MỞ ĐẦU Tình trạng thiếu năng lƣợng trƣờng diễn (TNLTD), thừa cân (TC), hay béo phì (BP) đã và đang trở thành một nguy cơ sức khoẻ toàn dân. Tại các nƣớc đang phát triển trong đó có Việt Nam, tình trạng này đang tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây, tạo ra một gánh nặng kép về tình trạng dinh dƣỡng (TTDD) [14]. Mặc dù tỉ lệ TC và BP đang gia tăng trong tất cả các nhóm tuổi, thanh thiếu niên và ngƣời trƣởng thành hiện đang bị ảnh hƣởng nhiều nhất bởi BP. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, trên 1 tỉ ngƣời trƣởng thành trên toàn thế giới bị TC với BMI trên 25, trong số này, ít nhất 300 triệu ngƣời đƣợc coi là BP với BMI trên 30 [31].
Riêng tại Việt Nam, tỉ lệ ngƣời trƣởng thành bị TC-BP chiếm khoảng 26% với BMI trên 23 [44]. TC-BP gây một gánh nặng cho sức khoẻ cộng đồng, có liên quan đến nhiều bệnh mạn tính nhƣ tăng huyết áp, bệnh tim mạch, đái tháo đƣờng, trầm cảm và ung thƣ. Cùng tồn tại với tình trạng TC-BP, TNLTD tuy ít đƣợc quan tâm hơn nhƣng đây cũng là một vấn đề nan giải ở ngƣời trƣởng thành kéo theo nhiều hệ luỵ nhƣ ảnh hƣởng đến chất lƣợng công việc, học tập, gia tăng các nguy cơ gây bệnh tật, tử vong [27]. Bên cạnh đó, cùng với sự gia tăng tỉ lệ TC-BP ở ngƣời trƣởng thành thì tần suất tiêu thụ đồ uống có đƣờng của đối tƣợng này cũng gia tăng đáng kể [14],[18].
Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng, 50% ngƣời trƣởng thành tiêu thụ đồ uống có đƣờng ít nhất một lần mỗi ngày; con số này thậm chí còn cao hơn ở đối tƣợng trẻ em từ 12 đến 17 tuổi [20]. Hậu quả của việc tiêu thụ đồ uống có đƣờng quá mức là không thể chối bỏ, nhiều nghiên cứu đã ghi nhận việc gia tăng tần suất tiêu thụ đồ uống có đƣờng ở ngƣời trƣởng thành có thể thúc đẩy TC-BP và tác hại về lâu dài nhƣ sức khoẻ răng miệng, mắc các bệnh mạn tính không lây nhƣ đái tháo đƣờng type 2, tim mạch [25]. Sinh viên (SV) đƣợc cho là giai đoạn chuyển tiếp giữa trẻ vị thành niên và ngƣời trƣởng thành, đƣợc đánh dấu bởi những biến đổi quan trọng trong cuộc sống nhƣ việc sống xa gia đình hay sự độc lập trong quyết định. Nhiều nghiên cứu đã cho.
thấy TTDD cũng nhƣ các thói quen không tốt về dinh dƣỡng và lối sống đƣợc hình thành trong giai đoạn này có thể kéo dài và gây ảnh hƣởng đến những giai đoạn về sau. Chính vì vậy, SV là đối tƣợng rất cần đƣợc trang bị một nền tảng kiến thức dinh dƣỡng tốt, từ đó giúp hình thành thái độ tích cực và các thực hành dinh dƣỡng có lợi để đạt đƣợc tình trạng sức khỏe tối ƣu. Đại học Y Dƣợc Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHYD) và Đại học Kinh tế - Luật - Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHKT-L) là những đại học trọng điểm của cả nƣớc, cùng đào tạo ra thế hệ viên chức nồng cốt tƣơng lai, cùng mang sứ mệnh góp phần vào sự phát triển đội ngũ nhà khoa học và các chuyên gia, giảng viên, bác sĩ có trình độ, nghiệp vụ cao. Do đó, việc chú trọng vào chăm sóc sức khoẻ và nâng cao kiến thức của đối tƣợng này là vô cùng cần thiết.
