Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu + Chương 2: Thực trạng dạy học văn học nước ngoài ở trường trung học phổ thông + Chương 3: Quy trình dạy học theo hướng tiếp cận chuẩn đầu ra và xây dựng chuẩn đầu ra phần văn học nước ngoài trong chương trình Ngữ Văn 11, ban Cơ bản + Chương 4: Thực nghiệm tổ chức dạy học văn học nước ngoài ở trường trung học phổ thông theo hướng tiếp cận chuẩn đầu ra 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số học thuyết về quá trình học tập 1. Học tập và giáo dục Từ xưa đến nay học vẫn là mối quan tâm của mọi người trong xã hội. Học là tiếp thu tri thức và kinh nghiệm của người khác thông qua trao đổi, tương tác, bằng lời nói, chữ viết, hình ảnh.
Qua quá trình học tập, tri thức của người khác trở thành tri thức của từng các nhân và tri thức đó cộng với sáng tạo của mình người ta có thể tìm kiếm, sáng tạo ra các kinh nghiệm, tri thức khác. Việc chuyển giao lại những tri thức, những kinh nghiệm và những phát minh của chính mình cho người khác là việc dạy. Ngừời thực hiện việc chuyển giao tri thức là người thầy. Người lĩnh hội các tri thức là trò.
Ban đầu, học tập mang tính chất cá nhân, nhưng rồi trong xã hội dần xuất hiện các hình thức tổ chức học tập chung cho mọi người. Gần như trong toàn bộ các giai đoạn phát triển của lịch sử loài người, các cơ hội học tập cho mọi trẻ em không diễn ra trong trường học. Trẻ em trong thời kì săn bắn, hái lượm học cách quan sát và bắt chước người lớn. Ngay cả khi xã hội tiến sáng thời đại nông nghiệp thì cơ hội học tập đối với phần đông dân số vẫn là như cũ: quan sát và bắt chước người khác.
Tuy nhiên, việc học tập trong xã hội dù chưa có chữ viết đã tồn tại ngay từ thời kì đầu của loài người. Khi mà xã hội còn chưa có nhiều của cải, sản phẩm, chưa có nhiều phương pháp, cách thức sản xuất, thì mối quan tâm học tập của người ta là học về cách sống, học về cách làm người. Việc học tập này nảy sinh chính từ chỗ sống cùng thầy, sinh hoạt cùng thầy và do đó học bằng cách truyền tâm, học các kinh nghiệm trực tiếp cảm nhận từ thầy, từ cuộc sống của thầy mà không cần thông qua lời nói. Các trường phái thiền ở phương Đông như: Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam đã đi theo xu hướng này với các bậc thấy nổi tiếng như: Đức Phật, Bồ Đề, Đạt Ma, Mã Tổ, Đạo Nguyên…Việc 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học này có ích cho những người truy tìm chân lí, có ích cho việc nâng cao tâm thức và tinh thần xã hội, nhưng lại không tạo ra ích lợi trực tiếp cho xã hội vật chất.
Do đó, từ lâu nó vẫn là điều cao siêu và ít người đạt tới được. Khi xã hội phức tạp lên, xuất hiện các trường phái trường học. Tại Hi Lạp, xuất hiện các trường của Platon, Aristot,…mang tính hàn lâm, dạy về các lí luận khoa học và triết học, chưa dành cho học sinh nhỏ tuổi, không có bài tập và không có thi cử. Tại phương Đông, các đạo tràng được hình thành từ rất sớm để tạo môi trường phát triển tâm linh cho một số người đi vào tìm hiểu ý nghĩa thực của cuộc sống, đa phần là người lớn.
Còn với một số người học phương Đông thì có các trường học để dạy về văn học, lịch sử, thơ ca… Hình thức các lớp học trò có thầy dạy ở từng địa phương đã phát triển. Ở tầm quốc gia xuất hiện việc tổ chức khoa cử để tuyển chọn người vào bộ máy quan lại. Xã hội phong kiến sớm đưa việc dạy và học trở thành một chuẩn mực với yêu cầu các sĩ tử phải nắm vững, thuộc lòng các điển tịch được đưa ra làm mẫu cho việc học làm người, cho việc học để làm quan. Nhiều danh nhân nhà giáo dục lớn như Khổng Tử, Mạnh Tử của Trung Hoa, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm của Việt Nam đã mở trường đào tạo nhiều thế hệ học trò sĩ nhân.
Bản thân nhà nước phong kiến cũng tổ chức một hệ thống trường lớp mà cao nhất là Quốc Tử Giám để phục vụ cho việc giáo dục đào tạo… Hệ thống thi cử quan trường xuất hiện để tuyển chọn quan lại cho bộ máy hành chính, bên cạnh đó là việc xuất hiện nhiều lớp học phục vụ cho các thí sinh tham gia các kì thi này. Xu hướng học văn học, thơ ca, lịch sử, đạo đức con người, cách tề gia trị quốc… là xu hướng chính cho các hệ thống trường lớp cũng như cho các cuộc thi cử trong thời phong kiến. Nhiều người đã thành đạt trên con đường học tập và thi cử, trở thành quan lại trong bộ máy hành chính. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xã hội phát triển được đánh dấu bằng việc làm ra nhiều của cải vật chất, triển khai nhiều yếu tố trí tuệ của con người cụ thể bằng hàng hóa và phương pháp tạo ra hàng hoá.
