ĐẶT VẤN ĐỀ Y học cổ truyền, có thể nói là nền y học được khai sinh đồng thời với sự xuất hiện loài người trên trái đất. Mậc dù có những bước thãng trầm theo lịch sử phát triển kinh tế, vãn hoá, y học của từng quốc gia nhưng những đóng góp to lớn của y học cổ truyền đối với sức khoẻ nhân loại ngày càng được thừa nhận ị 48]. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới, tính đến năm 1995 trong tổng số 50% số người trên hành tinh được chăm sóc sức khoẻ, có tới 80% được chăm sóc bằng y học cổ truyền [57]. Ngày 16/5/2002 TCYTTG đã đưa ra chiến lược toàn cầu về YHCT 20022005 trong đó mục tiêu cơ bản là làm cho YHCT được phổ cập rộng rãi, nhất là đối với những người nghèo.
Việt Nam là một trong những nước có truyền thống sử dụng YHCT lâu đời với những Danh y nổi tiếng như Hải Thượng Lãn Ông,Tuệ Tĩnh .YHCT Việt Nam là một di sản văn hoá quý báu của dân tộc đã giữ vai trò to lớn trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân, góp phần quan trọng trong việc xây dựng nền y học Việt nam “Khoa học- Dân tộc- Đại chúng” và có những đóng góp đáng kể đối với nền y học thế giới. Phát triển và sử dụng thuốc Nam và các phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc của YHCT tại các cơ sở và cộng đồng vẫn là mục tiêu chiến lược của ngành y tế trong thập kỷ tới để bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân trong cộng đồng [10]. Tuy vậy vào những năm cuối của thập kỷ 80, cùng với sự thay đổi lớn lao của đất nước trong thời kỳ đổi mới, thị trường cung cấp thuốc cũng trở nên phong phú, đa dạng. Các loại thuốc Tây y xuất hiện ngày càng nhiều, sử dụng YHCT tại các cơ sở y tế bị giảm sút dần [16].
Bên cạnh những ưu điểm nổi bật của thuốc Tây, việc sử dụng một cách chưa hợp lý các loại tân dược của cán bộ y tế và người dân cũng đã gây ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ, kinh tế của người dân, ảnh hưởng tới vấn đề công bằng và hiệu quả trong CSSK nhân dân. Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, hiện nay những chi phí cho điều trị bằng thuốc Tây đã vượt quá khả năng chi trả của người dân, đặc biệt là những người nghèo. [14], Việc sử dụng thuốc chữa bệnh làm 2 sao cho an toàn và hiệu quả, làm thế nào để thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong khi trên 30% dân số nước ta vẫn nằm trong tình trạng đói nghèo đang là vấn đề nan giải ở Việt Nam Lương Sơn là một huyện miền núi của tính Hoà Bình. Dân tộc sinh sống ở đây chủ yếu là người Mường (62,7%), Kinh (36,48%).
Đời sống kinh tế nhìn chung là thấp. Tỷ lệ hộ đói nghèo chiếm trên 30%. Theo báo cáo của trung tâm y tế huyện nãm 2001, tỷ lệ người dân khám chữa bệnh bằng YHCT tạị các cơ sở y tế nhà nước là 4,32%, một tỷ lệ còn rất thấp so với cả nước (30%) và đặc biệt thấp so với vùng miền núi, vùng sâu, xa và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, những nơi được coi như là có nhiều tiềm năng về YHCT [10], [42]. Vì sao tỷ lệ sử dụng YHCT tại huyện Lương Sơn lại thấp như vậy? Thực trạng sử dụng YHCT ở cộng đồng ra sao? Quan niêm và nhu cầu của người dân đối với YHCT như thế nào vẫn là những câu hỏi chưa có lời giải.
