chương 1 Sự phát triển của ba lĩnh vực: Sáng tạo học, Khoa học – kĩ thuật và giáo dục sáng tạo trong nhà trường có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau tích cực để cùng phát triển. Phát triển năng lực sáng tạo cho HS đã trở thành tâm điểm của mỗi quốc gia trong thế kỉ XXI. Dạy học vật lí theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực phát triển tư duy khoa học và năng lực sáng tạo cho học sinh đã có nhiều công trình nghiên cứu và ứng dụng vào thực tiễn thành công ở trên thế giới và ở Việt Nam. Năng lực sáng tạo của học sinh trong dạy học vật lí được hình thành, phát triển trên cơ sở các năng lực chung và các năng lực chuyên biệt môn Vật lí.
Giáo dục, dạy học trong nhà trường phải đáp ứng nhu cầu của xã hội, vì thế chuẩn các năng lực nói chung và năng lực sáng tạo nói riêng ngày một yêu cầu càng cao hơn. Để góp phần đóng góp về mặt lí luận và thực tiễn về việc phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học vật lí, chúng tôi nêu lên 5 vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án (5 vấn đề này trình bày ở mục 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VẬT LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 2. Sáng tạo và tư duy sáng tạo 2.
Khái niệm sáng tạo Theo từ điển tiếng Việt: “Sáng tạo là tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó phụ thuộc vào cái đã có sẵn” [58]. Theo từ điển triết học: “Sáng tạo là một quá trình hoạt động của con người tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần, mới về chất” [92, tr.Theo Bách khoa toàn thư Liên Xô: “Sáng tạo là một loại hoạt động mà kết quả của nó là một sản phẩm tinh thần hay vật chất có tính cách tân, có ý nghĩa xã hội, có giá trị” [87, tr. Từ các định nghĩa trên, sáng tạo có thể được xem như là một quá trình hoạt động tạo ra cái mới đối với sản phẩm. Quan niệm sáng tạo xem xét dưới góc độ đặc điểm của sản phẩm mới gắn với mục đích sử dụng, khái niệm sáng tạo được hiểu là: “Sáng tạo (Creation) là tạo ra giá trị mới, giá trị mới đó có ích hay có hại là tùy theo quan điểm của người sử dụng và đối tượng nhận hiệu quả của việc sử dụng”[68, tr.
17] “Sáng tạo là một sự vận động từ cái cũ đến cái mới tiến bộ hơn cái cũ xét theo mục đích của người nghiên cứu” [70, tr. 85] Đối với các nhà tâm lí học ngoài việc coi sáng tạo là quá trình tạo ra cái mới trong hoạt động của con người và sáng tạo của sản phẩm, có tính mới, tính hữu ích cho loài người, cho mọi người, thì sáng tạo được xem như năng lực, như đặc điểm nhân cách của người sáng tạo. Trong tâm lí học giáo dục, sáng tạo là một phẩm chất tư duy, sáng tạo là năng lực tạo ra cái mới, sáng tạo thường được hiểu là đẻ ra những ý tưởng mới, độc đáo, hữu ích, phù hợp với hoàn cảnh cụ thể. Trong lĩnh vực khoa học công nghệ, có hai dạng sáng tạo là phát minh và sáng chế.
- Phát minh là sự phát hiện ra quy luật của sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy. Những quy luật này đang tác động, đang tồn tại nhưng chưa một ai phát hiện ra trước đó. Phát minh là sáng tạo trong khoa học. - Sáng chế là con người dựa trên những kiến thức khoa học (định luật, nguyên lí, lý thuyết khoa học) và những kinh nghiệm thu nhận được trong cuộc sống, chế tạo ra sản phẩm phục vụ cho hoạt động của con người.
Sáng chế là sáng tạo trong lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ. 15 Phát minh, sáng chế là hai dạng sáng tạo có mối quan hệ hữu cơ thúc đẩy khoa học - công nghệ phát triển, là nhân tố không thể thiếu trong các cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật trước đây và hôm nay [12], [47], [65], [68]. Sáng tạo của con người đã xây dựng nên nền văn minh như hiện nay, nếu không có sáng tạo chắc chắn loài người vẫn đang sống như thời tiền sử. Tư duy sáng tạo 2.
Tư duy là gì? “Tư duy là giai đoạn cao của quá trình nhận thức đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí” [58, tr. 1034] Trong khoa học về tư duy có nhiều cách để phân loại, dựa vào dấu hiệu đặc trưng, có một số cách phân loại [88, tr. 4-9]: - Dựa trên lịch sử hình thành và phát triển tư duy, người ta chia tư duy thành các loại: Tư duy trực quan - hành động; tư duy trực quan - hình ảnh; tư duy hình tượng (tư duy ngôn ngữ - logic). - Dựa vào logic hình thức và logic biện chứng, có hai loại tư duy: tư duy logic và tư duy biện chứng.
- Dựa vào tính chất, kết quả của quá trình tư duy: vận dụng trong dạy học, người ta chia tư duy làm ba loại: tư duy tích cực, tư duy độc lập, tư duy sáng tạo. Tư duy tích cực là loại tư duy dựa vào tính tích cực nhận thức của HS trong quá trình học tập. “Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững tri thức” [33, tr. chia tính tích cực thành ba loại: Tích cực tái hiện, bắt chước; tích cực tìm tòi và tích cực sáng tạo.
