Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức hệ thống thông tin kế toán tại đơn vi sự nghiệp y tế công lập Chương 2. Phương pháp nghiên cứu Chương 3. Thực trạng tổ chức hệ thống thông tin kế toán tại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên Chương 4.
Giải pháp hoàn thiện tổ chức hệ thống thông tin kế toán tại Bệnh viện Trung Ương Thái Nguyên 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN TẠI ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP Y TẾ CÔNG LẬP 1. Cơ sở lý luận về tổ chức hệ thống thông tin kế toán tại đơn vị sự nghiệp y tế công lập 1. Đơn vị sự nghiệp sự nghiệp y tế công lập 1. Khái niệm Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị do cơ quan có thẩm quyền của nhà nƣớc thành lập theo quy định của pháp luật, có tƣ cách pháp nhân, hoạt động thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thƣờng của các ngành kinh tế quốc dân.
Nhƣ vậy, bản chất hoạt động của các ĐVSNCL nói chung là hoàn toàn khác biệt so với các đơn vị khác. Các đơn vị này hoạt động trong lĩnh vực: y tế, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và môi trƣờng, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm. Các ĐVSNCL nhất thiết phải do Nhà nƣớc ra quyết định thành lập, nguồn tài chính để đảm bảo hoạt động do Ngân sách nhà nƣớc cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách. Theo Khoản 1, điều 2, chƣơng 1 Nghị định số 85/2012/NĐ-CP:“Đơn vị sự nghiệp y tế công lập” là tổ chức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập và quản lý theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, con dấu, tài khoản và tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán để thực hiện nhiệm vụ cung cấp dịch vụ công hoặc phục vụ quản lý nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn y tế như: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh; điều dưỡng và phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; kiểm nghiệm dược, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế; an toàn vệ sinh thực phẩm; dân số - kế hoạch hóa gia đình; sức khỏe sinh sản; truyền thông giáo dục sức khỏe (sau đây gọi tắt là đơn vị sự nghiệp y tế).
Đặc điểm kinh doanh dịch vụ và cơ chế tài chính có ảnh hưởng đến tổ chức hệ thống thông tin kế toán tại ĐVSN-YTCL a. Đặc điểm về hoạt động Về quy chế tổ chức và hoạt động: Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ đƣợc giao, các quy định của Nghị định này và Quy chế tổ chức và hoạt động mẫu do Bộ Y tế ban hành, các đơn vị sự nghiệp y tế 6 xây dựng Quy chế tổ chức và hoạt động của đơn vị, báo cáo cơ quan quản lý cấp trên phê duyệt. Bộ trƣởng Bộ Y tế quy định cụ thể nội dung mẫu của Quy chế tổ chức và hoạt động theo lĩnh vực chuyên môn y tế. Về kế hoạch hoạt động chuyên môn: Hàng năm, căn cứ vào Quy chế tổ chức và hoạt động, vào chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tế, đơn vị xây dựng kế hoạch hoạt động chuyên môn: a) Đối với đơn vị thuộc nhóm 1, nhóm 2: Đơn vị xây dựng kế hoạch hoạt động, gồm các chỉ tiêu, nhiệm vụ chuyên môn thuộc chức năng, nhiệm vụ đƣợc giao và các chỉ tiêu, hoạt động dịch vụ, báo cáo cơ quan quản lý cấp trên để đăng ký, làm cơ sở theo dõi, kiểm tra và giám sát việc thực hiện; b) Đối với đơn vị thuộc nhóm 3, nhóm 4: Đơn vị xây dựng kế hoạch hoạt động, gồm các chỉ tiêu, nhiệm vụ chuyên môn thuộc chức năng, nhiệm vụ đƣợc giao trên cơ sở năng lực phục vụ, ngân sách đƣợc giao và nguồn thu sự nghiệp của đơn vị và các chỉ tiêu, hoạt động dịch vụ (nếu có).
Cơ quan quản lý cấp trên giao kế hoạch hoạt động phần ngân sách và nguồn thu sự nghiệp, còn các hoạt động dịch vụ do đơn vị tự xây dựng và đăng ký thực hiện. Đơn vị sự nghiệp y tế đƣợc chủ động quyết định các biện pháp để tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động chuyên môn quy định tại Khoản 1 Điều này theo các quy định của pháp luật và phải bảo đảm các điều kiện về nhân lực, chuyên môn nghiệp vụ, cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định để thực hiện và cung cấp các dịch vụ đạt tiêu chuẩn, chất lƣợng. Đơn vị sự nghiệp y tế chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nƣớc có thẩm quyền về toàn bộ các mặt hoạt động của đơn vị. Bộ Y tế xây dựng và ban hành các hƣớng dẫn về chuyên môn và quy trình kỹ thuật; quy định về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; quy định các nhiệm vụ chuyên môn chủ yếu đối với các đơn vị y tế thuộc các lĩnh vực còn lại theo tuyến chuyên môn; quy định các nội dung, chỉ tiêu cơ bản trong kế hoạch hoạt động chuyên môn; xây dựng và ban hành các tiêu chí đánh giá kết quả hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn.
