LỜI MỞ ĐẦU Ngay từ những năm 60 của thế kỷ 19 các Tập đoàn kinh tế đã nối tiếp nhau ra đời ở các nước tư bản. Đó là một tổ chức tiên tiến đại diện cho trình độ phát triển cao của lực lượng sản xuấtvà nền kinh tế xã hội, là các doanh nghiệp có quan hệ với nhau về công nghệ và lợi ích kinh tế. Ngày nay nhiều Tập đoàn kinh tế đóng vai trò chi phối và tác động mạnh mẽ đến toàn bộ nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới. Trong những năm qua , ở nước ta , quan hệ sản xuất đã có bước đổi mới phù hợp với tính chất , trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện cải cách toàn diện các doanh nghiệp Nhà nước, thực hiện lại việc sắp xếp các doanh nghiệp như: cổ phần hoá, bán khoán, cho thuê các doanh nghiệp Nhà nước. Trong công cuộc cải cách đó, Đảng và Nhà nước ta cũng chủ trương thành lập các TCTy với mục tiêu là hình thành nên những Tập đoàn kinh tế mạnh, kinh doanh trong những ngành, lĩnh vực kinh tế quan trọng của đất nước có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế. Đối với nước ta, mô hình công ti mẹ-công ti con là một khái niệm mới, một phạm trù mới trong lĩnh vực kinh tế học, tuy trên thế giới khái niệm về Tập đoàn kinh doanh và mô hình tập đoàn theo hình thức công ti mẹ-công ti con đã qua một thời gian phát triển .Trong bối cảnh toàn cầu hoá về kinh tế mạnh mẽ để tránh khỏi tụt hậu ngày càng xa , Việt Nam không thể đứng ngoài xu thế chung .Việc hình thành và phát triển các tổng công ty theo mô hình công ti mẹ-công ty con sẽ phát huy các ngành kinh tế mũi nhọn giúp nước ta hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Việc thành lập các tổng công ty theo mô hình công ti mẹ -công ti con đang đặt ra rất nhiều vấn đề mà Đảng , Nhà nước và các bộ ngành liên quan phải giải quyết.
Từ nhu cầu cấp thiết và tính chất quan trọng đó , chúng em đã đi sâu tìm 1 hiểu và nghiên cứu về vấn đề này trong đề án Kinh tế chính trị "Tính tất yếu khách quan và con đường hình thành công ty mẹ-công ty con ở Việt Nam " Do còn nhiều hạn chế nên đề án không tránh khỏi nhiều thiếu sót. Chúng em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ hướng dẫn tận tình của Tiến sĩ Lê Thục. Chúng em cũng rất mong nhận được sự góp ý của thầy để hoàn thiện hơn nữa đề án. Thay mặt nhóm sinh viên thực hiện Sinh viên Ngô Thuý Phượng 2 PHẦN I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ-CÔNG TY CON Ở VIỆT NAM 1.1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON.
Công ty mẹ là công ty có ít nhất một công ty con trở lên; có thể là Doanh nghiệp nhà nước, hoặc Công ty trách nhiệm hữu hạn, Công ty cổ phần. Công ty con là công ty có 100% vốn của công ty mẹ hoặc đa sở hữu trong đó có trên 50% vốn của công ty mẹ. Như vậy công ty con phải chịu sự kiểm soát ( chi phối ) của công ty mẹ Mô hình công ty mẹ - công ty con tồn tại chủ yếu dưới hai dạng sau: Một là, Công ty quản lý vốn : mục tiêu chủ yếu của công ty này là đầu tư vào các công ty khác. Cơ cấu tổ chức của nó bao gồm các bộ phận điều phối, lập kế hoạch và tiến hành kinh doanh trong pham vi các công ty con.
Hai là, Công ty quản lý hoạt động : là mô hình đặc trưng của công ty mẹ và công ty con của chúng. Công ty này có chức năng kinh doanh nhưng đồng thời sở hữu và kiểm soát nhóm các công ty con của nó. Các công ty được tổ chức thành các pháp nhân riêng được tham gia các giao dịch một các độc lập. Đặc điểm : Mặc dù tên gọi khác nhau, hình thức tổ chức của các công ty mẹ và công ty con khác nhau nhưng nói chung mô hình công ty mẹ công ty con có một số đặc điểm chung cơ bản như sau : Thứ nhất là, có quy mô rất lớn về vốn, lao đ ộng, doanh thu và phạm vi hoạt đ ộng.
3 Do công ty mẹ - công ty con vừa có sự tích tụ của bản thân doanh nghiệp lại vừa có sự tập trung giữa các doanh nghiệp. Vì vậy nó vừa nâng cao được trình độ xã hội hoá sản xuất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, vừa có năng lực cạnh tranh mạnh hơn các công ty riêng lẻ. Điều này thể hiện rất rõ, trước hết ở quy mô vốn của công ty mẹ - công ty con. Trong công ty mẹ - công ty con thì vốn được tập trung từ nhiều nguồn khác nhau, được bảo toàn và phát triển không ngừng, đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung vốn cho công ty mẹ - công ty con.