Xuất phát từ các lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng tới việc sử dụng Y học cổ truyền của người dắn huyện Lương Sơn- tỉnh Hoà Bình 2002.” 3 MUC TIÊU NGHIÊN cúư 1. Mục tiêu chung: Mô tả thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng tới sử dụng Y học cổ truyền của người dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình năm 2002. Trên cơ sở đó đề xuất một sô khuyến nghị phù hợp để phát triển sử dụng YHCT tại địa phương. Mục tiêu cụ thể: 2.
Mô tả thực trạng sử dụng Y học cổ truyền của người dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình nãm 2002. Xác định một sô' yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn sử dụng Y học cổ truyền của người dân tại huyên Lương Sơn, tỉnh Hoà Bình năm 2002. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sử dụng YHCT ở một số nước trên thế giới.
Lịch sử phát triển y học của các quốc gia đều bắt nguồn từ YHCT của từng dân tộc, Cho đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đều có kinh nghiệm sử dụng YHCT ở các mức độ khác nhau tồn tại dưới dạng tiềm ẩn, lưu truyền và cả thành văn trong cộng đổng nhân dân, Theo báo cáo của TCYTTG, tính đến năm 1995 trong tổng số 50% số người trên hành tinh được chăm sóc sức khoẻ, có tới 80% được chăm sóc bằng YHCT [56]. Nãm 1995 ở Australia, 48,5% dân số sử dụng ít nhất một loại hình chữa bệnh theo phương pháp YHCT, ước tính chi phí quốc gia cho YHCT và các liệu pháp chữa bệnh không dùng thuốc khoảng 1 tỷ Au$ hàng năm [58]. Năm 1991 doanh số bán ra của thuốc YHCT ở Mỹ ước tính khoảng 1 tỷ USD, một phần ba người Mỹ đã sử dụng YHCT, 60% dân sô' Hà Lan và Bí, 74% dân số Anh hài lòng với các phương pháp chữa bệnh theo YHCT [57]. TCYTTG cũng khẳng định “ Không cần phải chứng minh lợi ích của YHCT, mà cần phải đề cao và khai thác rộng rãi hơn nữa những khả năng của nó có lợi cho toàn thể nhân loại.
Phải đánh giá và công nhận cho đúng chân giá trị của nó và làm cho nó hữu hiệu hơn, chắc chắn hơn và rẻ hơn để sử dụng nhiều hơn. Đó là hệ thống mà dân chúng từ trước đến nay đã coi như của mình và chấp nhận không hạn chế. Hơn thế, dù ở đâu thì nó cũng có ưu điểm hơn những hệ thống nhập từ ngoài, vì nó là bộ phận không thể tách rời khỏi nền văn hoá nhân dân”. Cũng vì những lợi điểm trên của YHCT, ngày 16/5/2002 TCYTTG đã đưa ra chiến lược toàn cầu về YHCT 2002-2005 với mục tiêu là làm YHCT được phổ cập, nhất là đối với những người nghèo.
Y học cổ truyền khu vực Tây Thắi Bình Dương. Các hệ thống YHCT đang có giá trị hiện hành ở các quốc gia trong khu vực đều có chung một đặc tính và nhất là có một lịch sử lâu đời, thường là đã có từ nhiều thế kỷ nay. Đặc điểm địa lý nhiệt đới và cận nhiệt đới thích hợp cho sự phát triển của rất nhiều cây thuớc là nguồn dược liệu thiên nhiên vô cùng quý báu đối với người dân trong khu vực. Khu vực này có hai mô hình YHCT tổn tại: Mô hình thứ 5 nhất có tính thể chế cao dựa trên sự suy luân cổ điển trên nhiều bộ môn, trong các trường của nhà nước.
YHCT Trung Quốc và y học Hindu thuộc mô hình này. Mô hình thứ hai không rõ nét hom và kém tính thể chế hoá thường được sử dụng cho các dân tộc ở Nam Thái Bình Dưomg và vùng nông thôn Philipin, Malaysia. Các dạng YHCT này không được đào tạo một cách cổ điển mà thường được lưu truyền một cách bí mật liên quan đến các phong tục tôn giáo và mang tính chất thần bí. Thầy Lang cổ truyền ở khu vực này thường được coi như là một nhân vật quan trọng, được kính nể và thường có cùng nguồn gốc xã hội văn hoá với người bệnh.