Đặc điểm về quản lý tài chính + Cơ chế tài chính đối với kinh phí chi thƣờng xuyên: Nguồn tài chính chi hoạt động thƣờng xuyên của các ĐVSN-YTCL gồm có các nguồn sau: (i) Ngân sách nhà nƣớc (đối với các đơn vị thuộc nhóm 3, nhóm 4); (ii) Nguồn thu sự nghiệp từ việc cung cấp các dịch vụ y tế; (iii) Nguồn thu từ việc cung ứng hàng hóa, dịch vụ theo cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công; (iv) Từ phần đƣợc để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nƣớc theo quy định của pháp luật; (v) Trích nộp của các cơ sở hạch toán độc lập trực thuộc đơn vị theo quy chế chi tiêu nội bộ; thu nhập đƣợc chia của các cơ sở nhận góp vốn liên doanh, liên kết… sau khi hoàn thành nghĩa vụ với ngân sách nhà nƣớc; (vi) Thu từ các hoạt động khác theo quy định của pháp luật (nếu có). (1) Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (ngoài bệnh viện phong, tâm thần) thuộc nhóm 3, nhóm 4 Do hiện nay, khoảng 70% số thu viện phí và BHYT thanh toán cho các bệnh viện là tiền thuốc, vật tƣ y tế ngƣời bệnh đã trực tiếp sử dụng trong quá trình điều trị, khoản thu này đƣợc thực thanh, thực chi theo giá mua vào và thực tế ngƣời bệnh đã sử dụng, nên về bản chất, khoản này chỉ là khoản thu hộ, chi hộ ngƣời bệnh, không tính lãi; chỉ còn khoảng 30% số thu là các dịch vụ, gồm tiền khám bệnh, tiền ngày giƣờng và các dịch vụ nhƣ chiếu, chụp, chẩn đoán hình ảnh, các xét nghiệm, các phẫu thuật, thủ thuật. Riêng các bệnh viện tuyến huyện, các bệnh viện ở vùng miền núi, khó khăn, số thu từ các dịch vụ còn thấp hơn nhiều, có nơi chỉ đƣợc 15 đến 20%. Nếu tính toàn bộ tiền lƣơng vào giá dịch vụ trong khi vẫn thực thanh, thực chi tiền thuốc và vật tƣ trong quá trình điều trị thì sẽ phải phân bổ tiền lƣơng cho các dịch vụ, do đó các bệnh viện càng cung cấp đƣợc ít dịch vụ (do trang bị chƣa đảm bảo, trình độ chuyên môn còn thấp, .) thì chi phí của dịch vụ càng cao, dẫn đến có tình trạng giá của bệnh viện tuyến dƣới lại cao hơn bệnh viện tuyến trên, miền núi, vùng khó khăn cao hơn thành thị, không khuyến khích ngƣời dân khám, chữa bệnh ngay trên địa bàn, trong khi vẫn phải có các bệnh viện tại vùng núi, vùng sâu, vùng xa để làm nhiệm vụ bảo đảm an sinh xã hội, khám, chữa bệnh cho nhân dân ngay tại địa bàn.
Vì vậy, ngân sách bảo đảm giai đoạn 2013-nay theo lộ trình sau: 8 (a) Năm 2013: Ngân sách nhà nƣớc tiếp tục bảo đảm nhƣ năm 2012 và kinh phí để chi trả chế độ phụ cấp đặc thù chƣa đƣợc tính vào giá dịch vụ y tế, kinh phí để thực hiện các chế độ, chính sách mới do Nhà nƣớc quy định theo nguyên tắc bảo đảm tốc độ tăng chi cho y tế cao hơn tốc độ tăng chi bình quân chung của ngân sách nhà nƣớc quy định tại Nghị quyết số 18/2008/QH12 ngày 03 tháng 6 năm 2008 của Quốc hội; (b) Giai đoạn 2014 – 2015: Ngân sách nhà nƣớc bảo đảm: – Chi phí duy tu, sửa chữa thƣờng xuyên tài sản cố định chƣa đƣợc kết cấu vào giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. – Chi phí về tiền lƣơng, các loại phụ cấp, các khoản đóng góp theo quy định hiện hành (sau đây gọi chung là Quỹ tiền lƣơng cơ bản): Ngân sách đảm bảo 100% Quỹ tiền lƣơng cơ bản cho các bệnh viện tuyến quận, huyện, 70% Quỹ tiền lƣơng cơ bản cho các bệnh viện tuyến tỉnh ở khu vực miền núi, Tây Nguyên và các bệnh viện quận thuộc Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, 50% Quỹ tiền lƣơng cơ bản cho các bệnh viện thuộc Trung ƣơng và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ƣơng còn lại; (c) Giai đoạn 2016 – 2017: Ngân sách nhà nƣớc bảo đảm 50% Quỹ tiền lƣơng cơ bản cho các bệnh viện tuyến quận, huyện; các bệnh viện còn lại đƣợc kết cấu 100% Quỹ tiền lƣơng cơ bản và chi phí duy tu, sửa chữa thƣờng xuyên tài sản cố định vào giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; (d) Mức ngân sách hỗ trợ quy định tại Điểm (b), Điểm (c) nói trên là tính chung cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc Bộ, ngành, địa phƣơng. Căn cứ vào tình hình thực tế, Bộ trƣởng, Thủ trƣởng cơ quan ngang Bộ quyết định mức bảo đảm cụ thể cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do trung ƣơng quản lý; Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định mức bảo đảm cụ thể cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc địa phƣơng quản lý. (2) Các đơn vị làm nhiệm vụ khám, chữa bệnh và nuôi dƣỡng ngƣời bệnh phong, tâm thần: Ngân sách nhà nƣớc bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động thƣờng xuyên của đơn vị theo cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công trên cơ sở số lƣợng đối tƣợng và mức chi cho các loại đối tƣợng đơn vị đã phục vụ.
9 Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính ban hành mức chi khám bệnh, chữa bệnh và nuôi dƣỡng ngƣời bệnh phong, tâm thần.