Tuy nhiên, chƣa có nghiên cứu nào tìm hiểu đồng thời về TTDD và về tần suất tiêu thụ đồ uống có đƣờng của đối tƣợng này, dẫn đến sự thiếu khách quan trong quá trình đánh giá cũng nhƣ khó lòng can thiệp kịp thời các nguy cơ sức khoẻ. Chính vì lẽ đó, nghiên cứu “Tình trạng dinh dưỡng và tần suất tiêu thụ đồ uống có đường của sinh viên các trường đại học ở Thành phố Hồ Chí Minh” đƣợc thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng và cung cấp những thông tin cần thiết cho một chiến lƣợc can thiệp và dự phòng dài hạn, nhằm đảm bảo sức khỏe cho SV – một lực lƣợng lao động nồng cốt tƣơng lai của đất nƣớc. Câu hỏi nghiên cứu 1. Tỉ lệ TNLTD, TC, BP ở SV Đại học Y Dƣợc Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Kinh tế - Luật - Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021 là bao nhiêu? 2.
Tần suất tiêu thụ đồ uống có đƣờng ở SV Đại học Y Dƣợc Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Kinh tế - Luật - Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021 nhƣ thế nào? Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chung Xác định TTDD, tần suất tiêu thụ đồ uống có đƣờng và các yếu tố liên quan đến TTDD, tần suất tiêu thụ đồ uống có đƣờng ở SV Đại học Y Dƣợc Thành phố. Hồ Chí Minh và Đại học Kinh tế - Luật - Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021. Mục tiêu cụ thể 1. Xác định tỉ lệ TNLTD, TC, BP theo chỉ số khối cơ thể ở SV Đại học Y Dƣợc Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Kinh tế - Luật - Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021.
Xác định tần suất tiêu thụ đồ uống có đƣờng ở SV Đại học Y Dƣợc Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Kinh tế - Luật - Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021. Xác định mối liên quan giữa các yếu tố bản thân, gia đình, nhà trƣờng với TNLTD, TC-BP, tần suất tiêu thụ đồ uống có đƣờng ở SV Đại học Y Dƣợc Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Kinh tế - Luật - Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh năm 2021. DÀN Ý NGHIÊN CỨU BẢN THÂN Trƣờng Giới Xuất thân Số bữa ăn chính trung bình mỗi TẦN SUẤT SỬ DỤNG ngày ĐỒ UỐNG CÓ ĐƢỜNG Thói quen ăn sáng Không uống Lƣợng nƣớc uống trong ngày 1- 6 lần/tuần Nguồn gốc các bữa ăn 1 lần/ngày Tổng tiền chi cho ăn uống 1 lần/ngày Thói quen tập thể dục Bệnh mạn tính kèm theo Thời gian xem TV, laptop, điện thoại Quan tâm đến ngoại hình Căng thẳng trong cuộc sống NHÀ TRƢỜNG TÌNH TRẠNG GIA ĐÌNH DINH DƢỠNG Học lực theo BMI Chức vụ Thiếu năng lƣợng trƣờng Tham gia hoạt động ngoại khóa diễn Ngồi quán nƣớc học bài Bình thƣờng Ăn hàng với bạn bè Thừa cân Gia đình có ngƣời TC,BP Béo phì. Lý luận chung về tình trạng dinh dƣỡng 1.
Một số khái niệm và phân loại liên quan đến tình trạng dinh dƣỡng Từ lâu ngƣời ta đã biết có mối liên quan chặt chẽ giữa TTDD và tình trạng sức khoẻ. TTDD có thể đƣợc định nghĩa là tập hợp các đặc điểm cấu trúc, các chỉ tiêu hoá sinh và đặc điểm các chức phận của cơ thể phản ánh mức đáp ứng nhu cầu dinh dƣỡng. TTDD của các cá thể là kết quả của ăn uống và sử dụng các chất dinh dƣỡng của cơ thể. Số lƣợng và chủng loại thực phẩm cần để đáp ứng nhu cầu dinh dƣỡng của con ngƣời khác nhau tùy theo tuổi, giới, tình trạng sinh lý (mang thai, cho con bú, vv) và mức độ hoạt động thể lực và trí lực.
