CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÁC MINH TÀI SẢN, THU NHẬP CỦA NGƯỜI …CÓ CHỨC VỤ QUYỀN HẠN TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của xác minh tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan hành chính nhà nước 1. Khái niệm về xác minh tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan hành chính nhà nước Xác minh tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn nói chung và xác minh tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan hành chính nhà nước nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là một trong những phương thức kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan nhà nước, là một trong những biện pháp phòng ngừa tham nhũng quan trọng, hiệu quả.
Phương thức này từ lâu đã được các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng quy định, điều chỉnh. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy rằng nội hàm về khái niệm xác minh tài sản thu nhập còn nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau và chưa có căn cứ chính xác để xác định, giải thích rõ ràng rằng xác minh tài sản thu nhập là gì. Vì vậy trong phần đầu tiên của đề tài, nhóm tác giả sẽ làm rõ khái niệm này một cách chính xác để làm cơ sở tiếp cận các quy định của pháp luật để đưa ra những kiến nghị đề xuất. Hiện nay, chính vì việc còn nhiều ý kiến khác nhau, nên khi nhóm tác giả làm rõ về khái niệm xác minh tài sản, thu nhập, sẽ sử dụng các phương thức sau: đầu tiên là tiếp cận từ từ điển tiếng Việt, thứ hai là từ các quan điểm của các tác giả nghiên cứu về vấn đề này, cuối cùng là từ các quy định của pháp luật hiện hành để từ đó đưa ra một khái niệm để nhận diện chính xác cho vấn đề xác minh tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan hành chính nhà nước.
Thứ nhất, theo từ điển tiếng Việt, hiện nay không có từ tiếng Việt nào định nghĩa cụ thể, chính xác về khái niệm xác minh tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan hành chính nhà nước mà chỉ có thể xác định theo nghĩa của từ, cụm từ. Theo Từ điển Tiếng Việt, xác minh là “làm cho rõ sự thật qua thực tế và chứng cứ cụ thể”1; tài sản là “của cải vật chất hoặc tinh thần có giá trị đối với chủ sở hữu”2; thu nhập là “nhận được tiền bạc, của cải vật chất từ một hoạt động nào đó”3, thu nhập chỉ tồn tại dưới hai hình thức là bằng tiền và tài sản có giá trị. Tiền có thể là tiền Việt Nam, ngoại tệ, tiền mặt, tiền séc,., tài sản có giá có thể là bất cứ của cải, vật chất nào có giá trị hoặc các chứng chỉ 1 Từ điển Tiếng Việt, tr. 2 Từ điển Tiếng Việt, tr.
3 Từ điển Tiếng Việt, tr. 4 có giá khác; chức vụ là “nhiệm vụ tương ứng với chức”4; quyền hạn là “quyền được xác định về nội dung, phạm vi, mức độ”5; cơ quan là “đơn vị trong bộ máy nhà nước hoặc đoàn thể, thường làm nhiệm vụ về hành chính, sự nghiệp”6; hành chính là “thuộc phạm vi chỉ đạo, quản lí việc chấp hành luật pháp, chính sách của nhà nước”7; nhà nước là “tổ chức, đứng đầu là chính phủ, quản lí công việc chung của một nước”8. Từ những định nghĩa của những cụm từ trên, có thể rút ra khái niệm xác minh tài sản, thu nhập của cơ quan hành chính nhà nước như sau: Xác minh tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan hành chính nhà nước là việc làm rõ những của cải vật chất, tiền bạc mà những người có nhiệm vụ tương ứng với chức vụ mà họ đang giữ, những người có quyền được xác định về nội dung, phạm vi, mức độ nhận được từ hoạt động làm việc cho đơn vị chỉ đạo, quản lý việc chấp hành luật pháp, chính sách của nhà nước qua thực tế và chứng cứ cụ thể. Theo những gì mà từ điển tiếng Việt định nghĩa thì khái niệm này chỉ là sản phẩm của ghép nối câu chữ và chưa làm rõ, chưa phản ánh chính xác được bản chất của vấn đề.