Giá cả thấp, phưomg pháp chữa bệnh được cộng đồng chấp nhận nên người ốm thường tìm đến họ nhiều hom là tới các thầy thuốc Tây y. Các quốc gia thuộc khu vực Tây Thái Bình Dương được đánh giá là những nước có tốc độ khôi phục và phát triển YHCT nhanh trên thế giới. Rất nhiều các phương thuốc cổ truyền đã được ứng dụng trong các bệnh viện ở Trung Quốc, Nhật Bản, Lào, Mông cổ, Philipin, Triều Tiên, Singapo và Việt Nam [55]. Đồng thời những quớc gia này có nhiều chính sách và hành động tích cực nhằm đẩy mạnh việc sử dụng hợp lý an toàn và có hiệu quả thuớc YHCT, điển hình là Trung Quốc và Nhật Bản [57].
* Y học cổ truyền Trung Quốc. Là nền y học lâu đời trên thế giới với những học thuyết tạng phủ, kinh lạc, thiên nhân hợp nhất. đổ sộ và chặt chẽ. Y học cổ truyền Trung Quốc chú ý đến cả hai vấn đề là phòng và chữa bệnh.
Ngoài các cây, vị thuốc người Trung Quốc còn có phương pháp chữa bệnh hết sức độc đáo là châm cứu. Xuất hiện từ rất sớm, châm cứu được sử dụng để chữa khoảng 300 bệnh, trong đó châm tê phẫu thuật ngày càng được sử dụng rộng rãi [44]. Ngày nay, vấn đề kết hợp YHCT với YHHĐ đã là một trong những chủ trương chính của Trung Quốc trong phạm vi phát triển nền y tế quớc gia. Xây dựng một nền Trung y trên sự kết hợp đó, các thầy thuốc Tây y được đào tạo thêm nhiều về YHCT, các thầy Lang cổ truyền được đào tạo thêm về y học hiện đại, họ được tham gia các chương trình y tế của Nhà nước và được công nhận một cách chính thức.
Năm 1995 Trung Quốc đã có 2522 bệnh viện YHCT với 353.373 nhân viên y tế và 236.060 giường bệnh. Những bệnh viện này đã điều trị 200 triệu bệnh nhân 6 ngoại trú và 3 triệu bệnh nhân nội trú hàng năm. Đồng thời 95% các bệnh viện đa khoa ở Trung Quốc có khoa YHCT, hàng ngày điều trị khoảng 20% bệnh nhân ngoại trú [55]. Những số liệu trên cho thấy sự phát triển và tính phổ cập của YHCT tại đất nước này.
Trung quốc cũng là một quốc gia luôn áp dụng các tiến bộ của khoa học để giải thích, chứng minh các tác dụng của YHCT và đem lại kết quả khả quan. * Y học cổ truyền Nhật Bản. Kết hợp YHCT Trung Quốc và thuốc dân gian Nhật Bản từ hơn 1400 năm nay, YHCT Nhật Bản được biết đến với tên gọi Kampo gần đây được phát triển song song với Tây y. Một lý do giải thích cho hiện trạng này là thuốc Kampo không gây phản ứng, không có tác dụng phụ.
Ngoài ra y học Kampo còn đáp ứng được các yếu tố tâm lý, các giá trị tinh thần của người Nhật Bản. Hiện nay Nhật Bản được xem là nước có tỷ lệ người sử dụng YHCT cao nhất thế giới. Tính từ năm 1974-1989 sử dụng các loại thuốc YHCT (kampo) đã tăng 15 lần, trong khi đó các loại tân dược chỉ tăng có 2,6 lần.