Cơ thể sử dụng các chất dinh dƣỡng có trong thực phẩm không những phải trải qua quá trình tiêu hoá, hấp thu, phụ thuộc vào các yếu tố khác nhƣ sinh hoá và sinh lý trong quá trình chuyển hoá. Việc sử dụng thực phẩm chủ yếu phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của cá thể, ví dụ cụ thể nhƣ việc tiêu chảy ảnh hƣởng tức thì đến tiêu hoá hấp thu thức ăn. TTDD tốt phản ảnh sự cân bằng giữa thức ăn đƣợc ăn vào và tình trạng sức khoẻ, khi cơ thể có tình trạng dinh dƣỡng không tốt (thiếu hoặc thừa dinh dƣỡng) là thể hiện có vấn đề về sức khoẻ hoặc dinh dƣỡng hoặc cả hai [12]. Thừa cân và béo phì Có nhiều khái niệm về thừa cân và béo phì, tuy nhiên Tổ chức Y tế Thế giới đƣa ra định nghĩa thừa cân và béo phì nhƣ sau: Thừa cân là tình trạng cân nặng vƣợt quá cân nặng nên có so với chiều cao.
Còn béo phì là tình trạng tích lu mỡ thái quá và không bình thƣờng một cách cục bộ hay toàn thể tới mức ảnh hƣởng xấu đến sức khoẻ [31]. Có nhiều cách phân loại BP, theo sinh bệnh học, theo hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu BP, theo vùng mô mỡ và vị trí giải phẫu [15],[35]. Theo sinh bệnh học, BP đơn thuần (BP ngoại sinh) là BP không có nguyên nhân sinh bệnh học rõ ràng. BP bệnh lý (BP nội sinh) là BP do các vấn đề bệnh lý liên quan tới béo gây nên: nội tiết, suy giáp trạng, cƣờng vỏ thƣợng thận, thiếu hormon tăng trƣởng, hội.
chứng tăng hormon nang buồng trứng, thiểu năng sinh dục, hay bệnh về não [15]. Theo hình thái của mô mỡ và tuổi bắt đầu BP, BP bắt đầu từ nhỏ (trẻ em, thanh thiếu niên) là loại BP có tăng số lƣợng và kích thƣớc tế bào mỡ, BP bắt đầu ở ngƣời lớn là loại BP có tăng kích thƣớc tế bào mỡ còn số lƣợng tế bào mỡ thì bình thƣờng, BP xuất hiện sớm là loại BP xuất hiện trƣớc 5 tuổi, BP xuất hiện muộn là loại BP xuất hiện sau 5 tuổi [35]. Theo vùng của mô mỡ và vị trí giải phẫu, béo bụng (béo trung tâm, béo phần trên, béo hình quả táo, béo kiểu đàn ông - thể Android) là dạng BP có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng bụng; béo đùi (béo ngoại vi, béo phần thấp, béo hình quả lê, béo kiểu đàn bà - thể Gynoid) là loại BP có mỡ chủ yếu tập trung ở vùng mông và đùi. Phân loại này giúp dự đoán nguy cơ sức khoẻ của BP: béo bụng có nguy cơ cao mắc và tử vong do các bệnh tim mạch, đái tháo đƣờng, tăng insulin máu, rối loạn lipit máu, không dung nạp glucose hơn so với béo đùi [35].
Thiếu năng lƣợng trƣờng diễn TNLTD là tình trạng cơ thể thiếu năng lƣợng kéo dài dẫn đến cân nặng cơ thể và dự trữ năng lƣợng cơ thể thấp. Những ngƣời TNLTD có tiêu hao năng lƣợng thấp đi thông qua giảm các hoạt động thể lực để thích ứng với tình trạng năng lƣợng ăn vào thấp hơn so với nhu cầu của cơ thể [16]. Tình trạng dinh dƣỡng của ngƣời trƣởng thành Trên thế giới, TC và BP là yếu tố nguy cơ thứ 5 gây tử vong với gần 2,8 triệu ngƣời trƣởng thành tử vong hàng năm. Bên cạnh đó, 44% bị BP, 23% thiếu máu cục bộ ở tim và từ 7% đến 41% mắc một số bệnh ung thƣ có nguyên nhân từ TC và BP.
Trong 3 thập kỷ từ năm 1980 đến năm 2010, số ca BP đã tăng gấp đôi trên toàn thế giới [15].