Nhìn chung các mô hình công ty mẹ - công ty con có hai con đường cơ bản để tạo ra vốn : Cách thứ nhất, tự tạo vốn theo con đường hướng nội là chủ yếu, bằng cách tích luỹ nội bộ nền kinh tế. Nguồn vốn chủ yếu là vốn nhà nước thông qua những cơ chế khác nhau: - Nhà nước cấp vốn ban đầu dưới dạng đầu tư trực tiếp hoặc góp vốn cổ phần lớn nhất. - Tạo cơ chế để công ty tự tích luỹ vốn như cho phép để lại tất cả hoặc một phần lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh, không đánh thuế thu nhập. - Cho vay tín dụng ưu đãi, cho phép huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu.
- Sát nhập, hợp nhất các công ty lớn cùng ngành nghề hoặc nằm trong cùng một quy trình công nghệ có liên quan đến sản phẩm cuối cùng trên cùng một địa bàn. Cách thứ hai, tạo dựng vốn theo con đường hướng ngoại là thu hút nguồn đầu tư thông qua các dự án đầu tư nước ngoài, liên doanh, liên kết, phát hành trái phiếu, cổ phiếu và vốn vay nước ngoài. 4 Với số vốn lớn, công ty mẹ - công ty con có khả năng chi phối và cạnh tranh mạnh trên thị trường , mở rộng nhanh chóng quy mô sản xuất , đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm và vì vậy đạt doanh thu lớn Một vấn đề nữa là về lực lượng lao động trong công ty mẹ - công ty con. Lực lượng lao động trong công ty mẹ - công ty con không chỉ lớn về số lượng, mà còn mạnh mẽ về chất lượng, được tuyến chọn và đào tạo rất nghiêm ngặt.
Phạm vi hoạt động của công ty mẹ - công ty con rất rộng, không chỉ ở phạm vi lãnh thổ một quốc gia, mà ở nhiều nước hoặc phạm vi toàn cầu. Với quy mô vốn lớn , nhiều lao động, áp dụng sự tiến bộ khoa học kĩ thuật hiện đại về thông tin liên lạc, phương tiện giao thông vận tải. các công ty mẹ - công ty con đã thực hiện phân công lao động trong nội bộ công ty mẹ - công ty con như bố trí các điểm sản xuất, xây dựng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, thậm chí cả các khâu khác nhau của sản xuất sản phẩm trên phạm vi toàn thế giới. Thứ hai là, các công ty mẹ - công ty con đ ều hoạt đ ộng kinh doanh đa ngành, đa lĩnh vực.
Chiến lược sản phẩm và hướng đầu tư luôn thay đổi phù hợp với sự phát triển của công ty mẹ - công ty con và môi trường kinh doanh, nhưng mỗi ngành đều có định hướng ngành chủ đạo , lĩnh vực đầu tư mũi nhọn với những sản phẩm đặc trưng của công ty mẹ - công ty con. Qua quá trình hoạt động, phát triển , quy mô và cơ cấu kinh doanh của công ty mẹ - công ty con dần được mở rộng , đa dạng hoá các loại hình kinh doanh, phù hợp với đòi hỏi của thị trường và sự phát triển của nền kinh tế. Bên cạnh những đơn vị sản xuất hoặc thương mại , các công ty mẹ - công ty con mở rộng các hoạt động sang lĩnh vực khác như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, nghiên cứu khoa học. Các công ty mẹ - công ty con hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực là để phân tán rủi ro, mạo hiểm vào các mặt hàng, các lĩnh vực kinh doanh khác nhau, bảo 5 đảm cho hoạt động của cả công ty mẹ - công ty con luôn được bảo toàn và hiệu quả, đồng thời tận dụng được cơ sở vật chất và khả năng lao động của công ty mẹ - công ty con.
Thứ ba là, các công ty mẹ - công ty con đa dạng về cơ cấu tổ chức , về sở hữu, về pháp nhân và thể nhân. Mô hình công ty mẹ - công ty con rất đa dạng về cơ cấu tổ chức và pháp lý. Nó có thể là loại hình hoạt động mà các công ty con vẫn giữ nguyên sự độc lập về tính pháp lý, việc huy động vốn và các hoạt động kinh tế được duy trì bằng các hợp đồng kinh tế, các chủ sở hữu nhỏ vẫn có quyền điều hành các công ty của mình và vẫn có tư các pháp nhân riêng của mình. Một loại hình khác của mô hình công ty mẹ - công ty con là việc các công ty con mất quyền độc lập về tính thương mại và sản xuất, các chủ sở hữu trở thành các cổ đông của "công ty mẹ".
Công ty mẹ - công ty con là một tổ hợp các công ty, bao gồm "công ty mẹ" và các "công ty con, cháu" phần lớn mang họ của công ty mẹ. Công ty mẹ sở hữu số lượng lớn vốn cổ phần trong các công ty con, nó chi phối các công ty con về mặt tài chính và chiến lược phát triển. Do vậy trong mô hình công ty mẹ - công ty con rất đa dạng về sở hữu. Cơ chế hoạt động.
Các công ty mẹ - công ty con là những doanh nghiệp độc lập , có tư cách pháp nhân, hợp tác theo nguyên tắc mọi thành viên đều bình đẳng trước pháp luật, không có quan hệ cấp trên, cấp dưới theo kiểu trật tự hành chính như các doanh nghiệp trong tổng công ty hiện nay, mà thông qua liên kết bằng vốn đầu tư hoặc các liên kết khác theo quy định của hợp đồng và điều lệ công ty.