Khái niệm trên đã nêu rõ cụ thể từng định nghĩa của từ, giúp hiểu được cơ bản xác minh là gì, tài sản thu nhập là gì, người có chức vụ quyền hạn là gì và cơ quan hành chính nhà nước là gì, tuy nhiên nó có nhược điểm rất lớn là khó hiểu, chính sự dài dòng khi lắp ghép các định nghĩa của mỗi từ đã gây ra sự phức tạp, tối nghĩa khi đọc khái niệm này, dẫn đến việc không thể hiểu rõ, hiểu đúng, hiểu chính xác thế nào là xác minh tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan hành chính nhà nước. Thứ hai, chính vì những nhược điểm trên của khái niệm được tạo ra từ điển tiếng Việt, nhóm tác giả đã tiếp tục tiếp cận các công trình nghiên cứu, giáo trình, những bài báo khoa học để tìm câu trả lời chính xác nhất cho khái niệm xác minh tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan hành chính nhà nước. Theo công trình nghiên cứu Luận văn thạc sĩ Luật học “Pháp luật về kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Hoàng Nam Hải, tác giả có định nghĩa về kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn như sau: “Kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn là tổng thể những biện pháp, cách thức mà Nhà nước sử dụng để biết được biến động về tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, qua đó phát hiện, ngăn chặn việc người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để tham nhũng; áp dụng các biện pháp hình sự, hành chính, kỷ luật, dân sự để xử lý người có hành 4 Từ điển Tiếng Việt, tr. 5 Từ điển Tiếng Việt, tr.
6 Từ điển Tiếng Việt, tr. 7 Từ điển Tiếng Việt, tr. 8 Từ điển Tiếng Việt, tr. 5 vi tham nhũng và thu hồi tài sản tham nhũng.”9, từ đó có thể rút ra khái niệm về xác minh tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan hành chính nhà nước như sau: “Xác minh tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan hành chính nhà nước là việc làm rõ những biến động về tài sản, thu nhập của người người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan hành chính nhà nước, qua đó phát hiện, ngăn chặn việc người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để tham nhũng; áp dụng các biện pháp hình sự, hành chính, kỷ luật, dân sự để xử lý người có hành vi tham nhũng và thu hồi tài sản tham nhũng”.
Thực tế nghiên cứu đã cho thấy, việc nghiên cứu về xác minh tài sản thu nhập và định nghĩa khái niệm này là rất hạn chế hoặc không có, nên việc dựa vào các công trình nghiên cứu khoa học để hoàn toàn đưa ra khái niệm xác minh tài sản thu nhập của người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan hành chính nhà nước là thiếu cơ sở và thiếu khách quan. Cuối cùng, nhóm tác giả sẽ tiếp theo sẽ tiếp cận từ những quy định của pháp luật hiện hành, vốn là những căn cứ, cơ sở vững chắc nhất. Hiện nay, tại Điều 3 Luật PCTN năm 2018, mục giải thích từ ngữ không có định nghĩa thế nào là xác minh tài sản thu nhập của người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan hành chính nhà nước, tuy nhiên tại những luật khác có liên quan có quy định những nội dung sau đây điều chỉnh về vấn đề này. Nghị định 78/2013/NĐ-CP về minh bạch tài sản thu nhập, tại khoản 4 Điều 3 đã quy định: “Xác minh tài sản, thu nhập là việc xem xét, đánh giá, kết luận của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền về tính trung thực, chính xác của việc kê khai tài sản, thu nhập theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật phòng, chống tham nhũng và Nghị định này”.
Theo Điều 105, Bộ luật Dân sự năm 2015: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”. Theo khoản 2 Điều 3 Luật PCTN năm 2018 thì người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do tuyển dụng, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó, bao gồm: (i) Cán bộ, công chức, viên chức; (ii) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật, công nhân công an trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; (iii) Người đại diện phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp; (iv) Người giữ chức danh, chức vụ quản lý trong doanh nghiệp, tổ chức; (v) Những 9 Hoàng Nam Hải (2015), Pháp luật về kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn ở Việt Nam hiện nay, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.
6 người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ và có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó. Theo đó, có thể xác định cơ bản những người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan hành chính nhà nước sẽ thuộc nhóm thứ nhất là cán bộ, công chức, viên chức (được quy định cụ thể tại Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Điều 2 Luật Viên chức năm 2010). Điều 352 BLHS năm 2015 cũng quy định “Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ”. Như vậy, trên cơ sở tiếp cận khái niệm này theo ba quan điểm, một là từ điển tiếng Việt, hai là từ các quan điểm của các tác giả nghiên cứu, cuối cùng là từ các quy định của pháp luật hiện hành có những nội dung đã được thống nhất làm rõ.