Lúc này xuất hiện nhu cầu học nghề mưu sinh, kiếm sống dựa trên nhu cầu nhân lực của nền kinh tế và xã hội hàng hóa. Việc học nghề trong xã hội chịu ảnh hưởng lớn lao từ lĩnh vực người ta chọn lựa. Học trò trong xã hội này tới thầy để học về các kĩ năng, bí quyết nghề nghiệp trong sản xuất. Họ học bằng cách làm việc cạnh thầy hàng tháng hay hàng năm.
Yếu tố học làm người, học để làm quan ít dần đi, trong khi đó yếu tố học phương pháp, học nghề nghiệp tăng lên và trở thành nhu cầu phổ biến của xã hội. Việc giáo dục cho học sinh thường là: qua thực hành, qua áp dụng các kinh nghiệm của thầy để đạt được kết quả thông qua quan sát và tương tác với chuyên gia. Họ thường học qua việc phạm phải sai lầm và quan sát chuyên gia sửa những sai lầm cho mình (thử và sai). Việc tự học vẫn là chủ yếu.
Khi tính phức tạp của xã hội càng tăng thêm, nhu cầu của nền sản xuất xã hội đòi hỏi có những thế hệ mới lớn lên có những kĩ năng và hiểu biết nhất định về lao động và công tác, người ta thừa nhận xã hội cần phải cung cấp các cơ hội học tập cho số đông người lớn. Người ta thấy được nhu cầu là mọi người trong xã hội cần biết đọc, biết viết, làm phép toán số học, biết về quyền công dân cũng như các giá trị đạo đức. Điều này phát sinh khái niệm trường học công ở Mỹ và ở châu Âu, với việc nhà nước đứng ra đầu tư cho hệ thống giáo dục và phát triển trường lớp. Từ đó xã hội chấp nhận giáo dục là một thành tố quan trọng cần được các chính phủ trông nom phát triển.
Nhấn mạnh chủ yếu của xã hội là áp đặt mốt số hiểu biết và tri thức nhất định cho học sinh với thầy là người đại diện cho hệ thống cung cấp tri thức. Xã hội bắt đầu hình thành cơ chế giáo dục chuyên môn để dạy các tri thức nghề nghiệp, tri thức giao tiếp xã hội và các chuẩn mực đạo đức. Các xã hội phát triển cao, bên cạnh hệ thống giáo dục dạy những vấn đề văn hoá căn bản cho con người của xã hội, đã có thêm các cơ cấu đào tạo và giảng dạy về 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các nghề nghiệp mà xã hội cần. Nhưng hơn nữa, trong nền kinh tế tri thức, các công ti đã đầu tư làm ra nhiều sản phẩm tri thức, việc gìn giữ tri thức và phổ biến tri thức cho đội ngũ nhân viên của họ trở thành quan trọng và thực tế các công ti lớn đều hình thành bộ phận đào tạo, giảng dạy bí quyết, tri thức của riêng mình cho nhân viên.
Việc học tập trở thành yêu cầu tối quan trọng của mọi tố chức để không bị lạc hậu và đạt được ưu thế cạnh tranh. Xã hội tri thức mới mở ra trên nền tảng mọi tổ chức đều coi trọng việc học tập và sáng tạo tri thức, không phải là học để có bằng cấp mà học để làm việc mình đang làm tốt hơn, mang nhiều tính trí tuệ hơn. Khái niệm dạy học Trong lịch sử nghiên cứu và thực tiễn dạy học, có nhiều cách hiểu và lí giải khác nhau về dạy học tuỳ thuộc góc độ tiếp cận của người nghiên cứu. Có thể thấy có ba nhóm ý kiến chính sau [28, tr.16]: - Nhóm số 1, xem xét dạy học từ góc độ người dạy, vì vậy họ quan niệm dạy học là sự truyền đạt, cung cấp thông tin cho học sinh (Lý thuyết xử lí thông tin).
Người dạy có kiến thức gì thì cung cấp cho người học kiến thức đó. Người dạy là trung tâm của quá trình học. - Nhóm số 2 lại quan niệm dạy học xuất phát từ góc độ người học. Dạy là giúp người học lĩnh hội được những gì cần thiết theo nhu cầu của người học (Phái nhà trường mới).
Người học là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học. Người học cần gì thì người dạy thầy dạy cái đó. Người dạy có vai trò làm bộc lộ khả năng, nhu cầu, năng lực nhận thức của người học và đáp ứng những yêu cầu đó của học sinh. - Nhóm số 3 có cách nhìn dung hoà hơn.
Dạy học là công việc chuyên biệt của người dạy nhằm giúp người học học được. Dạy học là dạy cho người khác học không chỉ kiến thức khoa học mà cả những kĩ năng xã hội; dạy cho người khác học có ý chí, có nhu cầu, động cơ, có cảm xúc và khát vọng; học có chất lượng và hiệu quả cao; học có phương pháp, có mục đích; học thông 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com qua sự trao đổi, chia sẻ và hợp tác; học để đáp ứng yêu cầu của xã hội và nhu cầu phát triển của cá nhân người học. Dạy học được tạo ra bởi sự tương tác trực tiếp giữa người dạy và người học, giữa các người học với nhau, người dạy học với xã hội; là sự thống nhất chặt chẽ giữa hoạt động dạy và hoạt động học. Người dạy và người học vừa là chủ thể, vừa là đối tác trong dạy học.
Hơn nữa, trong dạy học, ngoài sự tương tác giữa các chủ thể hoạt động, bản thân nó còn chịu sự tương tác của nhiều tác nhân cùng lúc như tác nhân nhận thức, tác nhân văn hoá, tác nhân tâm lý, tác nhân xã hội,… [28, tr.