Tư duy độc lập là loại tư duy dựa vào tính độc lập nhận thức của HS trong quá trình học tập. Tính độc lập là năng lực của HS tham gia hoạt động mà không có sự can thiệp bên ngoài. Theo nghĩa rộng, bản chất của tính độc lập là sự chuẩn bị tâm lí cho sự tự học, NCKH. Theo nghĩa hẹp, tính độc lập nhận thức là năng lực, nhu cầu học tập và tính tổ chức học tập, cho phép HS tự học.
Tư duy sáng tạo là tư duy tạo ra cái mới. Tư duy sáng tạo là tư duy có chứa tư duy tích cực và tư duy độc lập, nhưng không phải mọi tư duy tích cực đều là tư duy độc lập và không phải mọi tư duy độc lập đều là tư duy sáng tạo. 16 - Dựa vào dấu hiệu cấu trúc khác nhau của hiện thực, gồm có những loại tư duy: Tư duy hình tượng, tư duy kinh nghiệm, tư duy khoa học (tư duy lý luận). - Dựa vào các dấu hiệu đặc thù của đối tượng tư duy, có những loại tư duy như: Tư duy toán học, tư duy vật lí, tư duy ngôn ngữ, tư duy hội họa,… 2.
Tư duy sáng tạo Trong phân loại tư duy, tư duy sáng tạo là tư duy tạo ra cái mới. Theo Phan Dũng, “Suy nghĩ giải quyết vấn đề và ra quyết định (thinking for prolem solving and Decision Making) là tư duy sáng tạo” [12, tr. Dựa vào lí thuyết hoạt động tâm lí của A. Leonchiev, Phạm Thanh Nghị cho rằng “Tư duy sáng tạo cần được xem như một hoạt động giải quyết vấn đề mới gồm các thành tố động cơ, hành động logic và hành động trực giác…” [47, tr.
208] Cruxtexki quan niệm tư duy sáng tạo là kết hợp cao nhất, hoàn thiện nhất tư duy tích cực và tư duy độc lập. Nhiều nhà tâm lý học cùng J. Guilford coi tư duy phân kỳ (tư duy theo chiều ngang) là tư duy sáng tạo. Tư duy phân kỳ, theo J.
Tùy theo cách tiếp cận về sáng tạo, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các định nghĩa về tư duy sáng tạo. Theo chúng tôi khái niệm tư duy sáng tạo được hiểu như sau: Tư duy sáng tạo là tư duy tìm một cách giải quyết mới trong quá trình giải quyết vấn đề. Đó là quá trình tìm ra bản chất mới, hình thức mới, mô hình mới, phương pháp mới. Qua nghiên cứu người ta cũng đã khái quát được các yếu tố tạo thành tư duy sáng tạo như: (1) nhìn trước được vấn đề; (2) phương pháp giải quyết khác thường; (3) nhìn thấy được mối liên hệ cơ bản; (4) thay đổi hướng nghiên cứu; (5) phối hợp các yếu tố để tạo ra chức năng mới; (6) chuyển từ mô hình này sang mô hình khác; (7) nhìn thấy các giải pháp, các cách giải quyết khác nhau một cách tích cực; (8) nhìn thấy vấn đề mới nảy sinh từ các vấn đề cũ đã giải quyết; (9) biến được cái tư tưởng, quan điểm khác nhau trong một tình huống nào đó; (10) phân tích các hiện tượng, sự kiện theo một trật tự tối ưu/hệ thống; (11) tìm ra tư tưởng chung, khái quát hóa cao; (12) biết trước/ dự đoán trước kết quả.
Trong hoạt động tư duy không phải lúc nào tư duy sáng tạo cũng xuất hiện. Bởi vì, tư duy con người không phải chủ yếu là xác lập những liên hệ mới giữa các tri thức về hiện thực, mà còn là tạo lại (tái hiện) những liên hệ đã biết hoặc nhận thức các liên hệ đó theo dấu hiệu lĩnh hội đã biết từ trước. Chỉ ở một chừng mực nhất định, cá nhân 17 mới tự lực sáng tạo những tri thức mới mà không có sẵn mẫu hoặc không chịu theo mẫu. Như vậy là, có hai kiểu tư duy của cá nhân: Tư duy tái hiện và tư duy sáng tạo.
Trong quá trình nhận thức học tập, tư duy tái hiện giữ một vị trí quan trọng, vì nếu không thì không thể lĩnh hội một khối lượng nội dung kiến thức lớn của chương trình trong một thời gian ngắn. Dạy học ngày nay không chỉ cố gắng tăng tỉ trọng của tư duy sáng tạo mà còn đòi hỏi học sinh lĩnh hội tri thức bằng con đường tái hiện một cách sáng tạo. Nói cách khác phải tổ chức hoạt động nhận thức học tập tiếp cận với phương pháp nhận thức khoa học. * Đặc trưng của tư duy sáng tạo được các nhà nghiên cứu chấp nhận đó là tính độc đáo (Otyginali), tính mềm dẻo (Fluency), tính linh hoạt (Flexibility), tính nhạy cảm vấn đề (Problem sensibility) trong tư duy.
- Tính độc đáo của tư duy sáng tạo là phát hiện những mối liên hệ mới, những chức năng mới có tính lạ, hiếm thấy đối với sự vật, hiện tượng, thực tiễn.