “Tái định cư bắt buộc” của Ngân hàng phát triển châu Á thực hiện năm 1995.
Theo nghiên cứu này thì việc TĐC bắt buộc được xác định như là chính sách đền bù và hỗ trợ ổn định lại cuộc sống. Một nghiên cứu nữa về vấn đề TĐC cũng rất đáng được quan tâm đó là “Tái định cư trong các dự án phát triển: chính sách và thực tiễn” của tiến sỹ Phạm Mộng Hoa và tiến sỹ Lâm Mai Lan, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 2000. Đây là những nghiên cứu về các cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng TĐC nói chung. Ngoài ra cũng có những nghiên cứu về sinh kế của người nghèo TĐC.
Cụ thể, năm 2007, Trung tâm Hành động vì Sự phát triển Đô thị thực hiện dự án "Nghiên cứu về sinh kế của người nghèo sau tái định cư tại Hà Nội” với sự tài trợ của Mennonite Central Committee (MCC). Nghiên cứu này xem xét việc làm thế nào người dân nghèo thích nghi với cuộc sống mới này, những khó khăn họ phải đối diện và họ cần được hỗ trợ như thế nào để phát triển sinh kế bền vững. Bằng phương pháp tiếp cận nhân chủng học, nghiên cứu đã có được một cái nhìn sâu vào đời sống của người nghèo thông qua những câu hỏi về cuộc sống hàng ngày của họ trước và sau khi TĐC. Hiểu được những điều này là nền tảng để xây dựng nên các chương trình phát triển hỗ trợ người nghèo TĐC.
Nghiên cứu hướng tới đối tượng độc giả là các tổ chức chính phủ và phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực phát triển đô thị. Đồng thời, các kết quả nghin cứu cũng sẽ là cơ sở để trung tâm hành động vì sự phát triển Đô thị xây dựng nên các chương trình hỗ trợ người nghèo ổn định TĐC. Những năm gần đây nước ta có nhiều công trình có quy mô lớn như thuỷ điện Sơn La, thuỷ điện Hoà Bình, thuỷ điện Bản Vẽ (Nghệ An), thuỷ điện Tuyên Quang. đòi hỏi phải di chuyển cả cộng đồng dân cư, làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống kinh tế, xã hội, truyền thống văn hoá của cộng đồng.
Đời sống của các hộ gia đình sau khi di dời, TĐC tại nơi ở mới tồn tại rất nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, xem xét. Chính vì vậy trong nước đã có nhiều nghiên cứu, đánh giá riêng liên quan đến nhóm hộ gia đình di dân do các dự án thủy điện Trước hết là một số nghiên cứu, đánh giá, bài viết chung về thực trạng đời sống 4 (LUAN.Quang TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Quang của các hộ dân sau khi TĐC tại nơi ở mới, như nghiên cứu “Chính sách di dân tái định cư các công trình thuỷ điện ở việt nam từ góc độ nghiên cứu xã hội” của PGS. Đặng Nguyên Anh được đăng trên tạp chí DS&PT (số 6/2007).